Cho nên, bây giờ con đã hiểu rồi đấy, ta không có mẹ để chỉ bảo cho ta biết nên lấy ai, không nên lấy ai. Khác với con, dẫu cho đôi khi mẹ cũng chẳng giúp được gì cho con gái, bất kể là chuyện gì đi nữa.
Còn nhớ cậu thanh niên mà con từng nghĩ rằng thiếu cậu ta thì con không sống nổi không? Cậu ta tên gì ấy nhỉ? Luyến Địch (Lundie). Không nhớ ư? Cậu ta chính là người đầu tiên thu hút sự chú ý của con đấy. Có lần con còn dẫn cậu ta về nhà ăn cơm.
Ta nhìn thấy hết, cậu ta vừa mở miệng nói là con cười, nhưng sao lúc con nói thì cậu ta lại chẳng để tâm chút nào? Con bảo, ăn chút gì đi, cậu ta lại không nói, không, không, em ăn trước đi, tự em ăn chút đi trước đã. Cậu ta bảo, nhà em có bia không? Lúc ấy con rất ngượng ngùng, con bảo, xin lỗi, thực sự xin lỗi.
Sau đó ta bảo với con, phải cẩn thận, phải cẩn thận đấy. Con bảo, mẹ đang nói gì thế hả? Ta bảo, người đàn ông này trước hết là nghĩ đến bản thân anh ta, sau đó mới đến con, nói không chừng sau này vị trí của con còn bị đẩy xuống thứ ba, thứ tư, rốt cuộc con chẳng còn gì cả. Nhưng con lại không tin lời ta, thế là ta nói, nếu con cứ mở miệng ra là nói xin lỗi với cậu ta, đến cuối cùng con sẽ có lỗi với chính bản thân mình.
Con còn nhớ con đã nói gì với ta không? "Mẹ, sao mẹ cứ luôn nghĩ mọi chuyện theo chiều hướng xấu thế nhỉ?" Đây không phải là nghĩ theo chiều hướng xấu! Đây là ta lo nghĩ cho con gái mình, bởi vì nó vẫn chưa biết cách tự lo cho bản thân.
Sau này con không bao giờ nhắc lại tên cậu ta nữa, nhưng ta biết trái tim con đã tan vỡ. Con có lòng dạ tốt, cố gắng tự mình hàn gắn vết thương, cố gắng không để ta biết, cho nên ta chẳng nói gì, mà con cũng chẳng nói gì.
Ta sẽ không nói những câu kiểu như "Ta đã bảo con từ trước rồi" với con đâu, trái tim ta cũng vì con mà tan nát, bởi vì ta biết lòng tốt sẽ nhận lại cái gì. Khi còn trẻ, lòng dạ ta cũng rất tốt, ta không biết phải nhìn nhận một người như Văn Phúc thế nào, không biết tự suy ngẫm rằng, người đàn ông này sẽ khiến ta chịu nhiều khổ sở, người đàn ông này sẽ mài mòn sự ngây thơ vô tri của ta. Chính vì người đàn ông này, ta buộc phải luôn cảnh cáo con gái mình, phải cẩn thận, phải cẩn thận.
Lúc ta quen Văn Phúc, hắn ta đã tạt qua lại với cô em họ Hoa Trân của ta rồi, cô ấy là con gái của thợ cả Tân, chúng ta đều gọi cô ấy là "Đậu Phộng", bởi vì người cô ấy vừa lùn vừa mập, trông y như hạt đậu phộng bật ra từ lớp vỏ vậy. Con hiểu chứ, đáng lẽ ra người kết hôn với hắn phải là cô ấy, cho đến tận bây giờ ta vẫn không tài nào hiểu nổi, sao sau này người gả cho hắn lại là ta.
Hồi đó, ta ở nhà trên đảo Sùng Minh đã gần mười hai năm. Những năm tháng ấy, ta chưa từng nhìn thấy cha mình dù chỉ một lần, ngay cả khi ta được đưa đến trường nội trú ở Thượng Hải cũng chẳng gặp được ông. Mỗi lần ta trở về nhà chú, đều phải khép nép như một vị khách, chưa bao giờ đòi hỏi thứ này thứ nọ, chỉ đành chờ đợi có ai đó nhớ ra ta vẫn cần thêm những gì.
Ví dụ như, nếu ta cần một đôi giày mới, ta sẽ kiên nhẫn đợi cho đến khi có khách đến nhà, mọi người đều xuống lầu uống trà, thợ cả Lão và thợ cả Tân sẽ thong thả trò chuyện vài câu, tỏ ý rằng đời này các bà chẳng còn gì phải nhọc nhằn lo nghĩ nữa. Ta sẽ chớp lấy cơ hội ấy để đôi giày cũ phơi bày ngay trước mắt mọi người, ta khẽ gõ gõ chân, thợ cả Lão thường vì thế mà mắng ta, rồi ta lại đứng chờ, chờ bà ấy cùng toàn thể gia quyến và khách khứa đều nhìn thấy ngón chân cái của ta lòi ra khỏi lỗ rách, để rồi khuôn mặt bà ấy từ trắng chuyển sang đỏ.
Cho nên con thấy đấy, ta chưa từng cảm thấy mình là người trong gia đình họ, thế nhưng ta lại chỉ quen biết mỗi gia đình này. Họ đối xử với ta không hề hung dữ, thực sự không hề hung dữ, nhưng ta biết họ không yêu thương ta, không giống như yêu Đậu Phộng và các anh em họ của ta: Lúc ăn cơm tối, thợ cả Lão và thợ cả Tân sẽ bảo Đậu Phộng rằng, "Nhìn xem, đây là món con thích ăn đấy." Các bà ấy cũng sẽ bảo mấy đứa con trai nhỏ rằng, "Ăn nhiều chút, ăn nhiều chút, kẻo bị gió thổi bay mất." Thế nhưng các bà ấy chưa từng nói những lời này với ta. Các bà ấy chỉ chú ý đến ta khi muốn mắng ta, hoặc là mắng ta ăn quá nhanh, hoặc là mắng ta ăn quá chậm. Ngoài ra còn có sự đối xử khác biệt, mỗi khi ta và Đậu Phộng từ trường nội trú trở về, người chú luôn vụ lén đưa cho con bé một món quà nhỏ — nào là kẹo bánh, tiền lẻ, lông công, còn với ta thì sao, chú chỉ vỗ vỗ đầu ta, nói một câu "Vân Vân, đã về rồi đấy" là xong chuyện. Em trai ruột của cha đẻ ta, mà chẳng nghĩ ra được thêm lời nào để nói.
Đương kim là ta rất đau lòng, dẫu cho bây giờ có hồi tưởng lại chuyện cũ, ta vẫn rất đau lòng. Nhưng ta còn có thể oán trách ai đây? Ta đành phải gượng cười. Ta được sinh ra bởi một người mẹ có tiếng tăm không tốt, họ đã rủ lòng thu nhận ta. Chiếu theo tiêu chuẩn của họ, họ đối với ta đã là đủ tốt rồi. Họ không hề có ý định đối xử hung dữ với ta chút nào, một chút cũng không. Nói không chừng đây chính là lý do khiến ta cảm thấy đau lòng — họ hoàn toàn chẳng bận tâm đến ta. Họ quên mất rằng, ta không có mẹ, một người có thể nói cho ta biết cảm giác thực sự, nhu cầu thực sự, có thể dẫn dắt ta thỏa mãn những kỳ vọng. Trong gia đình này, ta học được cách chẳng trông mong điều gì, thế mà lòng vẫn tràn ngập khao khát.
Có một năm, mọi thứ hoàn toàn thay đổi. Năm đó vào đêm Chạp (lễ Táo quân) ta mười tám tuổi, mà qua đêm giao thừa thì mỗi người đều tăng thêm một tuổi, cho nên tính theo dương lịch có lẽ là năm 1937, dù thế nào đi nữa, đó là trước khi chiến tranh bùng nổ.
Năm mới là cơ hội để thay đổi vận mệnh. Chà, chúng ta không có Táo quân, không giống như dì Đỗ nhà con. Chúng ta dẫu nói là người nhà quê, nhưng lại không phải kiểu người nhà quê cổ hủ quá mức như thế, dĩ nhiên, nói không chừng đám gia nhân có một vị thần như vậy, ta không nhớ rõ nữa. Dù sao đi nữa, chúng ta vẫn có những phương thức cầu may mắn khác, có cái chỉ là đùa vui cho qua chuyện, có cái lại là làm thật. Ngày hôm ấy, ta lại mơ về một cuộc sống tốt đẹp hơn, tốt hơn cái gì nhỉ, ta không nhớ nổi nữa. Ta không muốn mơ trúng một triệu tệ, không giống như con chơi chứng khoán đâu, trong lòng ta chỉ có một nguyện vọng nhỏ nhoi, chính là mong có chút thay đổi gì đó. Có lẽ ta chỉ muốn đỡ cô độc hơn một chút, cho nên con xem, mọi chuyện cứ thế diễn ra, ta đụng phải Văn Phúc.
Chúng ta đón năm mới không giống như những gì con nhìn thấy ở Mỹ ngày nay, nào là diễu hành, bắn pháo hoa, phát tiền mừng tuổi cho trẻ con, cứ chơi đùa hết mình. Đó là một ngày để suy ngẫm. Theo thói quen ở chỗ chúng ta, khi năm mới đến, trong nhà không được sót lại dù chỉ một chút bụi bẩn của năm cũ, không được vướng mắc một món nợ cũ nào, trong suốt ba ngày liên tiếp miệng mỗi người không được thốt ra một lời nào không hay. Chính vì thế nên ta rất thích năm mới, dù thế nào đi nữa, thợ cả Lão cũng không thể mắng người. Nhưng ba ngày trước đó thì lại hoàn toàn khác, khắp nơi đều nghe thấy tiếng chửi mắng.
Buổi sáng lạnh lẽo cuối cùng của năm cũ, mặt trời vừa mọc, Đậu Phộng và ta đã có thể nghe thấy tiếng thợ cả Tân quát tháo gia nhân: Quét chỗ này đi, quét chỗ kia đi, không được làm thế, phải làm thế này!
Đậu Phộng và ta ngủ chung một chiếc giường, dĩ nhiên, chăn đắp của chúng ta là riêng biệt. Đâu giống như con bây giờ ở Mỹ, chúng ta hồi đó làm gì có nhiều chăn và ga giường đến thế, mà là chất đống tất cả mọi thứ lên người. Chúng ta dùng chăn quấn mình thành một cục, giống như hai cái kén tằm vậy, ấm áp lắm.
Sáng hôm đó, Đậu Phộng kéo chăn trùm lên đầu, muốn ngủ thêm một giấc nữa, nhưng đúng lúc này chúng ta nghe thấy tiếng thợ cả Tân đang gọi, "Đậu Phộng, con nha đầu lười biếng này, con đang ở đâu hả?"
Con hiểu chứ, sao bà ấy chỉ gọi Đậu Phộng, mà không gọi ta? Bà ấy đối với ta làm gì tốt đến mức cho ta ngủ nướng. Bà ấy muốn con gái mình dậy sớm dọn dẹp nhà cửa, để sau này Đậu Phộng biết cách trở thành một người vợ đủ tiêu chuẩn. Thợ cả Tân đời nào lại nghĩ đến chuyện ta cũng nên học hỏi những kỹ năng này cơ chứ. Nhưng ta đều quan sát rất kỹ, không ai dạy ta cách làm, ta vẫn có thể tự học để làm theo.
Ta biết cách rút chiếc chăn bông ra, cách phủi bụi, để có thể giặt sạch vỏ chăn mà không để lại một chút vết bẩn nào. Chân bàn phải dùng giẻ dầu lau lên lau xuống, thì gỗ mới sáng bóng như mới, không bị dính nhớt. Mỗi món đồ đều phải lôi từ góc tường ra — nào là rương hòm, tủ áo lớn — để rồi con sẽ phát hiện ra khắp nơi toàn là bụi bẩn, mạng nhện và rác rưởi do chuột tha đến. Ta cũng nghe được cách trách mắng gia nhân, thợ cả Tân cứ hay nói thế này: "Mày bảo đã dọn sạch hết rồi cơ mà, sao vẫn còn bẩn thế này?"
Rồi ta đi xem thợ cả Tân đang làm gì trong gian bếp, bà ấy đang dặn đầu bếp cắt thêm nhiều thịt và rau củ, sau đó bà ấy kiểm tra tất cả các nguyên liệu do bà ấy cung cấp. Bà ấy nhấc ước chừng trọng lượng của các bình dầu phộng, bình nước tương và bình giấm, từng bình một đưa lên ngửi. Bà ấy đếm những con cá nuôi trong chậu gỗ, gà vịt nhốt trong chuồng. Bà ấy dùng đũa chọc chọc vào món bánh nếp trộn nhân táo tàu, để xem thời gian hấp đã đủ chưa. Bà ấy trách phụ bếp để mỡ heo nổi váng quá nhiều trong canh nước dùng, trách người khác cách cắt mực: "Đồ ngốc! Mực xào lên phải cuộn tròn lại mới mang lại vận may, sao mày lại cắt thành từng dải vải thế này, xui xẻo lắm đấy."
Ta vì tương lai của mình mà học hỏi tất cả những điều này. Chà, khi con lớn lên, ta đã cố hết sức dạy con học làm những chuyện này. Nhưng con chưa từng nghe lời, con nói, "Chán chết đi được. Phiền phức quá. Con thà đi ăn bánh mì kẹp thịt của McDonald còn hơn." Đúng vậy, con đã nói thế đấy. Con có hiểu vì sao ta lại muốn học những thứ đó đến vậy không? Kể từ khi ta còn trẻ, ta đã biết mọi thứ đều phải trông đẹp mắt, nếm ngon miệng, phải tốt xứng đáng với thực tế. Chỉ có như vậy, mới có thể duy trì lâu dài, làm thỏa mãn khẩu vị của con, khiến con sau này có thể hồi vị mãi không thôi.
Hôm đó còn xảy ra chuyện gì nữa nhỉ? Ồ, ta nhớ ra rồi, ai cũng có việc phải làm, không chỉ riêng gia nhân. Ta phải sắp xếp cho xong số quần áo trong nhà. Ta đã phân loại chúng suốt một tuần nay, vá víu sửa sang, loại bỏ những dấu hiệu mang lại vận rủi — nào là đường chỉ lỏng lẻo, những chiếc lỗ rách nhỏ, chỗ bị tét rách, khuy và nút áo bị rơi mất. Sáng hôm đó, ta phải nhanh chóng làm cho xong những công việc này, mới có thể cùng Đậu Phộng ra chợ mua đồ.
Tối hôm trước, thợ cả Tân đã đưa khá nhiều tiền, dặn chúng ta ra các sạp hàng chuyên dụng ngoài chợ để mua quà năm mới. Ta lớn hơn Đậu Phộng một tuổi, nhưng thợ cả Tân không giao tiền vào tay ta, mà là đếm từng đồng từng cắc đưa cho con gái của bà ấy. Dĩ nhiên, Đậu Phộng nên chia lại cho ta một ít tiền, cho dù thợ cả Tân không nói, Đậu Phộng cũng nên làm như vậy. Nhưng ta đoán trước được Đậu Phộng sẽ làm gì, con bé sẽ nhanh chóng tiêu hết tiền vào những nhu muốn của riêng mình, bằng không thì nó sẽ nắm chặt tiền trong tay, để rồi cuối cùng khiến ta đành phải ngượng ngùng nhắc nhở nó.
"Hai đứa bây, làm việc cho nhanh tay lên, rồi hẵng đi," thợ cả Tân nói. "Mà đừng quên, tiết kiệm chút, đừng có tiêu xài bừa bãi." Điều này có nghĩa là, chúng ta phải mặc cả với chủ cửa hàng. "Đừng cho em trai con ăn nhiều kẹo quá đấy." Điều này có nghĩa là, chúng ta còn phải dẫn theo Tiểu Công mười tuổi và Tiểu Cao mười một tuổi đi cùng.
Ta mang công việc trên tay ra ngoài, cứ nghĩ rằng mình có thể ngồi trên chiếc ghế dài yên tĩnh ở cửa nhà, mơ về nguyện vọng thầm kín của mình. Nhưng quản gia lão Cố đã đứng trên bãi cỏ, đang chỉ bảo mấy tên thợ tạm thuê xem chỗ nào cần sửa chữa. Ông ta chỉ vào hàng rào đan bằng liễu đen bao quanh nhà chúng ta trông như cái lồng hấp lớn, có một tên thợ tạm lắc đầu, thò tay vào cái lỗ thủng to tướng do Tiểu Công học lái chiếc xe đạp mới đụng phải hồi hai tuần trước.
Sau đó, lão Cố lại chỉ vào khắp các nơi trong nhà, nói, "Gian Đông cũ, phải sửa thế này. Gian Tây mới, phải sửa thế kia." Ông ta đang nói về phong cách kiến trúc khác nhau ở hai đầu ngôi nhà này.
Gian Đông cũ là nơi mọi người ăn uống sinh hoạt hằng ngày, trẻ con sinh ra ở đây, người già qua đời ở đây. Nó là một căn nhà trệt kiểu Trung Hoa, ở giữa có một cái sân vuông vức, xung quanh là hành lang và lối đi. Tất cả cửa ra vào và cửa sổ đều mở hướng vào trong. Những căn phòng quan trọng nhất đều quay mặt về hướng Đông: phòng bếp ở một đầu, phòng của chú và phòng khách ở đầu kia.
Gian Tây mới được xây dựng sau này, nói không chừng là được cất từ năm mươi năm trước, hồi đó nhà chúng ta kiếm được không ít tiền từ người nước ngoài, vừa mới trở nên giàu có, dựa vào việc bán lụa để đổi lấy nhung thiên nga, rèm cửa, chăn mền. Gian Tây mới đúng như cái tên của nó, là một tòa nhà lầu hai tầng quay mặt về hướng Tây, trên mái nhà có ba cái ống khói. Thợ cả Tân từng có lần nói rằng, nó được xây phỏng theo một trang viên sang trọng kiểu Anh. Nhưng nhiều năm qua, mọi người cứ cơi nới lung tung trước ngôi nhà này, che lấp đi tất cả những phần đẹp đẽ của nó, cho nên bây giờ nhìn lại, nó chẳng khác gì hậu viện của một trang trại kiểu cũ cả.
Ta liền đi đến đây, bước lên bậc thềm gỗ của gian Tây mới, đi vào hiên cửa, muốn ngồi đây làm đồ khâu vá của mình. Khoảng mười năm trước, chú đã cho xây lại hiên cửa này. Mùa hè năm ấy, thợ cả Tân đã dùng lưới chống muỗi quây kín nó từ đầu đến cuối để ngăn ruồi muỗi bay vào. Nhưng kết quả là vẫn có vài con bay được vào, thợ cả Tân chốc chốc lại dùng đế giày của bà ấy để đuổi đánh, cho nên khắp nơi đều có thể thấy xác ruồi muỗi còn vương lại trên lưới chống muỗi, đôi cánh của chúng run rẩy trong gió giống như những mảnh giấy kiếng vỡ vậy. Mọi thứ đều rỉ sét loang lổ, cánh cửa ở hiên nhà phát ra tiếng "kẽo kẹt kẽo kẹt" trong gió. Ta cảm thấy bản thân giống như bị nhốt trong lồng dế vậy, đây tuyệt đối không phải là nơi tốt đẹp để ta mơ về tương lai của mình.
Thế là ta rời khỏi hiên cửa, cuối cùng đi đến nhà kính, đó là nơi chốn bí mật mà ta thường trốn vào hồi nhỏ. Ta thò đầu vào nhìn ngó bên trong, muốn biết nó có trống không hay không. Ta cẩn thận lau sạch cửa sổ kính, cứ như thể nó là một đứa trẻ vừa thức giấc vậy. Suốt bao nhiêu năm nay, nơi này vẫn luôn bỏ trống.
Chú vừa đến hòn đảo này, liền xây dựng nhà kính này ở phía Nam hướng ra ánh nắng của gian Tây mới. Nhà kính trông giống như một chiếc ngăn kéo lớn bị kéo ra rồi quên đóng lại. Chú khoe khoang rằng đây là "sở thích tao nhã" (phích hảo) của quý tộc Anh — nào là trồng hoa hồng, lan, rồi những loại hoa mộc quý phái nhưng sặc sỡ không thiết thực. Chú cứ thích mở miệng ra là nhắc đến hai từ "sở thích", nói rằng chỉ trong tiếng Anh mới có từ này, trong tiếng Trung không có từ nào hình dung những việc chỉ tốn tiền tốn thời gian mà thôi. Ta không hiểu sao chú lại cho rằng đây là một việc tốt, cứ thích học theo dáng vẻ của người nước ngoài, cứ như cái gì của nước ngoài cũng tốt, cái gì của Trung Quốc cũng tồi tệ. Năm nào chú cũng phải tìm ra một "sở thích" mới, còn thợ cả Tân thì lúc nào cũng gầm lên với chú, gọi "sở thích" mới của chú là "sở thúi" (phí hảo).
Sau đó chú chán ngấy nhà kính, lại chuyển hướng sang nuôi chó săn Anh, để đám thú cưng này chạy nhanh hơn, chú thường xuyên bỏ đói chúng. Khi số chó chú nuôi chết sạch, chú lại mua súng săn, bắn chim bồ câu, là chim bồ câu thật đấy, bởi vì chim bồ câu làm bằng đất sét đắt lắm. Sau đó, chú lại nhiễm thói nghiện tẩu thuốc khiến chú lâm bệnh sau này. Rồi lại mua một đống sách tiếng Anh bìa bọc da bò, nhưng chú chưa từng đọc lần nào. Rồi lại ngồi ở hiên cửa làm tiêu bản côn trùng.
Thế nhưng, nhà kính chính là "sở thích" đầu tiên. Sau khi chú từ bỏ nó, nhà kính liền trở thành nơi chất đống những món đồ kỳ quái tạp nhạp. Ví dụ như, có một hôm thợ cả Tân ngồi gãy một chiếc ghế, thế là chiếc ghế này liền được chuyển vào nhà kính. Thợ cả Tân phàn nàn chú sưu tầm quá nhiều bức tranh chân dung tổ tiên mà bà chẳng nhận mặt nổi, quá nhiều cuốn trục kỷ niệm, những thứ này cũng được đưa vào nhà kính. Hễ có ai cảm thấy món đồ gì không có chỗ nào để cất, thì những món đồ đó lại được tống vào nhà kính. Hồi nhỏ ta hay ngồi trên một đống ghế hỏng, ta còn có thể chạm vào súng săn, tưởng tượng xem chúng sẽ phát ra âm thanh gì, ta còn giả vờ cùng những vị tổ tiên mà ta chẳng quen biết uống trà nữa. Năm nào cũng có một vài món đồ không ai cần đến bị vứt vào đây, bây giờ tất cả đều đang bày ra trước mắt ta.
Có một hôm, đó là hồi ta chín hay mười tuổi gì đó, ta phát hiện ra một bức tranh, trên tranh vẽ một người phụ nữ rất xinh đẹp, mặc một bộ trang phục màu xanh nhạt, tóc chải ngược ra phía sau, ánh mắt nhìn thẳng về phía trước, vẻ mặt nghiêm nghị đến mức ta không dám nhận ra cô ấy. "Mẹ?" Ta thốt lên một tiếng, bởi vì ta cảm thấy cô ấy đang nhìn mình. Ta tưởng tượng cô ấy trèo ra từ trong tranh, nhìn thẳng vào ta giống như trên tranh, hỏi ta rằng, "Bé cưng Vân Vân, đây là nơi nào thế, sao lại có nhiều ô cửa sổ nhỏ thế này?" Thế là ta hiểu ra, chỉ có ở cái nơi mà người ta vứt đồ đạc này thì mẹ con ta mới có thể ở bên nhau. Ngay cả khi ta đã lớn khôn, ta vẫn suy nghĩ như vậy. Dù sao đi nữa, ta cứ ngồi xuống đây để làm đồ khâu vá năm mới của mình.
Thứ ta vá là quần áo của anh em họ ta — mấy tên nhợ nhạt này thường xuyên cố ý ngã lăn ra, đầu gối và khuỷu tay chỗ nào cũng thủng những lỗ to tướng! Lại còn lắm vết bẩn thế chứ. Ta cảm thấy quần áo của bọn họ phần lớn đã rách đến mức chẳng thể vá nổi nữa, hay là, cứ đem tặng chúng cho gia nhân, để con cái bọn họ mặc thì hơn. Nếu sau này thợ cả Tân có mắng ta, ta sẽ bảo với bà ấy rằng, ta đang nghĩ cho đám anh em họ của mình, nếu để bọn chúng mặc đồ trông như ăn mày, thì số mệnh đã định sẵn bọn chúng sẽ phải mặc áo quần rách rưới lang thang ngoài đường rồi. Tiếp theo ta lại thầm cười thầm, nhớ lại việc ta cố ý để lại một chiếc lỗ nhỏ ở túi áo khoác của thợ cả Tân, nói không chừng một phần quyền lực của bà ấy sẽ theo đó mà trượt mất đấy.
Sao con lại cười? Con tưởng mẹ con xưa nay vẫn luôn ngoan ngoãn chắc? Con tưởng ta không biết lén lút làm mấy trò nghịch ngợm ư? Con tưởng ta không biết con đang làm trò nghịch ngợm à? Lần đó, chẳng phải con đã giấu cuốn sách đồi trụy "Phi Xa Truy Nữ" đi đấy ư? Ta sớm đã đoán được con chẳng hề đọc Kinh Thánh.
Vào cái tuổi của con, ta cũng từng làm những chuyện như thế, giấu một cuốn sách vào trong đống đồ khâu vá. Đây là một cuốn tiểu thuyết kể về những chuyện tình phong lưu "Kim Bình Mai", một cuốn sách cấm. Các sơ ở trường nội trú của chúng ta đã nhiều năm nhắc nhở chúng ta, không được đọc cuốn sách này. Ta mượn đọc từ một học sinh nghịch ngợm tên là Tiểu Vu. Con bé ấy cứ thích làm những việc không cho phép. Con bé nói, cuốn sách này kể về chuyện nam nữ: chồng thích gì, vợ thích gì, chồng thích hơn vợ ở điểm nào, chồng cách bao lâu thì thực hiện nghĩa vụ của mình, vợ lại cách bao lâu. Con bé còn kể cho ta nghe rất nhiều tiếng lóng — "ngọc đình", "phẩm tiêu", "vân vũ" — nhưng con bé lại không giảng nghĩa cho ta nghe. Con bé bảo, tự cậu đọc đi.
Cho nên sáng hôm đó, ta liền tự mình đọc lấy, muốn tìm hiểu cho rõ nghĩa của mấy thứ tiếng lóng đó. Nhưng đọc hết mười trang, chẳng thấy có chỗ nào không ổn cả, chẳng qua chỉ là dăm ba lời giáo điều quen thuộc bắt con người ta phải giữ quy củ — nào là tặng quà thế nào theo địa vị con người, làm thế nào để người thân bạn bè vui vẻ — đời người ngắn ngủi không thể chỉ biết nghĩ cho bản thân v.v... Thế là ta nghĩ, nói không chừng cuốn sách này là một câu đố, đầu óc ta quá đơn giản nên không nhìn thấu được ý nghĩa của nó. Có lẽ cây thông xinh đẹp được viết ở đây thực chất chính là một loại tiếng lóng bí mật, ẩn chứa một loại tri thức khác. Tại sao người đàn ông này lại nhận hai miếng bánh trà từ vợ của người khác chứ? Chắc chắn chỗ này có gì đó không đúng. Tại sao lại là hai miếng bánh trà, chứ không phải một miếng? Giả sử cô ta cho hắn hai quả quýt thì sao nào?
Ta còn chưa kịp suy nghĩ nhiều, đã nghe thấy Đậu Phộng đang gọi tên ta bằng giọng điệu oán trách: "Vân Vân! Cậu đang ở đâu thế, đồ ngốc?" Ta vốn dĩ không muốn để tâm đến nó, giống như hồi nhỏ vậy, nhưng sau đó, dĩ nhiên, ta nhớ lại chuyện chúng ta đã hứa cùng nhau đi dạo chợ, thế là ta bèn giấu cuốn sách sau hai chiếc khay trà, rồi mang theo giỏ đựng đồ khâu vá vội vã rời đi.
Chúng ta trở về phòng của mình để chuẩn bị xuất phát, Đậu Phộng lẩm bẩm trong miệng chúng ta nên đi sạp hàng nào trước, nên mua những món đồ kiểu gì. Có lẽ phải mua cho mấy đứa em trai của nó ít đồ chơi bằng giấy hoặc đèn lồng hình con vật, mua ít trà ngon cho người lớn. Tiện thể mua thêm mấy chiếc ví tiền nhỏ cho mấy người chị em họ khác của chúng ta, con gái của thợ cả Tân Tết nhất chắc chắn sẽ dẫn cả nhà đến làm khách. Sau đó hai đứa ta đồng thuận mua cho chính mình mấy chiếc kẹp tóc hình hoa hoét gì đó. Dĩ nhiên, còn phải gọi thầy bói xem cho một quẻ, xem năm tới có những chuyện tốt lành gì giáng xuống đầu.
"Chúng ta không nên tìm cái người phụ nữ vẩu hàm ếch kia nữa," Đậu Phộng nói, "Năm ngoái bả bói cho tớ một quẻ cực kỳ xấu, bảo tớ vận hạn năm nay không tốt, dặn tớ phải cẩn thận."
Thế là ta nhớ lại những lời mà người phụ nữ xem bói năm ngoái đã nói với nó, bảo rằng nó tuổi Mùi, lúc nào cũng thích giấu mình dưới lớp lông dày cộm. Người phụ nữ xem bói này nói với Đậu Phộng rằng, nếu nó không cẩn thận vào năm Tý, sẽ có người cắn rách lớp lông của nó, lôi hết khuyết điểm của nó ra ánh sáng. Đậu Phộng tức điên lên, đòi bắt bả trả lại tiền. Người phụ nữ ấy không chịu, thế là Đậu Phộng liền lớn tiếng la hét, khiến tất cả mọi người vây lại nghe: "Bả này lừa tôi, cho tôi ý kiến tồi tệ. Ở đây chẳng tìm được vận may nào cả, hay là đi chỗ khác thôi!" Lúc ấy ta rất ngượng ngùng, nhưng trong lòng cũng thầm lẩm bẩm, sao bà thầy bói này lại biết rõ về đứa em họ của ta thế nhỉ?
"Năm nay," Đậu Phộng nói, "Tớ chỉ muốn biết người chồng tương lai và gia đình của anh ta trông như thế nào mà thôi."
Rồi Đậu Phộng bắt đầu suy tính xem mình nên ăn mặc thế nào cho đẹp để đi dạo chợ. Nó cuộn tóc sang một bên thả xõa xuống, giải thích rằng, "Tớ nhìn thấy kiểu tóc này trên một tạp chí nước ngoài." Ta bĩu môi, cho nó biết rằng nó ăn mặc kiểu này trông không đẹp, nhưng nó thì chẳng bao giờ nghe lời khuyên can của ta cả. Sau đó để chọn mặc bộ quần áo nào, khoác chiếc áo choàng nào, nó lại đắn đo suy nghĩ mất một hồi lâu.
Nó là đứa con cưng trong nhà, có rất nhiều quần áo đẹp, phần lớn là hàng Pháp hoặc hàng Anh mua từ các cửa hàng thời trang cao cấp ở Thượng Hải. Có một chiếc áo khoác lông cừu cuộn màu đen, cổ bẻ cứng, bên trong còn lót vải gấm hoa, nếu cài chặt hết tất cả các cúc áo lại, chiếc áo khoác sẽ từ từ ôm sát người, kéo dài cho đến tận mắt cá chân của nó, đến việc đi lại cũng trở thành vấn đề, trừ phi con bước những bước thật nhỏ. Thật buồn cười! Đậu Phộng lại quyết định mặc đúng chiếc áo này, lại phối thêm một đôi giày cao gót mới. Trong mắt của những người nhà quê bản địa, bộ trang phục này coi như đủ hoành tráng rồi — đám người này chỉ cần có một khúc vải làm chiếc quần mới là đã cảm thấy vô cùng có phúc rồi! Nhưng đây là năm mới cơ mà, là một cơ hội tốt để phô bày sự giàu có.
Chúng ta là gia đình giàu có nhất trong thôn, dĩ nhiên, chỉ tính trong phạm vi khu vực nhỏ bé trên hòn đảo này mà thôi. Thôn này tên là Hà Khẩu, không tính con đường từ bến phà đến và những cửa tiệm nhỏ nằm rải rác hai bên đường, chu vi chỉ rộng nửa dặm, dài một dặm. Một ngôi thôn nhỏ như thế này, chỉ có một tòa lầu cao, vài hộ trung lưu, ngoài những thứ đó ra, cư dân sống ở đây hầu như toàn là người nghèo.
Ta không có ý nói rằng, một nhà giàu có, trăm nhà nghèo đói là công bằng, vào thời điểm đó mọi người đều sống như vậy đấy, chẳng ai đặt câu hỏi về hiện tượng này cả, cứ như thể nó đã được định sẵn bởi số phận vậy. Trung Quốc lúc bấy giờ chính là như thế.
Đám người nghèo ấy có rất nhiều người làm việc cho nhà máy dệt lụa của nhà chúng ta, thế nên họ không đến nỗi chết đói. Họ sống trong những căn nhà đất nhỏ do nhà chúng ta cho thuê. Họ không có đất đai, chỉ có rác rưởi chất đống trên mặt đất. Nhưng họ có thể trông chờ vào việc mỗi năm một lần đến ngôi nhà của gia đình họ Giang ở Hà Khẩu để chung vui năm mới, ít nhất là có thể ăn uống thả cửa trong bữa tiệc được tổ chức vào ngày mùng Ba Tết.
Đương nhiên, lúc ta đang chuẩn bị đi dạo chợ thì chẳng nghĩ ngợi gì đến những chuyện này. Giống như Đậu Phộng, ta cũng đang mặc quần áo đẹp lên người. Một chiếc váy dài mặc vào dịp lễ hội có đính dải lụa đỏ thắm, thân trên khoác chiếc áo khoác có lớp lót đẹp nhất của ta, búi tóc ở sau gáy, thắt một kiểu tóc trông giống người lớn. Lúc này, ta nhìn thấy Đậu Phộng kiễng mũi chân rón rén đi ra hành lang, lắng nghe động tĩnh trong sân. Giọng nói oang oang của mẹ nó vang qua hành lang, vẫn đang lớn tiếng mắng người ở trượng ngoại. Nó quay lại kéo ngăn kéo ra, rồi rút ra một gói hàng được bọc bằng giấy trắng rất mỏng, buộc bằng dải lụa đỏ. Nó cởi gói hàng ra, rút từ trong đó ra ba chiếc hộp tròn lớn nhỏ khác nhau, rồi ngồi trước gương. Hóa ra là kem dưỡng da! Chỉ một lát sau, nó liền bôi trét đầy thứ bột trắng như phấn này lên khuôn mặt tròn vo và chiếc mũi nhỏ của mình.
"Trông cậu chẳng khác gì con quỷ tây cả," ta điềm nhiên nói, rồi bĩu môi. Ta có hơi sợ thay cho nó, lại cũng sợ thay cho chính mình. Ta lớn hơn Đậu Phộng một tuổi, thợ cả Tân sẽ trách mắng ta không quản lý tốt Đậu Phộng. Nhưng nếu ta trách mắng Đậu Phộng, thợ cả Tân lại sẽ nói, "Cậu là cái thá gì mà dám chỉ trỏ bàn tán? Lo quản bản thân cậu trước đi đã."
Cho nên ta ngậm tăm không nói tiếng nào. Trơ mắt nhìn Đậu Phộng lại lấy ra một chiếc hộp khác, chiếc này nhỏ hơn một chút, nắp hộp có màu ngọc trai, nó bôi son lên đôi môi của chính mình.
"Chao ôi, cậu tô cái miệng trông như đít khỉ rồi kìa," ta chế nhạo nó, muốn dội cho nó một gáo nước lạnh.
Nó vặn mở chiếc hộp cuối cùng, cũng là chiếc hộp nhỏ nhất, rồi mở cuốn tạp chí nước ngoài của nó ra, phỏng theo dáng vẻ của minh tinh điện ảnh đang mỉm cười trên bìa sách, nhanh chóng vẽ một vòng viền mắt đen nhánh xung quanh mắt. Rồi lại vẽ những đường nét rất đậm trên lông mày, trông giống như đôi chân châu chấu đen sì, đang chực chờ nhảy nhót. Trông nó thực sự rất đáng sợ, hoàn toàn không hề xinh đẹp chút nào. Lúc nó cúi đầu xuống, vòng mắt được vẽ cẩn thận ấy giống như ác ma trợn trừng nhìn chằm chằm vào ta.
May là trên áo khoác của Đậu Phộng có chiếc cổ cứng dựng đứng, nó có thể trốn ở phía sau chiếc cổ áo đó, xuyên qua hành lang tối thui, chuồn ra cửa sau để không ai nhìn thấy khuôn mặt mới của mình. Ta kéo Tiểu Công và Tiểu Cao lên đường. Vừa nhìn thấy bộ dạng của chị cả, hai đứa nó liền thì thầm to nhỏ với nhau, khúc khích cười trộm, cuối cùng không nhịn được mà phì cười thành tiếng. Đậu Phộng quay đầu lại, mỗi đứa giáng cho một cú vào đầu. Hai đứa ré lên thé chói tai rồi cắm cổ chạy đi, dọc đường vẫn cứ vừa cười vừa quậy phá, chốc chốc lại quay đầu lại múa may quay cuồng, chỉ trỏ.
Ra đến chợ thường tốn khoảng mười phút, nhưng hôm nay tốn gần bốn mươi phút. Ta bước một bước, giày cao gót của Đậu Phộng phải bước ba bước. Dọc đường người trong thôn đều vượt lên trước nó, bọn họ dừng lại nhìn ngó, cúi người chào, rồi mỉm cười tiếp tục rảo bước lên đường. Ôi chao, nếu con nhìn thấy Đậu Phộng thì hay biết mấy! Nó cứ hừ mũi như thế đấy — hừ! hừ! hừ! — sống y như một vị hoàng hậu nhìn thấy phu khiêng kiệu của mình bỏ kiệu chạy trốn, tức giận đến mức không chịu nổi. Trên khuôn mặt trét đầy phấn trắng của nó có ửng đỏ lên hay không, ta cũng chẳng nhìn ra được.
Con nhìn làn da của ta mà xem, cho đến tận bây giờ vẫn cứ láng mịn nhường này. Khi còn trẻ ta chưa từng bôi son trát phấn, ta không cần — không có đốm đen, không có nốt ruồi nhỏ, không có sẹo, không có bớt. Rất nhiều người nói với ta rằng, khuôn mặt của ta sinh ra đã có phúc khí, cho nên ta hà cớ gì phải che giấu nó chứ?
Bây giờ chúng ta vào bếp uống chút trà đi. Rồi ta sẽ kể cho con nghe Đậu Phộng đã thay đổi vận mệnh của ta trong năm mới như thế nào.
Mười một giờ trưa hôm ấy, trong chợ đã chen chúc chật ních người, việc buôn bán của mọi người đều rất khấm khá. Khung cảnh bận rộn ngay trước mắt không khỏi khiến ta càng thêm phấn khích. Hôm nay, người phụ nữ bán hoành thánh trước cửa nhà mình không cần phải rướn cổ thét lớn nữa, "Hoành thánh đây! Mau đến nếm thử đi, hoành thánh ngon nhất đây!" Cả hai chiếc bàn đều chật kín người, những khuôn mặt lạnh ngắt đỏ bừng vùi trong bát canh nóng hổi, còn có một số người dứt khoát ngồi xổm dưới đất, kẹp bát giữa hai chân để ăn.
Chúng ta đi qua các sạp hàng thường bán trái cây, rau củ, trứng tươi và gà sống. Nhưng trái cây hôm nay có vẻ đặc biệt to lớn, gà cũng nhảy nhót tưng bừng. Khắp nơi đều có thể nhìn thấy những lá cờ đỏ rợp trời, đi được một bước là ngửi thấy tiếng pháo nổ lách tách đì đùng. Lũ trẻ hò hét phấn khích, nhìn mẹ chúng vươn tay chộp lấy lê, quýt, bưởi và hồng. Tiểu Công và Tiểu Cao đang đứng xem xiếc khỉ, bọn chúng ném hai đồng tiền đồng vào sạp hàng, con khỉ liền lập tức nhặt lấy, cho vào miệng cắn thử xem có phải là tiền thật không, sau đó giơ cao chiếc mũ, chào hai đứa trẻ một cái, rồi đưa tiền cho chủ nhân của nó. Chủ nhân đưa cho nó hai con thằn lằn khô, nó liền nhai ngấu nghiến ngay lập tức, tất cả chúng ta đều vỗ tay khen ngợi.
Đúng lúc này Đậu Phộng tìm được một thầy bói mà nó ưng ý. Đây là một người phụ nữ mập mạp, trên mặt nở đầy nụ cười, tự khoác lác rằng bản thân cái gì cũng biết — tình yêu, hôn nhân, tài lộc. Trước sạp hàng của bả đặt một tấm biển, khoe khoang rằng bả có quẻ thượng thượng, tất cả những con số cát tường nhất, những cuộc hôn nhân xứng đôi nhất, những ngày làm ăn phát tài nhất, bả đều biết tuốt. Bả còn có thể giải trừ tai ương, biến vận rủi thành vận may, đảm bảo vạn sự đại cát.
"Tiểu muội muội, đến đây nào," bả nói với chúng ta, rồi vỗ vỗ vào cái bụng của mình, "Con xem, ta tự xem bói cho mình đấy, kết quả là béo tốt mập mạp thế này đây. Ta không sống bằng nghề xem bói đâu. Ta làm cái nghề này là do Quan Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi bảo ta đến đấy, kiếp sau ngài ấy còn định cho ta làm quan lớn cơ. Cho nên con thấy đấy, ta xem cho các con một quẻ tốt, mọi người đều có lợi. Xem một quẻ đi, ha ha, ta đảm bảo xem cho con quẻ tốt nhất."
Sau đó, bả làm một chuyện không thể tưởng tượng nổi, bả nói với Đậu Phộng rằng, "Con số cát tường của con là số tám, có đúng không nào?"
Đậu Phộng nhớ ra rồi, nó sinh vào tháng tám, hồi tám tuổi nó vô cùng hạnh phúc, qua năm mới là nó mười tám tuổi rồi. Thế là Đậu Phộng há hốc nửa miệng, đem một nửa số tiền mà thợ cả Tân đưa cho nó để xem bói sạch sành sanh. Bà thầy bói đảm bảo năm nay nó sẽ lấy được một người chồng khiến bố mẹ hài lòng, mẹ chồng tương lai đối xử với nó tốt đến mức người ta không thể tin nổi, gia đình tương lai giàu có đến mức khiến nó chẳng còn mong cầu gì khác, dĩ nhiên nó sẽ sinh liền mấy đứa con trai cho mà xem.
"Thế chồng tôi trông như thế nào? Tôi hy vọng anh ta đừng lớn tuổi quá," Đậu Phộng nói bằng giọng điệu oán trách, "Nhà anh ta ở đâu? Cả đời tôi phải ở lại thôn Hà Khẩu sao?"
Bà thầy bói lại cầm lấy một quẻ thẻ, rồi cau mày, trông có vẻ rất đau đầu. Sau đó lại đổi một quẻ thẻ khác, lại cau mày, rồi lại đổi tiếp một quẻ nữa. "Ừm," bả nói, "Chồng con tuổi vẫn còn nhỏ lắm, có vẻ lớn hơn con chẳng bao nhiêu tuổi cả. Nhưng số mệnh con đã định, nhà chồng nằm ngay cạnh nhà mẹ đẻ. Ta đã nhìn ra rồi, cái này không tính là quá tệ, nhưng nói không chừng ta có thể khiến vận số của con trở nên tốt hơn đôi chút."
Đậu Phộng lại thêm tiền, người phụ nữ đó liền viết tên của Đậu Phộng, cùng với bát tự ngày sinh và ngày cát tường của nó lên một mảnh giấy đỏ, rồi đính kèm thêm một mẩu giấy nhỏ viết thứ gì đó giống như thơ ca, bên trên viết rằng: "Hỷ tòng thân biên lai, viễn lưu chí Đông Hải." ("Vui từ bên mình đến, xuôi dòng mãi Đông Hải.")
"Câu này có ý gì?" Đậu Phộng đọc xong bài thơ rồi hỏi.
"Ồ," người phụ nữ đó nói, vừa đưa bài thơ lại gần hơn, cuối cùng bà ta chỉ vào hai từ "thân biên" (bên cạnh) và "hỷ" (vui), "Thấy chưa? Con muốn gả cho một người bản xứ, nhưng ta bây giờ đã đuổi anh ta đi rồi, đem tặng anh ta cho người khác rồi." Sau đó bả lại chỉ vào chữ "Đông Hải" (biển Đông), "Cái này có nghĩa là, chồng mới của con ở rất xa — dĩ nhiên, không đến mức xa xôi như ở nước ngoài, nhưng ít nhất không ở trên hòn đảo này, nói không chừng ở tận Dương Châu phía Bắc ấy."
Đậu Phộng cau mày thật chặt, sắc mặt rất khó coi.
"Nói không chừng gần như Thượng Hải ấy chứ," người phụ nữ đó lại nói. Nhìn thấy Đậu Phộng mỉm cười, bà ta vội vàng nói thêm câu nữa, "Ta đã nhìn thấy rồi, giàu có không thể tả, năm đứa con trai, đứa nào cũng rất hiếu thảo. Không có thiếp thất, chỉ có một mình con thôi."
Người phụ nữ đó gom tất cả các mẩu giấy và bài thơ lại, cộng thêm số tiền mà Đậu Phộng đưa, tất cả đều đặt trước bức tượng Quan Âm Bồ Tát.
"Được rồi, cuộc đời này của con không phải sầu lo gì nữa đâu," người phụ nữ đó nói với Đậu Phộng, rồi bà ta lại mỉm cười với ta, "Còn con thì sao, tiểu muội muội? Ta cảm thấy trong số mệnh của con cũng có một người chồng đấy."
Rồi bả nhìn khuôn mặt ta, lại tiến lại gần ngắm nghía một hồi, khóe miệng bả toét ra, "Ái chà! Nhưng con xem, có rắc rối rồi, bây giờ ta nhìn thấy rồi, nằm ngay trên đôi mắt của con kìa! Chỗ này có một vết bớt nhỏ, nó có thể khiến tất cả những gì con nhìn thấy đều trở thành màu đen đấy."
Bả chỉ vào một vết bớt nằm dưới lông mày trên mắt ta. "Ta có thể xóa nó đi," bả nhanh chóng nói, "Dĩ nhiên, chuyện này không dễ dàng gì, phải tìm được một loại chú ngữ để xua đuổi vận rủi. Nhưng ta có thể làm cho con trước năm mới, con tự mình quyết định đi." Bả viết ra một con số tiền mà ta nên trả cho bả.
Nhưng Đậu Phộng đã kéo cánh tay ta đi về một con đường khác, nó bảo ta có một sạp hàng nhỏ chuyên bán một loại sô-cô-la mười hai con giáp do nước ngoài sản xuất. Dĩ nhiên ta rất muốn nghe chuyện số mệnh của mình, lấy được câu chú ngữ ấy, thay đổi vận rủi trong tương lai của ta. Nhưng sao ta có thể nói những lời này trước mặt bao người! "Này, Đậu Phộng, cho tớ ít tiền, để tớ cũng tìm một người chồng tốt xem nào."
Nói không chừng bà thầy bói này không thể nói cho ta biết tất cả mọi chuyện, để ta thay đổi vận mệnh của mình. Có lẽ bả chẳng qua chỉ đang giở mấy trò lừa bịp thông thường, những lời bả nói chẳng có câu nào là thật cả. Nhưng những điều bả nói liên quan đến ta đều ứng nghiệm hết thảy: Bất hạnh đi theo ta suốt cả cuộc đời, ta không thể nào không để vết bớt này che khuất đôi mắt mình. Câu nói này cũng đã ứng nghiệm: Đậu Phộng không hề kết hôn với chàng trai bản xứ mà số mệnh đã định phải lấy trong lần rút quẻ đầu tiên, mà lại kết hôn với một người Thượng Hải. Còn chàng trai bản xứ bị bà thầy bói dùng chú ngữ đuổi đi kia thì sao? Toàn bộ những phần cơm thừa canh cặn này đều chừa lại cho ta.
Không, ta không tin mê tín dị đoan. Ta chỉ đang nói về việc tất cả những chuyện này đã diễn ra như thế nào mà thôi. Làm sao con có thể nói vận may và cơ hội là một chuyện được chứ? Cơ hội chính là bước đi đầu tiên của con, vận may là thứ đi theo sau cơ hội. Cái thứ cơ hội mà con nói chẳng có lý lẽ gì cả, chẳng qua chỉ là cái cớ để không phải tự trách bản thân mà thôi. Nếu con không có cơ hội, người khác sẽ đem vận may của họ cho con. Nếu con gặp vận rủi, thì con đành phải tìm một cơ hội khác để biến vận rủi thành vận may mà thôi. Dĩ nhiên mọi chuyện đều có liên hệ mật thiết với nhau cả.
Sao ta lại biết ư? Chính con cũng nhìn thấy đấy — con vừa nói đến một chuyện, thì chuyện đó liền xảy ra. Chúng ta làm lạc mất Tiểu Công và Tiểu Cao, rồi chúng ta tìm thấy Văn Phúc. Ta không liên quan gì đến chuyện này, sau đó — phải rồi, mọi chuyện cứ thế diễn ra.
Lúc đó chúng ta đi khắp chợ để tìm Tiểu Công và Tiểu Cao. Đậu Phộng dọc đường chửi mắng chúng, cứ như thể chúng đang ở ngay bên cạnh vậy. "Đứa hư hỏng, suốt ngày gây rắc rối. Sao không nghe lời đại tỷ hả?" Chúng ta tìm chúng từ sạp hàng này sang sạp hàng khác, đến cả thời gian ngắm nghía mấy món đồ chơi thú vị cũng chẳng có.
Cuối cùng cũng tìm thấy chúng, bọn chúng đang đứng trước khán đài, cùng mọi người chờ xem xã kịch (kịch làng). Khán đài được khoanh vùng bằng dây thừng, trên sân khấu dựng một tấm biển lớn: "Xã kịch năm mới, dâng kính thần làng, kẻ nghèo thiếu nợ, hoan nghênh ghé chơi."
"Con còn nhớ chứ," ta nói với Đậu Phộng, "Y hệt như năm ngoái vậy." Thế là chúng ta quyết định ở lại cùng mấy đứa em trai xem xã kịch. Đây là một vở kịch hài, vào ngày cuối cùng của mỗi năm, dân làng đều phải biểu diễn một màn như thế này, đây đã trở thành truyền thống lâu đời rồi. Bình thường, nếu có người nợ tiền con, con có thể đuổi theo hắn, đòi hắn trả, cho đến tiếng chuông cuối cùng của ngày cuối cùng trước năm mới vẫn có thể làm như vậy. Nhưng qua thời điểm này rồi, thì không được nữa. Cho nên các địa chủ và thương nhân luôn muốn đòi nợ người nghèo vào ngày này, đuổi theo cho đến tận khi trời tối mờ. Nơi duy nhất mà người nghèo có thể trốn chính là sân xã kịch, đây là một vở kịch dâng cúng thần làng, chỉ cần trốn vào trong vòng dây thừng, sẽ không có ai có thể ép con trả nợ nữa.
Dĩ nhiên, quy củ trả hết nợ nần trước khi năm hết tết đến vẫn là có, có thể trả hết nợ nần là một chuyện thể diện. Nhưng bây giờ xã kịch chỉ là để đùa vui mà thôi, những người đứng trong vòng dây thừng không phải là con nợ thực sự: Bọn họ là bị người ta đẩy vào, tự thân đã trở thành một phần của xã kịch.
Cho đến tận bây giờ ta dường như vẫn có thể nhìn thấy, vẫn có thể nghe thấy cái cảnh tượng diễn xã kịch đó, tiếng chũm chọe và tiếng trống chiêng vang trời động đất, các diễn viên mặc trang phục rẻ tiền lần lượt lên sân khấu. Một mụ già bước lên, trong tay cầm một chiếc chổi, khóc lóc vì đứa con trai mất tích đã đi làm thổ phỉ. Ở đằng xa có một con rồng bơi từ ngoài biển tới, cái đuôi quẫy đạp như những con sóng, nó gầm thét nuốt chửng chiếc thuyền chở kẻ tham lam vào bụng. Hai vở kịch này hòa trộn vào nhau để hát, khó nghe chết đi được.
Đột nhiên, các diễn viên trên sân khấu đều dừng biểu diễn, một tên ăn mày khoác chiếc áo khoác rách bươm từ trong khán giả nhảy vọt ra, một bước phóng lên sân khấu. Sau đó hắn ta liền chạy vòng quanh mụ già và con rồng kia mấy vòng để cướp chiếc chổi và cái đuôi rồng, một mặt hướng về phía người nào đó đằng sau hắn mà nói, "Ta không nợ tiền ngươi! Ta thề đấy!"
Một người đàn ông khác cũng nhảy từ khán giả lên sân khấu, trong tay còn giơ cao một chiếc đèn lồng. "A!" Khán giả dưới đài nổi lên tiếng xôn sao bàn tán. "Tên địa chủ này hung ác thật đấy!" Hắn ta đi xuyên qua sân khấu, đuổi theo tên ăn mày. Tên ăn mày có ba lần suýt chút nữa bị hắn tóm được — hoặc là tóc, hoặc là tai, hoặc là vạt áo rách, nhưng lần nào cũng may mắn trốn thoát được. Dưới khán giả vang lên từng trận tiếng hô hỏa, tiếng cười đùa náo nhiệt. Nữ diễn viên đóng vai mụ già ra vẻ phiền muộn lắm. "Đừng quậy nữa, yên lặng nào! Chúng ta đang diễn đến khúc quan trọng cơ mà." Ả thét lên. Hai người đàn ông kia vẫn vây quanh ả chạy vòng quanh, ả liền ném chiếc chổi về phía họ, nhưng không trúng — bốp một tiếng, lại ném trúng đuôi rồng. Dưới đài lại vang lên một trận cười phá lên! Sau đó người kéo đuôi rồng kia thò đầu ra, sờ sờ cái đầu bị đánh đau rồi hỏi, "Ta đang ở đâu thế này?" Khán giả càng cười dữ dội hơn.
Rồi mụ già lại thét lên: "Tránh ra! Sang một bên đi!" Trong khán giả bước ra hai người, đẩy mọi người lùi về phía sau. Một lát sau, tên ăn mày chạy đến bên mép sân khấu, hai tay chống đất lộn ngược người lại, nhào lộn ba vòng liên tiếp giữa không trung, nhảy vào nơi an toàn bên trong vòng dây thừng. Mọi người đều vỗ tay rào rào. Tên địa chủ cầm chiếc đèn lồng lúc này đang ở phía bên kia vòng dây thừng, tức giận dậm chân thình thịch, đám đông đều đang chế nhạo hắn.
Tiểu Công và Tiểu Cao xem đến say sưa quên cả trời đất, toàn bộ khung cảnh lặp đi lặp lại hai ba lần, do các diễn viên khác nhau đóng vai tên ăn mày, cùng một diễn viên đóng vai địa chủ. Cuối cùng, tên địa chủ tức điên lên, đập vỡ chiếc đèn lồng thành hai mảnh, rồi tuyên bố hắn muốn về nhà. "Thôi bỏ đi, quên món nợ đó đi." Hắn hò hét. Tất cả mọi người đều hoan hô tưng bừng, cứ như thể bọn họ cũng là người thắng cuộc vậy. Nhưng tên địa chủ vừa mới cất bước định đi, đột nhiên quay người lại, lớn tiếng thét với khán giả, "Được rồi, tao chuẩn bị đi đây, nhưng tất cả tụi mày đều thiếu đám diễn viên chúng tao một món quà năm mới đấy, để thể hiện sự hào phóng của tụi mày đi chứ!"
Thế là tất cả các diễn viên đều nhảy từ trên sân khấu xuống khán giả, trên tay ai nấy đều bưng một chiếc bát khất thực. Người mang đuôi rồng dùng khuỷu tay chọc chọc Đậu Phộng, người đàn ông này chính là Văn Phúc. Nhìn ánh mắt hắn chằm chằm nhìn Đậu Phộng và cái miệng gọi Đậu Phộng là "phu nhân tốt" của hắn kìa, chắc chắn hắn biết Đậu Phộng sẽ cho hắn một khoản tiền bố thí lớn.
Ta nói cho con hay, hắn không giống như bố con. Không phải kiểu đàn ông mà con vừa nhìn thấy là sẽ thốt lên, à, người đàn ông này đẹp trai quá, mình muốn lấy anh ta. Nhưng Văn Phúc có thể khiến ánh mắt con dán chặt vào hắn từ đầu đến chí cuối, hắn có một loại phong thái khiến người ta cảm thấy vô cùng yên tâm, vô cùng táo bạo. Khi hắn nói "phu nhân tốt", giọng điệu của hắn nghe có vẻ rất chân thành, nhưng khuôn mặt hắn lại mang vẻ trêu ngươi: Đôi mắt rùa của hắn chớp chớp, nhưng không nhìn đi nơi khác, cái miệng rộng lớn nhe răng cười, hắn — phải nói thế nào nhỉ? — vẫn rất có sức hút.
Lúc đó ta còn nhìn ra một vài biểu hiện khác trên người hắn — sau này Đậu Phộng nói với ta rằng nó cũng chú ý tới — chứng tỏ hắn xuất thân từ gia đình đại quý tộc, rất tao nhã, con không thể xem thường hắn được. Quần áo của hắn mặc rất vừa vặn, kích cỡ phối hợp vô cùng chuẩn xác với bàn tay bàn chân. Bộ trang phục hắn mặc là đồ kiểu Tây, một chiếc áo sơ mi cổ rộng, một chiếc quần được cắt may tinh tế, thắt lưng đeo một sợi dây da mảnh, ống quần ôm sát lấy chân. Mái tóc của hắn vừa dày vừa sáng, xung quanh cạo rất sạch sẽ, không giống như đám nông dân kia, hoặc là lếch thếch lộn xộn, hoặc là cắt phẳng lì trên đỉnh đầu. Lông mày của hắn — hai chúng ta đều thích lông mày của hắn — vừa rậm vừa đen, từ thô rồi thon dần lại, trông giống như ngọn bút lông vậy. Răng của hắn trông rất đẹp, đều đặn tăm tắp, không thiếu một chiếc nào.
Trong tay hắn cầm một chiếc bát cơm nhỏ, dùng để đi quyên tiền. "Không phải cho bản thân ta đâu," hắn lại dùng cái giọng điệu chân thành, khiến người ta yên tâm ấy để giải thích lần nữa, "Là để quyên góp cho bệnh viện mà chúng ta đang xây ở phía Nam hòn đảo." Chân mày của hắn nhướng lên, lộ ra một vẻ mặt quan tâm lo lắng. Hắn nhìn Đậu Phộng trước, rồi lại nhìn ta. Dĩ nhiên ta có chút lúng túng, bởi vì trong người ta chẳng có một xu dính túi. Thế là ta trừng mắt lạnh lùng nhìn hắn một cái, cứ như đang trách móc hắn không nên đến quầy rầy chúng ta.
Đậu Phộng mỉm cười với hắn. "Hóa rồng vất vả thế cơ à." Nó nói, rồi đưa cho hắn mấy đồng tiền xu. Chúng ta quay người định đi về. Nhưng lúc này Văn Phúc lại gọi Tiểu Công và Tiểu Cao lại: "Này, tiểu huynh đệ, ta tặng hai cháu mấy bao lì xì để làm quà đáp lễ nhé." Vừa nói hắn vừa móc từ trong túi ra hai bao lì xì đỏ, ném cho mỗi đứa một bao. Chẳng mấy chốc, bọn chúng đã phát hiện ra trong bao lì xì đựng kẹo bọc giấy vàng trông giống như tiền xu vậy. "Thật á?" Tiểu Cao vừa nói, vừa cầm một viên soi dưới ánh mặt trời, nhìn cái vẻ lấp lánh của nó. Rồi bọn chúng vô cùng trang trọng bỏ những đồng tiền xu của mình vào bao lì xì.
"Cảm ơn chú ạ!" Bọn chúng nói.
"Các cháu thấy màn múa đuôi rồng của ta đặc sắc không nào?" Văn Phúc hỏi bọn chúng. Bọn chúng ngượng ngùng gật gật đầu, mỉm cười. "Có lẽ các cháu muốn xem nguyên con rồng luôn chứ?" Thế là sự rụt rè của bọn chúng quét sạch sành sanh, vừa nhảy nhót tưng bừng vừa lao về phía sân khấu. Văn Phúc nhìn Đậu Phộng, lại nhìn ta, sau đó nhún nhún vai, ra vẻ bất lực.
Khoảng thời gian còn lại của buổi chiều hôm đó, Văn Phúc cứ đi theo chúng ta, hoặc nói đúng hơn là hắn dẫn dắt hai cậu nhóc đi xem đủ loại phong cảnh — đấu kê, trò chơi dùng túi cát ném chìm tàu gỗ, sạp hàng bán răng hổ — ngược lại chúng ta lại trở thành kẻ đi theo sau mông hắn. Dĩ nhiên, ngay từ đầu chúng ta cũng phản đối rằng, "Thôi không đi nữa, đã làm phiền anh nhiều thế rồi." Nhưng ta nghĩ, trong lòng hai chúng ta đều thầm cho rằng hắn rất đáng mến. Chúng ta thở dài, như thể chúng ta đã chẳng thể làm gì khác hơn, rồi lại khúc khích cười to, bởi vì chúng ta không biết phải biểu đạt tâm trạng phấn khích của mình thế nào.
Hắn giúp chúng ta xách túi, chốc chốc lại dùng tiền của mình mua mấy món đồ chơi nhỏ cho hai cậu nhóc. Sau đó hắn lại đòi mua đồ cho Đậu Phộng và ta, khi thấy chúng ta rất thích mấy thứ sặc sỡ màu mè ấy — một con rồng làm bằng giấy, một thanh sô-cô-la hình con cừu mà Đậu Phộng đã thèm thuồng từ lâu — "Anh không nên làm thế!" Lần nào chúng ta cũng phản đối, hoặc nói đúng hơn, chỉ có mình ta phản đối, Đậu Phộng chỉ mỉm cười mà thôi.
Cho nên con thấy đấy, ta chưa từng nhận bất kỳ món quà nào từ tay Văn Phúc cả, Đậu Phộng thì có. Nó bảo nó sẽ nói với mẹ nó rằng đó là do nó tự bỏ tiền ra mua, giá cả đều rất rẻ. Nhưng ta luôn cảm thấy làm như vậy là không đúng. Không chỉ là nói dối, mà còn là việc nhận đồ từ tay một người đàn ông. Rất nhiều câu cổ huấn đều nói thế cả. Ham rẻ chốc lát, khổ sở cả đời, ăn của người ta một viên kẹo, cái bụng sẽ phải gánh họa.
Ta cảm thấy những lời này rất có lý. Có những chuyện đã xảy ra rồi, Văn Phúc đã bắt đầu tăm tia Đậu Phộng rồi, hắn mặt mày hớn hở, suốt cả buổi chiều hôm đó đều là như vậy.
Thái độ của Văn Phúc đối với Đậu Phộng nếu dùng ngôn ngữ Mỹ của con để diễn tả thì thế này đây: Hắn lau sạch bụi dưới chân nàng. Hắn chính là làm như vậy đấy, hoàn toàn không sai chút nào. Chiều hôm ấy, khi Đậu Phộng kêu ca chân nó đau đớn như hai hòn than đang cháy, hắn tìm được một người nông dân, tốn mấy đồng xu, thuê một chiếc xe cút kít. Sau đó cởi chiếc áo khoác của chính mình ra, lót lên chiếc xe đầy bụi đất, mời người em họ cười khúc khích như công chúa của ta ngồi lên chiếc kiệu hoa mới của nàng. Sau khi đẩy nàng về nhà, hắn lại hát cho nàng nghe, có bài hát vui vẻ, có bài hát buồn bã, lại có cả những bài hát về hậu uyên và bảo tháp đen. Trong lòng ta thầm nghĩ, những lời bài hát này có phải xuất phát từ cuốn "Kim Bình Mai" đó không?
Lúc này, phấn trắng trên mặt Hoa Sống phần lớn đã rơi rớt lên áo khoác của cô ấy. Tôi có thể nhận ra mặt cô ấy đỏ y như tôi, cô ấy rất hạnh phúc. Tôi phải thừa nhận, tim tôi đau nhói, tâm trạng của tôi tồi tệ đến cực điểm.
Bạn có biết anh ta thế nào không? Hôm đó, anh ta trông thật giống một diễn viên, kiêu căng hách dịch, ra điều kiện, quyến rũ làm sao!
Một người đàn ông thực sự có giáo dục sẽ tìm một chiếc xe xích lô, giấu chúng tôi nhét trước cho phu xe vài đồng tiền, rồi đưa chúng tôi về nhà. Không thì, anh ta có thể mời cô gái này và chị họ của cô ấy nghỉ ngơi một lát, vào quán trà ăn chút bánh ngọt nhỏ, để bày tỏ sự quan tâm của mình. Anh ta sẽ không thể không để ý đến đôi chân của cô ấy, nhỏ nhắn và tao nhã làm sao, bảo sao lại đau chứ. Một người đàn ông tốt sẽ không thiên vị ai, sẽ không để một cô gái sinh lòng kiêu hãnh, còn người kia sinh lòng đố kỵ. Dù anh ta hứng thú với điều gì, anh ta quyết sẽ không đòi hỏi bất cứ thứ gì từ cô gái này để làm quà đáp lễ.
Nhưng Văn Phúc lại đòi. Anh ta đẩy Hoa Sống ra đường cái, anh ta nhìn thấy ngôi nhà lớn của chúng tôi, anh ta nhìn thấy những lá cờ mừng năm mới của chúng tôi, anh ta xin ba ngày sau tức là mùng ba Tết đến thăm nhà, để bày tỏ sự kính trọng đối với Hoa Sống, đối với gia đình cô ấy, và tất nhiên, cả đối với tôi nữa.
Hôm sau chính là ngày Tết, mọi người đều làm ra vẻ vui mừng và lịch sự, gọi với nhau rằng: "Con cháu đầy nhà!", "Sức khỏe trường thọ!", "Thăng quan phát tài!" những lời kiểu này, tuy chẳng có ý nghĩa gì mấy nhưng đọc lên cũng rất thuận miệng.
Đám gia nhân đặc biệt vui mừng, bởi vì ngày này họ không phải làm việc, tất cả các món ăn đều đã được nấu sẵn, trong tháng Giêng là không được động dao kéo, cũng không được nói lời thô tục. Chúng tôi ăn đồ ngọt và món nguội.
Hoa Sống trò chuyện với tôi về Văn Phúc, không biết ba ngày sau anh ta có đến hay không, không biết anh ta sống ở căn nhà thế nào ở bên kia đảo, cũng không biết mẹ anh ta có thực sự tốt đến mức khó mà tin nổi hay không. Tôi không nói với Hoa Sống câu nói trên quẻ xăm mà cô ấy rút được, cô ấy đã đuổi phắt mối lương duyên ở địa phương đi rồi.
Hôm sau Hoa Sống vừa sáng sớm thức dậy đã khóc. Cô ấy nói, cô ấy không muốn gặp Văn Phúc! Sao cô ấy có thể gặp anh ta chứ? Lúc anh ta nhìn thấy cô ấy, cô ấy đã dặm phấn, thoa son, mặc bộ quần áo thời trang biết bao, đích thực là một hiện thân của sắc đẹp. Cô ấy không thể trét son trát phấn lên mặt trước mặt bố mẹ mình, cô ấy lại không muốn để Văn Phúc nhìn thấy bộ dạng sau khi tẩy trang của mình. Tôi muốn nói với cô ấy rằng, Văn Phúc nhìn thấy dáng vẻ tự nhiên của cô ấy sẽ thấy cô ấy càng xinh đẹp hơn, nhưng tôi ngại không dám nói ra. Nói thật đấy, nếu anh ta nhìn thấy bộ dạng buồn cười của cô ấy mà vẫn thích cô ấy, thì đổi cách khác sao lại không thích cô ấy chứ?
Nhưng tôi không kịp thuyết phục Hoa Sống. Lúc Văn Phúc đến, cô ấy trốn mất. Đương nhiên, cô ấy từ chỗ trốn, từ đỉnh cầu thang, từ sau cánh cửa của một căn phòng tối, xuyên qua ô cửa kính của phòng kính thầm quan sát anh ta.
Sau đó thím cả và thím mới đã gặp Văn Phúc. Cậu ta gọi họ bằng một giọng vô cùng chân thành, "Dì ơi, dì ơi", cứ như thể đây là một cuộc đoàn tụ vô cùng vui vẻ vậy. Thoạt đầu, họ bị làm cho hoang mang, họ không nhớ ra cậu ta là ai. Sau đó cậu ta tặng họ một giỏ trái cây rất đắt tiền. Cậu ta nói là bố mẹ cậu ta bảo cậu ta đến, đặc biệt là mẹ cậu ta, có vẻ như là bạn cũ nhiều năm trước của thím cả. Cuối cùng, thím cả cũng cho là như vậy. Thím vắt óc suy nghĩ, cuối cùng cũng tìm được một người có nét hơi giống. "Ồ, hóa ra cậu là công tử nhà họ Văn, tôi nhớ ra rồi, lần trước gặp cậu, cậu vẫn còn là một đứa trẻ cơ mà."
Tôi nghe thấy lời này không nhịn được mà bật cười. Tôi khâm phục Văn Phúc, nếu nói đời này tôi từng có chút thiện cảm nào với Văn Phúc, thì chính là vào lần đó, có lẽ những lần khác giống như thế này vẫn còn vài lần nữa. Cậu ta thật táo bạo, thật thông minh, thật thú vị, thật đáng yêu. Cậu thấy đấy, cho đến tận bây giờ tôi vẫn nhớ mấy chuyện tốt của cậu ta cơ mà.
Văn Phúc rất may mắn, trong nhà đông nghẹt mấy trăm người, tất cả dân làng đều đến ăn bánh nếp, đây là một loại bánh làm bằng loại gạo rất dính, tên của nó nghe giống như "năm năm thăng tiến". Cho nên, nếu nói thím cả và thím mới bị chuyến viếng thăm của Văn Phúc làm cho bối rối, thì vào ngày hôm đó cũng là điều rất tự nhiên, người qua kẻ lại, ai mà biết rõ gia thế của ai chứ.
Lúc tôi đang bưng ra một bát chè trôi nước vừa nấu xong, Văn Phúc bước đến trước mặt tôi, "Cô ấy đâu rồi?"
"Cô ấy ngại." Tôi nói.
"Cô ấy không thích tôi à?" Cậu ta hỏi. Lông mày cậu ta khẽ nhíu lại, nhưng cậu ta vẫn đang cười.
"Chỉ là ngại thôi." Tôi lại nói thêm một câu. Nói Hoa Sống thích cậu ta, e là không thích hợp cho lắm.
"Sao tự nhiên lại ngại?" Cậu ta cười hỏi, "Có phải vì thích tôi nên mới ngại không?" Sau đó cậu ta lại quay sang tôi. "Cậu không ngại, điều này có nghĩa là cậu không thích tôi phải không? Ha, có phải vậy không?" Trên mặt cậu ta lại xuất hiện cái vẻ hay trêu chọc người khác ấy.
Tôi hầu như không thể trả lời cậu ta. "Tôi không phải thế — ý tôi là, sẽ không ngại đâu."
"Vậy nói không chừng cậu cũng thích tôi đấy." Cậu ta nói ngay.
"Ngại ngùng không có nghĩa là thích hay không thích." Tôi nói.
Chúng tôi cứ trò chuyện như thế, tôi muốn tỏ ra lịch sự chút, muốn tránh mấy câu hỏi đùa cợt của cậu ta, khiến tôi nhức cả đầu. Cuối cùng, cậu ta từ trong túi lấy ra một chiếc phong bì.
"Em gái nhỏ, làm ơn đưa cái này cho cô ấy." Cậu ta nói, "Nhờ bảo cô ấy ngày mai trả lời tôi nhé." Dứt lời cậu ta liền đi mất.
Hoa Sống vẫn luôn lén nhìn. Văn Phúc vừa đi, cô ấy liền lao ra từ sau cửa bếp, giật lấy bức thư từ tay tôi.
"Trong thư nói gì vậy?" Tôi hỏi cô ấy. Tôi cảm thấy tôi cũng có quyền đọc bức thư này, tôi đã làm biết bao nhiêu chuyện vì cô ấy. Hoa Sống nhún vai cất bức thư đi, giống như một con vịt mẹ vươn cánh bảo vệ mấy con vịt con của mình vậy. Cô ấy cười khúc khích, cắn ngón tay, nắm chặt tay lại, giật một lọn tóc.
"Trong thư nói gì thế?" Tôi lại hỏi một câu.
Hoa Sống liếc nhìn tôi một cái. "Ngày mai anh ta muốn có câu trả lời." Cô ấy nói, "Bảo anh ta là tôi không có câu trả lời cho anh ta đâu, cứ bảo anh ta đợi đi." Nói xong cô ấy liền bỏ đi.
Thế là tôi trở thành người đưa thư giữa Hoa Sống và Văn Phúc. Tôi mang những bức thư tình của họ chạy đi chạy lại, lúc thì ra chợ, lúc thì ra giữa đường. Tôi giúp đỡ hai người họ, tôi vốn không hề có ý định cướp Văn Phúc khỏi tay Hoa Sống. Tôi thề đấy, tôi sẽ không vì để tránh sự dằn vặt mà cố tình ghi nhớ thành một hình ảnh khác đâu.
Mỗi lần đưa thư cho Văn Phúc, tôi đều miêu tả Hoa Sống một lượt. Kể cho cậu ta nghe hôm nay Hoa Sống mặc quần áo màu gì, là màu hoa hồng, y hệt như khuôn mặt của cô ấy. Tôi kể cho cậu ta nghe trên đầu cô ấy cài cái gì, một chiếc kẹp tóc hình con rồng, là đang nghĩ đến cậu ta. Tôi còn bóng gió rằng cô ấy ăn không ngon, ngủ không yên, người cũng gầy đi rồi.
Đương nhiên những lời này chẳng có câu nào là thật cả, tôi chỉ dựa vào trí tưởng tượng của mình để nói về những sự lãng mạn ngốc nghếch của mấy cô gái đang mắc bệnh tương tư thời đó mà thôi.
Vậy kết quả sao lại thành ra tôi gả cho anh ta thế nhỉ? Thỉnh thoảng tôi muốn hỏi Hoa Sống. Nếu hôm nay cô ấy vẫn còn sống ở Trung Quốc, cô ấy nhất định sẽ đồng ý, tôi dám đảm bảo. Tôi vốn không hề khiến Văn Phúc chuyển ánh mắt sang người tôi, một chút cũng không, là chính Văn Phúc đã thay lòng đổi dạ.
Lòng dạ tôi quá tốt, cũng giống như cậu vậy; tôi rất ngây thơ, cũng giống như cậu vậy. Cho nên có lẽ cậu có thể hiểu mẹ cậu từng là một người như thế nào: một cô gái cô độc, một cô gái không có hy vọng, nhưng lại có bấy nhiêu nhu cầu. Bỗng nhiên có người đến gõ cửa nhà tôi — anh ta có sức hút, là lý do để mơ về một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Tôi còn có thể làm gì hơn nữa chứ? Tôi đã để anh ta bước vào.