Tôi nói trước với con gái rằng ngực mình đã không còn đau nữa, sau đó kể cho nó nghe lý do vì sao tôi muốn nó đến ngay lập tức.
Trên mặt nó vẫn hiện lên vẻ vô cùng lo lắng: "Có lẽ chúng ta phải đưa mẹ đi gặp bác sĩ để chẩn đoán cho chắc chắn."
"Mẹ đã chẩn đoán rồi, bây giờ cảm thấy tốt hơn nhiều. Bây giờ mẹ không phải trả cho bác sĩ một hóa đơn lớn nữa. Cởi áo khoác của con ra đi."
"Con nghĩ chúng ta vẫn nên đi khám bác sĩ."
"Ăn chút mì nước đã nào. Xem mẹ nấu gì này! Vẫn là món con ăn hồi nhỏ đấy, củ cải muối kim chi thêm vài lát thịt heo làm gia vị. Trời lạnh là con thích ăn nhất mà!" Tôi hy vọng con bé sẽ nhớ sự ấm áp mà bát mì của tôi mang lại cho nó. Nó cởi áo khoác, ngồi xuống ăn.
"Nhưng mà chỗ đau đó, rốt cuộc thế nào rồi?" Nó vừa nói, một thìa đầy đã vào miệng.
"Có nóng lắm không?" Tôi hỏi.
"Không nóng lắm." Nó đáp.
"Không đủ nóng à?"
"Vừa vặn, thật đấy."
Tôi múc thêm cho nó một ít. Tôi nhìn nó ăn bát mì tôi nấu, rồi tôi kể cho nó nghe.
Ngực tôi đã đau nhiều năm rồi, bởi vì trong lòng tôi đè nặng rất nhiều chuyện, đợi đến khi muốn nói ra thì đã quá muộn.
Tôi cảm thấy chuyện này phải trách mẹ tôi, nỗi đau này là do bà mang lại cho tôi, bà rời bỏ tôi mà không nói cho tôi lý do. Tôi cảm thấy bà muốn giải thích, nhưng vào khoảnh khắc cuối cùng, bà không thể nói được nữa, thế nên cho đến tận ngày hôm nay, tôi vẫn đang đợi bà quay lại, nói cho tôi biết rốt cuộc là chuyện gì xảy ra.
Tôi chưa từng nhắc với con về mẹ tôi sao? Cũng chưa từng nhắc việc bà rời bỏ tôi à? Đó là bởi vì chính bản thân tôi cũng không muốn tin điều đó, nói không chừng đây chính là nguyên nhân tôi chưa từng nhắc đến bà trước mặt con.
Đương nhiên, điều này không có nghĩa là tôi không nhớ bà, tôi rất yêu bà. Thực ra từ khi còn trẻ, tôi vẫn luôn giữ lại tóc của bà, dài ba inch, tôi cuộn nó lại, giấu trong một chiếc hộp sắt rất nhỏ. Nhiều năm như vậy, tôi vẫn luôn trân trọng cất giữ nó, tôi nghĩ ngày nào đó bà quay lại, tôi có thể dùng nó làm quà tặng để trả lại cho bà. Sau đó tôi tin rằng bà thực sự đã qua đời, nhưng tôi vẫn không vứt số tóc đó đi. Tôi nghĩ, tổng có một ngày tôi sẽ tìm được di thể của bà, tôi có thể chôn cất bà và tóc của bà cùng nhau, như thế, ở một thế giới khác, bà vẫn có thể buông xõa mái tóc của mình, vẫn có thể để con tuấn mã tư tưởng của mình tự do phóng khoáng phi nước đại.
Hình ảnh của bà trong ký ức của tôi chính là thế này, bà ở trong phòng của mình, tháo bím tóc ra, để nó xõa tung xuống, bà để tôi sờ tóc của mình.
Còn gì nữa không? Đương nhiên, lúc bà mất tích tôi mới sáu tuổi, tôi không thể nào nhớ hết tất cả mọi chuyện liên quan đến con người bà. Nhưng có một số chuyện tôi còn nhớ rất rõ: Tóc của bà rất nặng, tay bà dắt tôi rất có lực. Bà có thể gọt vỏ táo thành một vòng vừa dài vừa mỏng, đặt trong tay tôi giống như một con rắn phẳng màu vàng. Còn nhớ không? Mẹ cũng học theo cách này để gọt táo cho con.
Những chuyện khác thì tôi không nhớ rõ lắm. Tôi từng có một bức chân dung của bà, có được sau khi bà mất tích. Tôi không nhớ nổi cái miệng của bà trông thế nào, sao mà nghiêm túc, sao mà quật cường thế; tôi không nhớ rõ đôi mắt ấy, sao mà bi thương, sao mà mờ mịt. Tôi không thừa nhận người phụ nữ trong tranh chính là mẹ mình, nhưng tôi lại sẵn lòng tin bức tranh này chính là mẹ tôi, bởi vì đây là thứ duy nhất tôi có trong tay liên quan đến bà.
Tôi thường đặt bức tranh này lên đầu gối của mình, ngắm nghía nó từ các góc độ khác nhau, thế nhưng mặt của bà cứ quay sang một bên, chưa bao giờ nhìn thẳng vào tôi. Trông bà có vẻ như chẳng đang nghĩ gì cả. Tôi không biết trước hoặc sau khi vẽ bức tranh này, bà đang nghĩ những gì. Trước khi bà đi, tôi vẫn chưa kịp hỏi bà những câu hỏi này: Tại sao bà nói chuyện với bố tôi dữ dằn thế, nhưng trên mặt lại luôn nở đầy nụ cười? Tại sao cứ đến tối là bà lại nói chuyện với chiếc gương của mình, giống như khuôn mặt trong gương là của người khác vậy? Tại sao bà nói với tôi rằng bà không thể bồng tôi nữa, sau này tôi phải học cách dùng chính đôi chân của mình để đi khắp thiên hạ?
Có một hôm, đại khái là vào khoảng tôi mười tuổi — lúc đó, bà đã mất tích nhiều năm rồi — tôi lại mở bức chân dung của bà ra, tôi phát hiện trên khuôn mặt tái nhợt của bà xuất hiện một vết bẩn nhỏ, liền lấy một miếng vải mềm, thấm nước, lau mặt cho bà. Nhưng mặt của bà ngược lại càng đen hơn, tôi cố sức lau mãi lau mãi, chẳng mấy chốc, tôi phát hiện ra mình đã làm những gì thế này: Nửa khuôn mặt của bà đã bị tôi lau sạch sành sanh rồi! Tôi bật khóc nức nở, giống như chính tôi đã giết bà vậy. Kể từ dạo đó, tôi chỉ có thể mang theo một thứ tình cảm vô cùng đau đớn để nhìn bức tranh này. Con thấy đấy, tôi thậm chí còn đánh mất cả cơ hội gọi một bức tranh là mẹ.
Nhiều năm qua, tôi đã dốc sức muốn nhớ lại khuôn mặt của bà, những lời bà từng nói, những việc chúng ta từng làm cùng nhau. Tôi dùng hàng ngàn hàng vạn cách khác nhau để hồi tưởng về bà. Đây chính là điều người Trung Quốc hay nói — một vạn — một vạn là một con số lớn, luôn mang theo chút phóng đại. Nhưng tôi nhớ mẹ mình đã gần bảy mươi năm rồi, cho nên chắc chắn là có một vạn lần, diện mạo của bà chắc chắn cũng đã thay đổi một vạn lần, mỗi lần tôi hồi tưởng, bà lại thay đổi một lần, cho nên nói không chừng hồi ức của tôi về bà đã không còn chính xác như thế nữa.
Thật đau lòng làm sao! Đau lòng nhất chính là con đánh mất người mà con yêu thương — bởi vì người này vẫn luôn thay đổi. Sau đó con sẽ không phân biệt nổi, người tôi mất đi có phải là cùng một người không? Nói không chừng con mất đi nhiều hơn, nói không chừng mất đi ít hơn, hàng ngàn hàng vạn chuyện khác nhau đều cuộn chung vào một chỗ, có những thứ là trong ký ức, có những thứ là tưởng tượng ra, con không biết đâu là đâu, cái nào là thật, cái nào là giả.
Nhưng có một số chuyện là có thể chắc chắn, giống như đôi chân của tôi, chúng chỉ có thể đi kiểu này. Nhìn đôi chân của tôi xem, vẫn gầy như vậy, trên bắp chân không có lấy một chút cơ bắp! Mẹ tôi cưng chiều tôi như thế, tôi đã sáu tuổi rồi, bà vẫn ôm tôi đi khắp thế gian. Bản thân tôi không chịu nhích lấy một bước, không phải vì tôi bị bệnh hay không có sức đi bộ, tôi luôn muốn đứng ở độ cao bằng bà, dùng phương thức giống như bà để nhìn ngắm thế giới này.
Cho nên, tôi không nhớ rõ lắm những ngày tháng chúng ta sống trong tòa biệt thự kiểu Âu ở Thượng Hải. Tòa biệt thự đó trông thế nào, trong đó sống những người nào, tôi hoàn toàn không nhớ nổi. Nếu con tự đi bộ từ nhỏ, con sẽ biết chỗ nào quẹo là thông đến đâu. Mỗi khi tôi hồi tưởng về thời thơ ấu của mình, tôi chỉ nhớ phòng của mẹ tôi, tôi và bà ở chung một phòng, cùng với chiếc cầu thang dài dằng dặc đó, vẫn luôn thông đến hiên cửa có sàn nhà hoa văn gợn nước.
Trong ký ức của tôi, tôi vẫn có thể nhìn thấy cái cầu thang xoắn ốc từng tầng từng tầng rủ xuống ấy, mẹ tôi ôm tôi vươn người ra nhìn xuống dưới. Tầng dưới cùng của cầu thang ở những người thân của chúng ta, tôi nghĩ, mấy người vợ khác của bố tôi chắc là sống ở tầng dưới cùng, bất quá đây chỉ là suy đoán hiện tại của tôi. Mẹ tôi bảo tôi phải thật yên tĩnh, không được cười, cũng không được đặt câu hỏi. Tôi nín thở, cố gắng ngoan ngoãn, mặc dù tôi rất muốn hét to lên, nói cho bà biết tôi không dám nhìn xuống cái cầu thang xoắn ốc đó. Sau đó chúng ta nghe thấy tiếng của những người hầu, bà thẳng lưng lên. Cả hai chúng ta đồng thời hít một hơi thật sâu, tôi nắm chặt lấy bà, ăn mừng vì cả hai chúng ta đều không ngã xuống.
Mỗi khi tôi nghĩ đến cầu thang, tôi lại nhớ lại căn phòng đó, rồi lại nhớ đến một số chuyện khác, ngày càng nhiều, cho đến tận ngày bà rời đi. Nói không chừng, tất cả những thứ này, chẳng qua chỉ là hồi ức và tưởng tượng của tôi về bà, bây giờ toàn bộ cuộn vào cùng một ngày.
Chúng ta nhìn xuống dưới lầu xong, liền quay về phòng của mình. Lúc này trời vẫn còn sớm, những người khác trong nhà vẫn đang ngủ. Tôi không nhớ tại sao chúng ta phải dậy sớm thế này, cũng không tài nào đoán được. Xét từ sắc trời, khoảng cách từ lúc người hầu mang bữa sáng lên đã qua thêm một tiếng đồng hồ.
Mẹ tôi đang trải một loại bài đỏ đen đan xen lên sàn nhà để chơi trò chơi, bà nói đây là trò chơi nước ngoài, tên là CHIUKE, chính là "Ngục tù và còng tay".
Cho đến tận bây giờ tôi mới biết đây là trò chơi gì — cái CHIUKE mà bà nói, chắc chắn chính là CHECKERS cờ bay hoặc cờ đam phương Tây. Bà đặt những lá bài so le có trật tự lên sàn nhà, giải thích cho tôi nghe, màu sắc khác nhau đại diện cho những người chiến đấu vì các phe quân phiệt khác nhau, đều muốn dốc sức bắt lấy đối phương, nhưng sau khi bà giải thích nhiều lần, cái đầu nhỏ của tôi ngược lại bị làm cho hồ đồ rồi. Đương nhiên, lúc đó tôi vẫn chưa biết nói từ hồ đồ, thế nên tôi chỉ có thể phàn nàn rằng, tôi đói rồi.
Tôi có thể phàn nàn trước mặt mẹ tôi, cũng có thể ra lệnh cho bà. Bà đối với tôi không hề nghiêm khắc, không giống như một số người mẹ khác. Nói không chừng bà dịu dàng với tôi hơn là tôi dịu dàng với con. Đúng vậy, con nghĩ tới không? Bất kể là thứ gì, chỉ cần tôi muốn, tôi luôn có thể có được, chưa từng nghĩ rằng mình còn phải dùng thứ khác để đáp lại. Con thấy đấy, mặc dù tôi và mẹ tôi chỉ ở bên nhau trong một khoảng thời gian rất ngắn, nhưng tôi đã học được từ bà loại tình cảm ấm áp được xây dựng trên nền tảng chân thành này.
Vào ngày tôi nói mình đói bụng, tôi sớm đã biết mẹ tôi có một hộp bánh quy Anh, được giấu ở phía trên tủ trang điểm cao của bà. Bà lấy hộp bánh quy xuống, đây là loại bánh quy bà thích ăn nhất, cũng là loại tôi thích nhất — ăn vào không quá ngọt, cũng không quá mềm. Mẹ tôi có rất nhiều đồ ngon, đều được mua từ các quốc gia khác nhau. Bà thích bánh quy của Anh, đương nhiên, bà cũng thích đồ nội thất kiểu Anh, xe ô tô của Ý, găng tay và giày của Pháp, súp đặc và các bài hát tình ca u sầu của người Nga trắng, nhạc Jazz của Mỹ và đồng hồ Hamilton. Trái cây có thể là của bất kỳ quốc gia nào, ngoài ra tất cả những thứ khác đều phải là của Trung Quốc, nếu không thì chính là "không có đạo lý".
Bố tôi mở rất nhiều xưởng dệt, có một lần một khách hàng nước ngoài tặng mẹ tôi một lọ nước hoa Pháp. Bà mỉm cười nói với người đàn ông đó, bà rất vinh hạnh khi nhận được món quà nhã nhặn như vậy do một khách hàng lớn quan trọng tặng. Nếu con quen biết mẹ tôi, con sẽ biết, thực ra bà không thích người đàn ông đó, điều này có thể nhìn ra từ cách xưng hô của bà đối với người đó, "một khách hàng lớn quan trọng".
Sau đó, bà liền mở lọ nước hoa, cho tôi ngửi thử. Bà nói nó ngửi có mùi nước tiểu, tôi cũng cảm thấy có một chút. "Mấy gã nhà giàu nước ngoài này tại sao phải tốn tiền lớn để vẩy thứ hôi hám này lên người mình chứ?" Mẹ tôi nói, "Tại sao không thường xuyên tắm rửa? Thật là không có đạo lý để nói." Bà đổ hết nước hoa vào bồn cầu trong phòng của mình, sau đó đưa cho tôi chiếc lọ thủy tinh tròn. Chiếc lọ có màu xanh đậm, tôi giơ nó lên cao hơn bệ cửa sổ, lắc lắc một cái, ánh sáng liền loanh lổ khắp phòng.
Trưa hôm đó tôi vừa ăn bánh quy Anh, vừa chơi lọ nước hoa Pháp; tôi có thể nghe thấy những âm thanh buổi sáng, là mẹ tôi dạy tôi cách lắng nghe thế nào. Bà luôn Vểnh tai lên lắng nghe từng âm thanh, sau đó dạy tôi cách phân biệt tầm quan trọng của nó. Nếu âm thanh đó quan trọng, tai của bà sẽ vểnh lên, nếu không quan trọng, bà lại quay đầu làm việc mà bà đang làm dở. Tôi cũng làm theo dáng vẻ của bà.
Chúng ta nghe thấy tiếng người hầu đi lên đi xuống trên hành lang, miệng lầm bầm nhỏ nhẹ, bê bồn cầu, đổ bồn cầu. Lại còn nghe thấy tiếng ai đó kéo rương trên cầu thang, ngoài ra có người lớn tiếng la hét "Có chuyện gì thế, phát thần kinh à?" Bên ngoài, có người hắt một chậu nước lớn từ cửa sổ cao xuống, chốc lát nước tung tóe khắp nơi ở sân sau — ào! — âm thanh đó giống như dầu nóng đang chiên rán vậy. Qua một hồi lâu, cuối cùng chúng ta cũng nghe thấy tiếng đũa gõ vào vành bát "keng keng keng", cho thấy người hầu đang mang bữa sáng đến từng phòng.
Mỗi buổi sáng, những âm thanh chúng ta thường nghe thấy chính là những thứ này. Nhưng buổi sáng hôm đó, mẹ tôi hình như rất chú ý đến tất cả mọi âm thanh, bà vểnh tai lên, tôi cũng thế — nhưng trong lòng tôi vẫn còn một nỗi nghi ngờ chưa được giải đáp — rốt cuộc bà có nghe thấy âm thanh mình muốn nghe hay không, trong lòng bà cảm thấy thất vọng, hay là yên tâm.
Tôi còn chưa ăn xong cơm, mẹ tôi đã vội vã rời khỏi phòng; bà đi rất lâu, mặc dù có lẽ chỉ vài phút, nhưng con biết đấy, đối với trẻ con mà nói, một phút và một giờ chẳng có gì khác nhau, chúng đều sẽ trở nên mất kiên nhẫn. Con cũng như vậy.
Tôi cảm thấy không thể đợi thêm được nữa, liền mở cửa phòng, lén lút nhìn ra bên ngoài, nhìn thẳng đến tận cuối hành lang. Tôi nhìn thấy mẹ tôi và bố tôi đang đứng ở đó, đang cãi nhau bằng những âm thanh chói tai.
"Chuyện này không cần cô phải bận tâm," bố tôi nghiêm khắc nói, "đừng nhắc lại nữa."
"Tôi đã mở lời rồi," mẹ tôi nói rất nhanh, "lời đã nói ra rồi."
Tôi thấy họ cãi nhau không phải là lần đầu tiên. Mẹ tôi không giống như những người vợ khác của bố tôi, bọn họ từng người một đều giả nhân giả nghĩa, ra vẻ còn vui mừng hơn người khác, giống như đang tranh đoạt một giải thưởng lớn vậy.
Thái độ của mẹ tôi rất chân thành. Đương nhiên, bà có thể làm được sự dịu dàng, nhưng bà coi trọng sự trung thực và cởi mở hơn. Mọi người đều nói, đây là khuyết điểm của bà. Nếu bà tức giận, sẽ đem tất cả mọi thứ nói ra hết, sau đó rước lấy một tràng phiền phức.
Cho nên sáng hôm nay, khi tôi nghe thấy mẹ và bố lại cãi nhau, trong lòng thực sự sợ hãi vô cùng. Bọn họ tuy không la hét lớn tiếng, nhưng tôi nhìn ra được, cả hai bên đều rất tức giận. Giọng nói của bố tôi khiến tôi muốn mau chóng đóng cửa lại, trốn đi, còn giọng nói của mẹ tôi — rất khó để hình dung theo cảm giác của một cô bé — tôi chỉ có thể nói, nghe nó vô cùng chói tai, giống như một tấm vải đẹp bị xé rách, không bao giờ có thể khâu lại được nữa.
Bố tôi quay người bước đi. Sau đó tôi nghe thấy mẹ tôi nói, "Nhị di thái thứ hai", giống như mấy chữ này là câu chú ngữ vậy. Bố tôi không quay đầu lại, chỉ nói một câu, "Chuyện này đã định rồi, cô không thay đổi được đâu." "Anh tưởng tôi không thay đổi được à?" Mẹ tôi quát vào tấm lưng của bố tôi.
Lúc đó tôi không biết mấy chữ "Nhị di thái thứ hai" có ý nghĩa gì, chỉ biết những chữ này rất không hay, từng có người dùng từ ngữ này để mắng mẹ tôi, từ ngữ này luôn khiến mẹ tôi ngồi trước gương mấy tiếng đồng hồ, mắng cái người nhị di thái thứ hai cứ trừng trừng nhìn bà đó.
Cuối cùng mẹ tôi quay đầu lại, trên mặt bà hiện lên một nụ cười kỳ lạ, là thứ mà trước đây tôi chưa từng thấy bao giờ. Bà vừa nhìn thấy tôi, tôi lập tức nhỏ giọng phàn nàn, "Vẫn đói".
"Đến đây, đến đây." Bà dịu dàng nói. Sau đó nụ cười của bà lại biến thành loại mà tôi quen thuộc, nhưng tôi vẫn đang thầm nghĩ, bà tức giận thế sao còn cười chứ?
Quay về phòng xong, bà bảo tôi mặc quần áo vào. "Phải mặc bộ đẹp ấy." Bà nói, "Chúng ta ra ngoài."
"Còn có ai khác nữa không?"
"Chỉ hai chúng ta thôi." Bà nói. Điểm này có hơi bất thường. Nhưng tôi không hỏi bà, tôi rất vui vì có cơ hội hiếm có thế này. Sau đó bà tốn rất nhiều thời gian để chuẩn bị, tôi đứng bên cạnh nhìn. Tôi rất thích nhìn mẹ tôi ăn diện, bà khoác một bộ trang phục kiểu Tây, đi đến trước gương soi một cái, rồi lại cởi ra, đổi sang một bộ kiểu Trung, lại cởi ra, rồi lại đổi sang trang phục kiểu Trung, nhíu nhíu mày. Cuối cùng, sau khi đổi rất nhiều lần, bà vẫn chọn bộ đầu tiên, liền mặc bộ này, đây là một chiếc áo ngắn tay màu ngọc bích, phối với chiếc váy xếp ly thẳng mềm mại dài đến mắt cá chân.
Tôi đợi bà ôm tôi lên, như vậy chúng ta cuối cùng có thể rời đi rồi.
Nhưng bà không làm như vậy, mà vỗ vỗ đầu tôi nói, "syinke, con đã lớn rồi." Bà luôn gọi tôi là syinke, hai chữ này có nghĩa là "trái tim và lá gan", gan là cơ quan giống trái tim nhất trong cơ thể, tiếng Anh đọc lên rất uốn lưỡi, không hay cho lắm, nhưng trong tiếng Trung, phát âm của tâm can rất đẹp, mẹ nếu rất yêu con cái của mình, sẽ gọi như thế, mẹ cũng thường xuyên gọi con như vậy. Con có hiểu không?
"Tâm can," mẹ tôi nói, "hôm nay mẹ muốn dạy con bí mật quan trọng, nhưng trước tiên con phải học cách tự đi bộ." Tôi còn chưa kịp khóc hay phàn nàn, bà đã nhấc chân bước đi trước mặt tôi rồi. "Đi thôi, đi thôi." Giọng điệu nói chuyện cứ như phía trước có thứ gì tốt đẹp lắm đang đợi chúng ta vậy. Tôi vội vàng đi theo sau bà, cứ thế, chúng ta ra khỏi cổng lớn, ngồi lên một chiếc xe ba gác kiểu mới, loại xe này đi qua các con phố nhỏ nhanh hơn xe kéo tay rất nhiều.
Lúc đó đang là đầu hạ, buổi sáng vẫn hơi se lạnh. Nhưng hễ đến buổi chiều, là nóng như cái lồng hấp. Rời khỏi căn nhà chúng ta ở một đoạn đường, tôi nghe thấy đủ loại âm thanh: tiếng rao hàng của người bán hàng rong, tiếng xe đẩy kẽo kẹt, tiếng còi ô tô kêu inh ỏi, còn có cả từng tiếng búa gõ — khắp nơi đều có thể nhìn thấy cảnh tượng nhà cũ bị phá đổ, nhà mới mọc lên. Lắng nghe tất cả những âm thanh này, tôi thật sự vô cùng vui sướng! Mẹ tôi cũng vô cùng vui sướng, giống như biến thành một người khác, bà liên tục cười nói, đùa giỡn, chỉ trỏ, vui sướng kêu lên, giống như người bình thường vậy.
"Tâm can, mau nhìn kìa!" Đó là tủ kính của một cửa hàng, bên trong trưng bày găng tay nữ làm bằng da bê. Chúng ta bước xuống xe ba gác, đi xem tủ kính. "Nhiều bàn tay thon thả trong không khí đang vẫy chào khách hàng kìa." Mẹ tôi nói. Tôi cũng uốn nắn bàn tay của mình thành hình con rắn ngoe nguẩy, thế là hai người cười ha hả. Chúng ta lại lên xe ba gác.
"Nhì kìa!" Qua một lúc, tôi hét lên. Một người đàn ông trong miệng phun ra một dải bột mì dài rơi vào một cái nồi đang sôi. Tôi rất đắc ý vì phát hiện ra thứ thú vị chỉ cho mẹ tôi xem. "Trông ông ấy giống một con cá," tôi nói, "một con cá đang phun nước!" Tôi đứng dậy từ trên xe ba gác nói. Khối bột mì đó biến thành từng sợi mềm nhũn.
"Ông ấy đang dùng miệng của mình làm công cụ nấu ăn." Mẹ tôi giải thích cho tôi nghe.
Hôm đó, dọc đường chúng ta nhìn thấy vô số thứ thú vị, giống như mẹ tôi cố ý muốn làm cho mắt tôi mở to, tai tôi vểnh dài, ghi nhớ tất cả mọi thứ. Nhưng có lẽ, đây chẳng qua chỉ là tưởng tượng hiện tại của tôi làm tôi nghĩ đến điều này; có lẽ bà không có ý đồ như vậy; có lẽ, chúng ta căn bản là không nhìn thấy những thứ mà tôi vừa nói nãy giờ; có lẽ chúng ta căn bản là chưa từng đi qua tất cả những nơi mà trong ký ức tôi từng đến, bởi vì sao chúng ta có thể làm nhiều việc như vậy trong một ngày chứ? Nhưng những gì tôi nhớ chính là thế này, thậm chí còn nhiều hơn nữa.
Ngày hôm đó, chúng ta đi khắp tất cả những nơi bán đồ tốt trên thế giới này. Ở đường Chiết Giang, bà nói ở đó có giày da Pháp tốt nhất, nhưng bà chẳng mua đôi nào cả. Ở Thần Hoàng Miếu, bà nói ở đó bán một loại cao làm đẹp làm từ bột trân châu rất đẹp, bà bảo tôi xoa một ít lên mặt, nhưng kết quả cũng không mua. Ở chùa Tĩnh An, bà nói cho tôi một phần kem Sundae của Mỹ, bà không ăn, nói với tôi "Quá dính, quá ngọt rồi". Ở đường Phúc Châu, bà nói con có thể mua được đủ loại sách, đủ loại báo chí, cho dù là của Trung Quốc hay nước ngoài. Bà mua một số thứ, một phần báo, nhưng tôi không nhớ rõ là báo gì, bởi vì lúc đó tôi còn chưa biết chữ.
Sau đó chúng ta đến Tiểu Đông Môn, tất cả các hàng bán hải sản ngon nhất đều được bày ở đó. Bà nói bà muốn đi nếm thử một loại hải sản mà nhiều năm rồi bà chưa ăn. Đây là một loại cá nhỏ rất hiếm, tên là cá Oa Oa, bởi vì âm thanh nó kêu lên giống như em bé vậy — oa — oa! Tứ chi của nó đều sẽ khua khoáy. Chúng ta tìm thấy con cá này, tôi quả nhiên nghe thấy tiếng nó kêu lớn tiếng, tứ chi của nó cũng đang khua khoáy, đúng như mẹ tôi nói.
"Từ lâu lắm rồi mẹ đã thích ăn con cá này," bà nói, "thịt vừa non vừa tươi, đến cả vẩy trên người nó cũng mềm và ngọt như chiếc lá non vừa mới mọc vậy. Nhưng bây giờ mẹ nghĩ, ăn loại sinh vật thế này quá tàn nhẫn, mẹ không còn thèm ăn nữa."
Tôi chú ý đến tất cả mọi nơi và mọi thứ mà mẹ tôi tìm thấy. Tôi nhớ lúc đó tôi nghĩ, đây là những điều quan trọng, phải chú ý lắng nghe. Phải ghi nhớ rất nhiều dục vọng, phải tìm thấy rất nhiều nơi. Tôi cảm thấy mẹ tôi đang dạy tôi một bí mật — sự thỏa mãn tức thì đối với đủ loại nguyện vọng chính là nơi nằm ở hạnh phúc của tôi.
Buổi chiều hôm đó, chúng ta còn đến rạp hát. Bên ngoài đã rất nóng rồi, mặt trời chiếu rọi gay gắt, khiến người ta cảm thấy cơ thể dính nhấp nháp. Cho nên tôi rất vui vì chúng ta có thể bước vào rạp hát tối thui. Đương nhiên tôi đã nghĩ sai, tôi cứ tưởng bên trong rạp hát sẽ mát mẻ hơn một chút. Lần trước tôi đến đây chắc chắn là mùa đông hoặc mùa xuân, nhưng ngày hôm đó rạp hát giống như một cái lồng hấp, vừa oi vừa nóng. Lúc chúng ta đi vào, bộ phim đã bắt đầu chiếu rồi, kể về câu chuyện của một cô gái tóc vàng, có người đang chơi đàn piano, âm thanh chói tai hỗn tạp.
"Con không nhìn thấy, con không nhìn thấy." Tôi la lên với mẹ tôi, không dám bước thêm một bước nào nữa.
"Đợi một lát là được rồi." Mẹ tôi nói. Đợi mắt tôi dần thích ứng với bóng tối rồi, tôi nhìn thấy từng hàng người đang ngồi, ai nấy đều đang quạt quạt. Mẹ tôi đếm số ghế "... sáu, bảy, tám". Tôi đối với việc bà đếm ngược từ sau tới tìm hàng thứ tám không có ý kiến gì lắm, chỉ có hứng thú với việc bà đếm số, bởi vì lúc đó tôi đang học đếm số. Sau đó chúng ta từ hàng thứ tám chen vào giữa, cho đến khi mẹ tôi tìm được một chỗ trống. Bà thấp giọng bảo người khác ngồi dịch sang bên cạnh, lúc đó tôi còn tưởng bà đang nói "xin lỗi", sau này mới biết bà đang nói chuyện khác.
Trước đây tôi và mẹ tôi từng xem rất nhiều tranh động, toàn là phim câm: Sác-lô (Charlie Chaplin), gã béo đó, cảnh sát và xe cứu hỏa, cao bồi cưỡi ngựa đi vòng quanh. Buổi chiều hôm đó, vở diễn là câu chuyện một cô bé mồ côi bán diêm trong tuyết, cô bé rét run cầm cập. Người phụ nữ ngồi trước mặt tôi khóc, một mặt còn liên tục sụt sịt, nhưng tôi lại cảm thấy cô bé đó rất may mắn, có thể tận hưởng sự mát mẻ vào ngày thời tiết oi bức. Tôi cứ nghĩ như vậy, không tri không giác liền ngủ thiếp đi trong rạp hát tối thui.
Đợi khi tôi tỉnh lại, đèn đã bật sáng, mẹ tôi đang tựa vào người đàn ông ở chiếc ghế bên cạnh, nói chuyện thì thầm với anh ta bằng một giọng điệu nghiêm túc. Tôi cả kinh thất sắc, bà hình như đang làm một chuyện nguy hiểm, nói chuyện với một người lạ. Thế nên tôi lầm bầm nhỏ giọng, kéo mẹ tôi về phía tôi một chút. Người đàn ông đó khom người một chút, mỉm cười với tôi. Anh ta không quá già, trông rất có phong thái; da của anh ta rất trắng rất sáng, không giống như khuôn mặt của những người ngày nào cũng làm việc ở bên ngoài, nhưng trên người anh ta mặc lại là một chiếc áo dài thông thường ở vùng quê, là màu xanh bình thường, tuy nhiên rất sạch sẽ. Mẹ tôi nói lời cảm ơn với anh ta, sau đó chúng ta đứng dậy rời đi.
Trên đường về nhà, tôi lại ngủ thiếp đi, sự phấn khích của tôi tiêu tan sạch sành sanh. Tôi chỉ tỉnh lại một lần — chiếc xe xóc mạnh một cái làm tôi giật mình tỉnh giấc, người phu xe ba gác đang mắng chiếc xe đẩy đi chậm chạp trên đường. Khuôn mặt của tôi tựa vào mái tóc của mẹ tôi, tôi phát hiện ra mình đang nhìn màu sắc mái tóc của bà. Màu sắc mái tóc của bà trông không giống với màu của tôi, không giống với mái tóc của những người phụ nữ khác trong nhà, thậm chí không giống với mái tóc của bất kỳ ai mà tôi từng nhìn thấy, vừa không phải màu nâu đen cũng không phải màu đen nâu, dù sao không thể dùng từ màu đen để hình dung.
Đối với màu tóc của mẹ tôi, con chỉ có thể cảm nhận, không thể nhìn, nhìn là nhìn không ra đâu — đó là một màu đen rất rất sâu, đen giống như nước trong giếng sâu lấp lánh ánh bạc. Trên búi tóc của bà cài lẫn hai sợi tóc bạc, giống như viên sỏi ném vào trong nước tạo thành gợn sóng. Nhưng dùng những từ ngữ này để hình dung mái tóc của mẹ tôi thì vẫn còn kém xa lắm.
Tôi còn nhớ mấy chuyện xảy ra vào đêm hôm đó. Ban ngày tôi đã rất mệt rồi, chúng ta ăn tạm một chút gì đó trong phòng, sau đó mẹ tôi dạy tôi một loại mũi thêu, bà nói là do tự mình phát minh ra. Tôi học rất ngốc nghếch nhưng bà không phê bình tôi. Không chỉ một lần, bà luôn khen ngợi tất cả những gì tôi làm. Sau đó lúc giúp tôi cởi quần áo lên giường, bà lại dạy tôi một bài học nữa, cách đếm ngón tay và ngón chân. "Nếu không, mỗi buổi sáng con tỉnh dậy làm sao biết được vẫn có ngón tay và ngón chân số lượng bằng thế?" Bà nói, "... sáu, bảy, tám, chín, mười."
Con thấy đấy, mẹ tôi có giáo dục biết bao, thông minh biết bao chứ! Bà luôn có thể tìm ra lý do mà tôi bắt buộc phải học. Có một lần bà từng nói với tôi, bà từng muốn làm một giáo viên, giống như vị truyền giáo từng dạy bà vậy.
Sau đó bà ngồi trên chiếc ghế đẩu trước bàn trang điểm của mình, tôi nhìn bà cởi quần áo, tháo chiếc vòng tay bằng vàng và hoa tai ngọc bích của bà xuống. Bà phát hiện tôi đang nhìn bà qua chiếc gương, liền quay đầu lại, đeo hoa tai vào lại.
"Có một ngày, những thứ này đều là của con." Bà nói bằng một giọng khàn khàn. Tôi gật gật đầu.
"Còn có cái này nữa." Bà vỗ vỗ hộp trang sức của bà. Tôi lại gật gật đầu.
"Sau khi con đeo những thứ này lên rồi, mọi người sẽ cảm thấy lời nói của con có giá trị hơn." Tôi lại gật đầu một cái.
"Nhưng con không được nghĩ như thế, tuyệt đối không." Bà nói. Tôi lập tức lắc đầu.
Bà lên chiếc giường mà hai chúng ta cùng ngủ, vuốt phẳng mái tóc của tôi. Tôi ngẩng đầu nhìn khuôn mặt của bà, bà liền hát cho tôi nghe một bài hát ngắn — kể về câu chuyện một con chuột nhắt ăn trộm dầu đèn. Con còn nhớ không? Mẹ cũng thường xuyên hát bài hát này cho con nghe. Tối hôm đó, tôi còn chưa nghe hết bài hát này đã ngủ say sưa rồi.
Tôi mơ thấy tất cả những gì tôi nhìn thấy vào ban ngày: Một con cá đang oa oa khóc trong miệng một con chuột nhắt nhỏ, hát một bài hát; một cô gái tóc vàng muốn mua đôi giày da Pháp đó; tôi dùng ngón tay quấn quanh mái tóc của mẹ tôi, bỗng nhiên phát hiện ra đó căn bản không phải là tóc, mà là đồ thêu và trân châu; mẹ tôi ngồi bên bàn trang điểm, đang chải tóc, bà hô lên hướng về phía gương: "Nhị di thái thứ hai! Nhị di thái thứ hai!" Nói không chừng phần cuối cùng này không phải là mơ.
Sáng ngày hôm sau, lúc tôi tỉnh dậy, phát hiện mẹ tôi không có trong phòng. Tôi tưởng bà giống như thường ngày, xỏ dép lê, lén lút dậy, đi xuống lầu. Tôi mở cửa, nhìn ra bên ngoài, chỉ nhìn thấy những người hầu xách bồn cầu ra khỏi phòng. Tôi quay về phòng, ngồi đợi bà quay lại. Sau đó truyền đến âm thanh "keng keng keng", nữ hầu bưng hai bát "sữa đậu nành tươi" bốc nghi ngút khói đi vào. Con biết đấy, chính là món súp mặn giống như sữa mà chúng ta ăn ở Thanh Tuyền Các vào cuối tuần, lần trước Cleo đã tự mình uống sạch một bát lớn, một giọt cũng không bắn ra ngoài.
Nhưng dù thế nào đi nữa, sáng hôm đó, tôi hoàn toàn không muốn uống sữa đậu nành. "Mẹ tôi — mẹ đi đâu mất rồi chứ?" Tôi hỏi.
Nữ hầu không trả lời tôi, chỉ nhìn quanh bốn phía trong phòng một chút, vẻ mặt ngơ ngác. Sau đó đặt bát lên bàn.
"Mau uống đi. Đừng để nó nguội." Cô ta nói xong, vội vã bước ra khỏi phòng. Tôi đợi mãi đợi mãi, đợi đến khi bát của tôi đều nguội ngắt. Tôi thật sự đợi không nổi nữa, bắt đầu khóc nức nở, nhưng chỉ khóc nhỏ tiếng. Tôi khóc đến nghẹn cả cổ họng, tôi phải đợi mẹ tôi quay lại, mới có thể dừng lại. Tôi muốn vừa khóc vừa nói cho bà biết, tôi đợi bà bao lâu rồi. Tôi quyết định, đợi bà vừa quay lại tôi sẽ chỉ vào bát sữa đậu nành nguội đó cho bà xem. Tôi sẽ đòi bà mấy cái bánh quy Anh, ít nhất là ba miếng, tôi mới vui vẻ trở lại. Tôi lại đợi thêm một lúc nữa, tôi liếm liếm vành bát, làm cho vành bát nhem nhuốc lộn xộn. Tôi đứng lên một chiếc ghế, tự mình lấy cái hộp bánh quy đó xuống. Nhưng bà vẫn chưa quay lại.
Nữ hầu lại quay vào, bưng bát đi. Cô ta nhìn cái vẻ nhem nhuốc lộn xộn do tôi làm ra, đánh giá căn phòng một lượt. "Xem con đã làm những gì kìa!" Cô ta quở trách tôi một câu, sau đó vội vã bước đi. Cô ta vừa đóng cửa lại, tôi liền mở ra. Tôi nhìn thấy người hầu đang nói chuyện với quản gia, hai người bọn họ lao cắm cổ xuống cầu thang, tôi vội vàng chạy đến miệng cầu thang, nhìn bọn họ đi xuống. Sau đó tôi nghe thấy dưới lầu truyền đến âm thanh rất lớn, rất nhiều tiếng bước chân, cửa phòng mở ra đóng vào. Tôi nhìn thấy nãi nãi, tổ mẫu của tôi thong thả đi lên cầu thang, bên cạnh đi theo một người hầu, đang nói chuyện rất nhanh với bà ấy. Nãi nãi không phải là kiểu tổ mẫu vỗ vỗ đầu tôi, khen tôi xinh đẹp. Bà ấy là tổng quản của tất cả những người phụ nữ trong căn nhà này. Tôi là cô bé nhỏ nhất trong số đó, bà ấy chỉ khi muốn mắng tôi mới chú ý đến tôi. Tôi phi nhanh vào phòng, ngồi lên giường, sợ chết khiếp. Tôi biết, rắc rối đến rồi.
Bọn họ vừa vào phòng, tôi liền khóc òa lên. "Mẹ con đi đâu rồi?" Nãi nãi hỏi đi hỏi lại tôi, "Bà ấy đi lúc nào? Bà ấy mang theo những đồ vật gì bên người? Có phải có người đến đón bà ấy không?"
Một cô bé không biết gì cả thì có thể nói gì chứ? Tôi lắc đầu, chỉ liên tục khóc. "Bà ấy không đi! Bà ấy vẫn ở đây, ở ngay đây này."
Đột nhiên, lại có một người xông vào phòng, tôi không nhớ là ai, bởi vì tôi chỉ chú ý đến thứ mà cô ta cầm trong tay, đó là mái tóc của mẹ tôi, là tóc bị cắt xuống, lủng lẳng giống như một cái đuôi ngựa vậy! Tôi thét chói tai lên. Đương nhiên tôi thét chói tai lên rồi, tôi cảm thấy giống như tận mắt nhìn thấy đầu của bà bị chém đứt vậy, quá đáng sợ!
Bây giờ ký ức của tôi đối với khoảng thời gian đó đã vô cùng mơ hồ rồi, chỉ nhớ mọi người đều rất căng thẳng, đều đang bàn tán xôn xao. Bố tôi rất tức giận, ông đến phòng của mẹ tôi, mở ngăn kéo, tủ quần áo lớn, hộp trang sức của bà, lục tung mọi thứ lên. Ông ngồi xuống, không nói một lời, sau đó trừng mắt nhìn tôi nghiêm khắc, giống như là tôi đã làm sai chuyện gì vậy.
"Bà ấy đi đâu rồi?" Ông hỏi. Tôi dốc sức muốn tuân lệnh ông, liền đoán mò cho ông nghe. Tôi nói đường Chiết Giang, tôi nói có lẽ là Thần Hoàng Miếu, tôi nhắc đến chợ cá Tiểu Đông Môn, tôi nói bà còn từng đi rạp chiếu phim.
Tôi suốt ba ngày không rời khỏi phòng, tôi ngồi ở đó, đợi mẹ tôi. Không ai nói với tôi rằng tôi phải đợi ở đó, nhưng cũng không ai đến đưa tôi đi cả. Nữ hầu mang thức ăn cho tôi đến không nói một câu nào, tôi cũng không hỏi cô ta câu hỏi nào.
Ngày thứ tư, tôi tự mình một mình xuống lầu. Tôi đã kể với con rồi, mẹ tôi luôn ôm tôi đi khắp thế gian, cho nên chân của tôi chưa bao giờ cường tráng cả. Ngày hôm đó, chân của tôi càng yếu ớt hơn, nhưng có lẽ là bởi vì tôi sợ hãi sẽ xảy ra chuyện gì đó.
Tôi nói với con, sự việc còn tồi tệ hơn tôi tưởng tượng. Tôi nhìn thấy trước cửa treo hoành phi làm tang sự, không cần hỏi, tôi cũng biết là dùng để làm gì. Nhưng tôi vẫn không dám tin, cho nên tôi đi đến bên cạnh một cô gái giặt quần áo cho chúng ta, hỏi cô ta ai chết vậy. Cô gái đó nói, "Sao con còn hỏi chuyện này!" Tôi đi đến chỗ lão A-sẩm vừa đến ngày hôm nay, cô ấy nói, "Đừng nhắc đến chuyện này nữa."
Có lẽ là một tuần sau, có lẽ còn sớm hơn một chút, tôi được đưa đến đảo Sùng Minh, sống cùng em trai của bố tôi và hai người vợ của ông ấy, lão A-sẩm và tân A-sẩm. Ngồi tàu thủy từ Thượng Hải, đi dọc sông Hoàng Phố ngược lên phía bắc đến cửa sông, lại đến hòn đảo này, mất hai tiếng đồng hồ. Gia đình bố tôi vốn dĩ xuất thân từ vùng quê của hòn đảo này. Nhìn từ bản đồ, nơi này có lẽ chẳng qua chỉ là một chấm nhỏ xíu trong nước, nếu không chú ý thì hầu như không nhận ra.
Nói chung, ngày đến, do sự xóc nẩy dọc đường của tàu thủy, cộng thêm sự đau buồn trong lòng, dạ dày của tôi khó chịu vô cùng. Tôi khóc lóc om sòm, khóc đến mức vô cùng đau thương, đến nỗi lão A-sẩm đe dọa sẽ chẻ mặt tôi làm đôi. Tôi hét lên, "Con muốn mẹ! Con muốn ở cùng mẹ! Nói cho bà ấy biết con ở đâu, bà ấy sẽ đến đón con đi."
Đây chính là điều đại thẩmm đã nói với tôi: "Suỵt! Mẹ con đã an táng ở đây rồi, trên hòn đảo này."
Hôm nay nếu con hỏi tôi, mẹ tôi rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì, tôi cũng không nói rõ được, chỉ có thể đem những lời mọi người nói với tôi kể cho con nghe. Đây không phải là sự thật, chỉ là mấy lời đàm tiếu mà thôi.
Nhưng tôi biết, mẹ tôi đã làm ra một chuyện vô cùng mất mặt, cho nên mọi người nói bà đã chết, muốn chôn vùi chuyện xấu hổ của bà. Cho nên không một ai nhắc đến bà trước mặt bố tôi nữa, cho nên bọn họ muốn đưa tôi đi, để tránh tôi nhớ nhung bà.
Thế nhưng, bọn họ vẫn thường xuyên nói những lời đàm tiếu về bà sau lưng, mỗi một người đều nói — lão A-sẩm, tân A-sẩm, thúc thúc, và cả bạn bè của họ, — vào lúc trà dư tửu hậu, vào lúc nghỉ trưa. Nhiều năm qua, mẹ tôi đã trở thành đối tượng để bọn họ chế nhạo, tài liệu cho những truyền thuyết, tin tức cơ mật đáng sợ và đề tài về chuyện tình ái phong lưu, giống như đào mồ của bà lên, sau đó đẩy bà vào trong, rồi lại ném thêm nhiều bùn thối hơn lên mồ của bà. Con nghĩ xem, một cô bé tận tai nghe người khác bàn ra tán vào về mẹ của mình, cảm giác trong lòng con bé sẽ thế nào chứ?
Những lời bọn họ nói tôi đều nghe thấy cả, trong lòng thực sự khó chịu vô cùng, nhưng tôi lại không thể bịt tai lại được. Tôi muốn tìm hiểu rõ ràng rốt cuộc mẹ tôi đã rời đi thế nào, tại sao chưa từng nói cho tôi biết nguyên nhân.
Cứ như vậy, mẹ tôi đã trở thành một điều bí ẩn, mỗi một câu thị phi đều gợi ra một câu hỏi trong cái đầu nhỏ của tôi. Nếu bà thực sự đã chết, tại sao bọn họ không tổ chức tang lễ cho bà? Nếu bà vẫn còn sống, tại sao bà không quay lại đón tôi đi? Nếu bà trốn thoát, vậy thì bà đã trốn đi đâu chứ?
Có đôi khi tôi dốc sức muốn gom tất cả những lời thị phi mà tôi nghe được lại với nhau, gom thành một câu chuyện hoàn chỉnh. Nhưng mỗi một phần đều mâu thuẫn lẫn nhau với phần sau, cho đến cuối cùng, không có một phần nào đứng vững được.
Thế nên tôi liền đem tất cả những chuyện về mẹ tôi mà tôi biết, bất kể tốt hay xấu, đều ôn lại một lượt. Tôi muốn tìm ra tất cả mọi lý do tại sao cuộc đời này của bà lại đi con đường này mà không đi con đường kia. Dưới đây chính là suy nghĩ của tôi, tại sao mẹ tôi lại trở thành người vợ lẽ thứ hai của bố tôi, sau đó vì sao bà lại bỏ nhà ra đi.
Mẹ tôi không phải là kiểu con gái Trung Quốc trong tưởng tượng của người Mỹ, bó chân nhỏ, nói năng dịu dàng, đi bước nào lắc lư bước nấy. Mẹ tôi là một cô gái hiện đại, lúc bấy giờ ở Thượng Hải có không ít những cô gái như vậy. Bọn họ không phải xuất thân từ nông dân. Mẹ tôi tám tuổi đã tháo chân ra, có người liền nói bảo sao bà chạy nhảy hoang dã thế.
Bà sinh ra trong một gia đình giàu có có học thức ở Thượng Hải. Bố bà là người Ninh Ba, mẹ là người Tô Châu, bà là đứa con gái một duy nhất của họ. Phụ nữ Tô Châu nói chuyện rất ngọt ngào, rất hay ho. Thậm chí người Thượng Hải cũng sẽ nói với con, tiếng Tô Châu là hay nhất. Còn người Ninh Ba ấy à, cực kỳ biết làm ăn, bọn họ sau khi bán được một cái giá hời rồi, còn phải tranh cãi không dứt với con. Cho nên con thấy đấy, mẹ tôi sinh ra đã kiêm mang cả hai tính cách xung khắc lẫn nhau này.
Tôi cứ nghĩ mẹ tôi là kiểu mỹ nhân kinh điển, chính là kiểu mỹ nhân mà những cô gái khác đọc được trong tiểu thuyết, khóc lóc, vô cùng hy vọng tiểu thuyết viết chính là cuộc đời của bọn họ. Mẹ tôi từng đọc cho tôi nghe một câu chuyện, kể về một cô gái rất xinh đẹp nhưng lại vô cùng cô độc, có một ngày, cô ấy nhìn vào ao nước, tưởng rằng cuối cùng mình đã tìm được một người bạn không đố kỵ với mình, cô ấy không biết, khuôn mặt lấp lánh đang mỉm cười đáp lại cô ấy kia, chính là bóng phản chiếu của bản thân cô ấy. Đọc đến phần kết của câu chuyện, mẹ tôi thở dài: "Thật hoang đường! Lại có cô gái như thế, đến bóng phản chiếu của mình đang nhìn mình mà cũng không biết!"
Dù thế nào đi nữa, mẹ tôi không cần phải đến ao nước để nhìn bóng phản chiếu, bà có gương, mỗi ngày vào buổi tối, bà đều ngắm mình từ trong gương. Cho nên, nếu muốn tôi nói thật, tôi đành phải nói, mẹ tôi rất kiêu hãnh vì khuôn mặt của mình, thậm chí có lẽ còn mang theo một chút hư vinh nhỏ nhoi nữa.
Đương nhiên, bà có lý do để kiêu hãnh. Làn da của bà lấp lánh ánh sáng như ngọc bích, có lẽ, màu sắc có hơi giống quả đào mùa hè. Có lẽ, tất cả những từ ngữ dùng để hình dung vẻ đẹp của phụ nữ trong tiểu thuyết kinh điển đều có thể dùng trên người mẹ tôi: Giọng nói của bọn họ hay như tiếng đàn, làn da của bọn họ đẹp như ngọc trắng, cử chỉ của bọn họ như dòng nước tĩnh lặng. Tại sao những cuốn tiểu thuyết này luôn thích dùng phương thức này để hình dung phụ nữ, khiến chúng ta tin rằng chỉ có như vậy mới là đẹp?
Có lẽ, mẹ tôi căn bản không hề xinh đẹp, chẳng qua là tôi tin rằng bà xinh đẹp mà thôi. Nhưng tôi nghĩ lại, tại sao bố tôi lại cưới bà? Ông ấy dẫu sao cũng là một nhân vật lớn. Ông ấy đã có đủ loại vợ lẽ rồi. Thời đại đó, cưới hai phòng, ba phòng, bốn phòng vợ lẽ không có lý do nào khác, chẳng qua chỉ là lợi dụng sự xinh đẹp của người phụ nữ để củng cố danh tiếng địa vị của người đàn ông mà thôi. Cho nên tôi cho rằng mẹ tôi chắc chắn là rất xinh đẹp. Điều này không chỉ là những cuốn tiểu thuyết kinh điển tồi tệ khiến tôi có suy nghĩ này, mà còn có một nguyên nhân khác khiến bà không thể không xinh đẹp như vậy.
Mẹ tôi không chỉ xinh đẹp, con người còn rất thông minh tháo vát, đầu óc quay nhanh. Tôi đã nhắc đến việc bà rất có giáo dục. Bà vào một trường dòng ở Thượng Hải, lúc bấy giờ là trường học đầu tiên cho phép nữ sinh nhập học, đây là bởi vì bố của bà, ông ngoại của tôi, bản thân cũng là người rất có giáo dục. Ông ấy là một vị quan có học vấn, là người phụ trách của một cơ quan chịu trách nhiệm cải cách sự vụ đối ngoại, hoặc những sự vụ quan trọng đại loại thế. Dù sao đi nữa, rất nhiều quan lại thời đại đó đều đưa con gái của họ ra ngoài tiếp thu giáo dục. Đây là tư tưởng của thời đại đó — để con cái chịu đựng chút giáo dục, chứng minh tư tưởng của con không quá phong kiến. Nhưng ông ngoại không muốn đưa bà đến Pháp, Anh, hay Mỹ, lúc đó một số gia đình làm như vậy để chứng minh bọn họ giàu có nhường nào. Tất cả những cô gái này khi quay về, tóc đều cắt ngắn, mặt cũng sạm nắng, đó là do chơi quần vợt dưới ánh mặt trời. Chẳng lẽ đưa con gái ra ngoài đọc sách, chỉ để khiến con bé biến thành một người mà ông ấy không thích rồi quay về sao? Cho nên vào năm 1897, Thượng Hải mở trường dòng nữ sinh đầu tiên, ông ngoại tôi liền đưa mẹ tôi đến đó.
Tôi nghe nói mẹ tôi còn học tiếng Anh ở ngôi trường đó, nhưng tôi chưa từng nghe bà nói một từ tiếng Anh nào, ngoại trừ từ "bánh quy". Tân A-sẩm cũng vào cùng một ngôi trường dòng đó, cô ấy nói, mẹ tôi không phải là một học sinh ngoan, có lẽ tôi cũng xấp xỉ như vậy; cô ấy nói mẹ tôi bản tính hiếu chiến, có lẽ tôi cũng xấp xỉ như vậy; cô ấy nói mẹ tôi rất bướng bỉnh, có lẽ tôi cũng xấp xỉ như vậy.
Tân A-sẩm nói, có một lần, khi trường học đang cầu nguyện, một lão nữ tu sĩ xì một tiếng rõ to — đương nhiên không phải cố ý — mẹ tôi cười ha hả, nói rằng, "Thượng đế cũng nghe thấy rồi!"
"Tôi không hiểu sao các nữ tu sĩ đều thích bà ấy như vậy," tân A-sẩm nói với tôi, "họ nói với bà ấy rằng, 'Chúng tôi cầu nguyện cho cô dữ dội lắm đấy, tiểu nha đầu. Nếu cô là một tín đồ Cơ Đốc giáo, sau khi chết có thể lên thiên đàng rồi.' Tính cách của mẹ con mạnh mẽ đến thế, bà ấy nói, 'Tôi mà chết, cũng không thèm lên cái tô giới nước ngoài trên thiên đàng đâu.' Con đoán mấy nữ tu sĩ đó thế nào xem? Bọn họ đều cười — chỉ thế thôi."
Tân A-sẩm đố kỵ mẹ tôi chết đi được. Cô ấy cứ luôn miệng nói, "Tôi không dám gan lỳ như mẹ con, nhưng sao các nữ tu sĩ không cầu nguyện cho tôi dữ dội hơn một chút chứ?"
Lão A-sẩm chưa từng bước chân vào loại trường học này, thực ra cô ấy căn bản không được đi học. Cô ấy sinh ra trong một gia đình phong kiến, nhận sự giáo dục vô cùng truyền thống: Ánh mắt của con gái tuyệt đối không phải dùng để đọc sách, mà là dùng để thêu thùa; đôi tai của con gái tuyệt đối không phải dùng để nghe đủ loại ý kiến, mà là dùng để nghe mệnh lệnh; đôi môi của con gái nên thật nhỏ, không tùy tiện hé răng, chỉ lúc biểu hiện sự thích thú hoặc thỉnh cầu đồng ý mới mở ra một chút. Tất cả những tư tưởng phong kiến này ngược lại sẽ khiến lão A-sẩm bàn luận về bất cứ chuyện gì.
"Bà ta đọc sách Tây cũng là một tật xấu," lão A-sẩm luôn miệng nói, "bọn họ nhét tư tưởng của người phương Tây vào cái đầu óc của người Trung Quốc, làm cho mọi thứ lộn xộn hết cả lên. Ăn đồ của người phương Tây cũng vậy, dạ dày phản vị rồi, đầu óc cũng phản luôn. Mấy ông thầy giáo người phương Tây đó muốn đảo điên càn khôn, nói Khổng Phu Tử không tốt, Giê-su mới tốt! Nói con gái cũng có thể làm thầy giáo, con gái không nhất thiết phải xuất giá. Bọn họ dạy những thứ này làm gì chứ? Còn không phải là gọi đầu óc của con lật ngược lại sao? Cho nên bà ta mới gặp phiền phức." Sau đó lão A-sẩm lại cảnh cáo tôi, "Vân Vân à, đừng có nghe nhiều lời của thầy giáo. Con xem mẹ con đã làm những gì kìa."
Nếu con hỏi tôi, vậy thì tôi nói, nguyên nhân mẹ tôi gặp chuyện không phải do giáo dục của bà không tốt, mà là số mệnh của bà không tốt. Sự giáo dục của bà khiến bà luôn ôm những suy nghĩ bất hạnh đối với sự việc — mặc dù bà có thay đổi cuộc sống của mình thế nào đi nữa, bà cũng không cách nào thay đổi thế giới xung quanh mình.
Thúc thúc thường nói, nếu mẹ tôi không phải là một đứa con gái một duy nhất, loại chuyện này có lẽ đã không xảy ra rồi. Tất cả sự bướng bỉnh, cố chấp vốn nên sinh ra ở con trai lại sinh ra trên người bà. Tệ hơn nữa là, cha mẹ bà để bà ở nhà, khiến tính cách này ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn. Khi bà sắp tròn hai mươi hai tuổi, bọn họ cảm thấy bọn họ có thể đợi, tuyển rể cho cô con gái độc duy nhất.
Chuyện này còn chưa làm xong, cách mạng bùng nổ, triều đình nhà Thanh bị lật đổ, đó là vào năm 1911, mẹ tôi vừa tròn hai mươi mốt tuổi. Không còn triều đình nhà Thanh nữa, ông ngoại cũng đánh mất vị trí quan viên học giả của mình.
Ông ngoại lúc ăn trưa, nghe được tin dữ từ miệng một người hầu. Lúc đó trong miệng ông đang nhai một miếng gân móng giáp hấp, đột nhiên ông ngoại hét lớn một tiếng giống như dã thú, sau đó cắn đứt nửa cái lưỡi của chính mình. Có lẽ ông ấy cắn lưỡi của mình trước, sau đó mới hét lớn. Dù thế nào đi nữa, ông ấy lập tức ngả người ra sau, ngã nhã lăn quay xuống đất cùng với chiếc ghế. Cứ một cú ngã này, gia cảnh của mẹ tôi sa sút không phanh, bởi vì mọi người đều nói ông ngoại là trân quý ngày tận thế của nhà Thanh đã đến, đau buồn khôn xiết nên mới tự sát.
Thế là mẹ của mẹ tôi, bà ngoại của tôi, liền trở thành một góa phụ, không còn giàu có như trước nữa. Bà không muốn vội vàng gả con gái đi, để tiện cho việc có con gái chăm sóc lúc tuổi già. Đây chính là điều Khổng Phu Tử nói "lão hữu sở dưỡng" (tuổi già có nơi nương tựa). Tôi không hiểu tại sao mọi người đều nói Khổng Phu Tử tốt thế nào, thông minh thế nào, ông ấy bảo mỗi người coi thường người khác, mà phụ nữ lại ở tầng dưới cùng!
Dù thế nào đi nữa, mẹ tôi đã hai mươi mốt tuổi rồi, mà sự giáo dục của bà lại đi ngược lại với tư tưởng của Khổng Phu Tử. Có lẽ bà muốn kết hôn, có lẽ căn bản là không muốn. Ai mà biết được chứ? Dù thế nào đi nữa, bà muốn tự mình làm chủ. Thúc thúc cứ luôn miệng nói, "Chính vì bà ấy muốn tự mình làm chủ, nên mới rước lấy phiền phức đấy."
Tân A-sẩm không đồng ý với cách nói này. Phiền phức thực sự, cô ấy nói, chính là chuyện phong lưu, là cái suy nghĩ ngớ ngẩn muốn kết hôn vì tình yêu của mẹ tôi. Bà đã gặp một sinh viên trường Đại học Phục Đán, một phóng viên. Anh ta lớn tuổi hơn bà, đại khái là hai mươi chín tuổi rồi, anh ta bắt đầu việc học của mình rất muộn. Mẹ tôi lúc đó đã hai mươi sáu tuổi rồi.
Cậu sinh viên này họ Lưu, là một người theo chủ nghĩa Mác, chính là loại người mà ông ngoại tôi căm hận nhất. Tiểu thẩm nói, lai lịch của anh ta cô ấy biết hết. Bởi vì sau khi mẹ tôi rời đi, tiểu thẩm đã đi tìm di vật của bà, phát hiện ra một tờ báo đưa tin về tên cách mạng họ Lưu đó. Tiểu thẩm nói, chắc chắn chính là người sinh viên đại học mà mẹ tôi yêu, nếu không, sao mẹ tôi lại cất giấu bài báo đó đi chứ?
Tân A-sẩm nói, bản tin đó viết rất tệ, là một câu chuyện anh hùng tuyên truyền sự bốc bột nhất thời, cho nên có lẽ chỉ kể một chút ít sự thật, phần còn lại giống như cơm nguội cho thêm rất nhiều nước sôi. Dù thế nào đi nữa, câu chuyện chính là viết như vậy, giống như một câu chuyện cách mạng đã cũ rích, lại rất có chút hương vị lãng mạn.
Lưu có quê quán ở Sơn Đông, nằm ở phía bắc Thượng Hải, là một nơi sản sinh ra đủ loại hải sản ngon tuyệt. Ông là con trai của một ngư dân, thế nên toàn bộ hy vọng trong đời ông là nối nghiệp cha, ngày ngày làm những công việc chân tay nặng nhọc là vá lưới đánh cá. Ông không có tiền đi học, cũng chẳng có cách nào thay đổi cuộc đời mình. Trên thực tế, đó chính là cuộc sống mà tất cả mọi người đang trải qua, tất nhiên là trừ các học giả, người ngoại quốc và bọn quan lại tham nhũng. Nhưng có một ngày, một người theo chủ nghĩa Mác đến trước mặt ông, đưa cho ông xem một tờ giấy.
"Đồng chí, anh có thể đọc giùm tôi cái này được không?" người đàn ông cầm tờ giấy nói. Lưu đáp: "Xin lỗi, tôi sinh ra đã là kẻ ngốc."
Rồi người đó liền nói: "Đồng chí, nếu tôi dạy anh đọc tờ giấy này trong vòng mười ngày, cùng với tất cả những gì anh muốn đọc thì sao? Anh cứ đến dự một cuộc họp là sẽ biết." Người tốt bụng ấy đã kể cho Lưu nghe một phương pháp mới, cách dạy công nhân và nông dân tự giải phóng khỏi ách nô lệ, phương pháp đó gọi là "Mười ngày học một nghìn chữ".
Tại buổi họp đó, những người theo chủ nghĩa Mác cũng nói với Lưu rằng, một con người chỉ cần chăm chỉ, một ngày có thể học đọc học viết một trăm chữ, mười ngày có thể học đọc học viết một nghìn chữ. Như thế anh ta có thể lập tức nắm vững kiến thức văn hóa, có thể đọc tin tức trên báo chí thông thường, có thể viết thư, làm ăn buôn bán, tự giải phóng mình khỏi cuộc sống khốn khổ.
Khi họ mời Lưu tham gia lớp học chữ, Lưu đáp lại rằng: "Số mệnh tôi kém cỏi, chỉ đành chịu khó bỏ công sức vậy."
Thế là Lưu chăm chỉ học tập, thay đổi số phận của mình. Thế nhưng anh học đọc học viết một nghìn chữ rồi mà vẫn không dừng lại, vẫn tiếp tục chăm chỉ, nghị lực của anh mạnh mẽ đến vậy đấy. Anh học hai nghìn, bốn nghìn, rồi lại lên đến một vạn. Cuối cùng, anh đã đỗ kỳ thi tuyển sinh đại học, bước vào Đại học Phúc Đán. Anh tự mừng vì bản thân đã có thể thay đổi cuộc đời mình, thế là anh thề rằng có một ngày anh sẽ viết về những nỗi gian lao vất vả của quần chúng công nhân nông dân, sẽ làm người đại diện cho họ, sẽ kể lại câu chuyện của họ, sẽ nói cho họ biết rằng, thông qua tư tưởng cách mạng, họ có thể thay đổi vận mệnh của chính mình.
Cho nên bây giờ bạn đã hiểu tại sao thím mới lại bảo rằng mẹ tôi vì chuyện tình ái mà hủy hoại cả cuộc đời mình rồi chứ. Mẹ tôi sao lại có thể không yêu một người đàn ông như thế chứ?
Tôi cảm thấy con người Lưu chắc chắn trông rất tuấn tú. Nói không chừng anh ấy đích thị mang phong thái mà mẹ tôi vẫn thường ca ngợi bản thân: đôi mắt to, làn da sáng, cái miệng nhỏ, khuôn mặt không béo không gầy, mái tóc đen nhánh bóng mượt. Tư tưởng của anh ấy chắc chắn rất hiện đại rất cởi mở, bởi vì anh ấy không hề xin phép mẹ tôi, cũng không thông qua sự mai mối của bà mối, mà đã ngỏ lời cầu hôn với bà. Mẹ tôi lúc ấy chắc chắn vô cùng phấn khích — một cuộc hôn nhân cách mạng! Bà lập tức đồng ý, rồi về nhà đem chuyện này kể cho mẹ mình nghe.
Bà ngoại quát lên với mẹ tôi: "Mày làm sao mà làm cái trò này hả! Mày sao lại có thể đồng ý lấy người đàn ông đó! Chỉ có lúc đất nước mất vua thì mới xảy ra chuyện vô pháp vô thiên thế này!"
Lúc đó mẹ tôi liền dọa rằng, nếu không đồng ý cho bà lấy Lưu, bà sẽ nuốt vàng tự tử. Thực ra, trưa hôm đó, bà đã cắt đứt một nửa chiếc vòng vàng của mình. Bà giơ lên cho mẹ mình xem, tỏ ý rằng bà không phải đang dọa suông, bà nói là làm đấy. "Nửa chiếc vòng vàng đấy cơ mà!" Thím mới mỗi lần kể đến đây, đều phải chép miệng thêm một câu, "Nhìn con người ta ghê gớm chưa kìa."
Đương nhiên kết quả là mẹ tôi đã không nuốt chiếc vòng vàng đó, nếu không thì bà đã sớm chết từ lâu rồi. Bà chẳng qua chỉ giả vờ muốn nuốt thôi, bà chấm một giọt nước vàng lên môi, rồi nằm lên giường, vô cùng yên tĩnh. Lúc này, bà ngoại đang quỳ trước tượng thần trong tộc, cầu nguyện trước bài vị người chồng quá cố của bà. Bà cầu xin sự tha thứ, vì đã dẫn dắt con gái mình đi đến kết cục tồi tệ nhôm này. Ngay trong lúc cầu nguyện ấy, bà ngoại hình như nghe thấy vong linh người chồng của mình nói: "Hãy đi gặp người bạn cũ của anh là Giang Thiếu Viêm đi."
Thế là bà ngoại liền đi. Bà đem mọi chuyện của mẹ tôi kể hết cho Giang nghe, rằng nó đã trở nên hư hỏng thế nào, nó dọa tự tử ra sao — tất cả đều là vì cuồng nhiệt yêu lấy một tên đảng viên cách mạng! Bà hỏi người bạn cũ của ông ngoại rằng bà nên làm thế nào bây giờ.
Chiều hôm đó, bà ngoại và Giang Thiếu Viêm đã đạt được một thỏa thuận, Giang đồng ý nhận đứa con gái hư hỏng của người bạn quá cố làm vợ lẽ.
Mỗi khi tôi hồi tưởng lại chuyện cũ này, trong lòng tôi cứ thắc mắc mãi, sao bà ngoại lại không phản đối chứ? Sao bà lại không nói với cái họ Giang đó rằng: "Làm vợ lẽ á? Sao không để nó làm vợ chính?" Dù sao thì vợ chính cũng đã qua đời rồi mà.
Nhưng nói không chừng bà ngoại cảm thấy vấn đề lớn của bà đã được giải quyết, thế là đủ vui mừng rồi. Dù sao đi nữa, bà đã đồng ý tất cả. Thế là Giang đã có được một người phụ nữ xinh đẹp làm thiếp thứ hai của mình — không phải là cô gái từng làm người hầu, cũng không phải cô gái xuất thân từ tầng lớp hạ lưu, mà là một tiểu thư khuê nữ xuất thân trong gia đình trâm anh thế phiệt, được giáo dục rất đàng hoàng.
Hôm sau, mẹ tôi nhìn thấy bản khế ước đó. Bà chạy đến tìm Lưu, hỏi anh nên làm thế nào bây giờ. Có lẽ họ đã hôn nhau, có lẽ họ đã rơi nước mắt, tôi vẫn luôn cho rằng mẹ tôi là một người vô cùng lãng mạn.
Rồi Lưu đã nói: "Em nhất định phải kiên trì đến cùng, chỉ có cách này mới có thể chấm dứt cuộc hôn nhân do phong kiến sắp đặt này." Sau đó anh kể cho bà nghe câu chuyện về một đảng viên cách mạng tuẫn tiết vì tình.
Cô ấy là một cô gái nông thôn trẻ tuổi, xinh đẹp tuyệt trần, cũng bị cha mẹ ép gả cho một lão già mà cô hoàn toàn không quen biết. Cô nói với người nhà: "Con muốn tự chọn chồng, bằng không con sẽ không lấy chồng." Cha cô rất tức giận, liền nhốt cô vào một cái chuồng lợn. Ngày nào cô cũng gào thét rằng cô tuyệt đối không lấy lão già kia. Cô cứ gào thét như thế, gào cho đến tận ngày cử hành hôn lễ. Khi cô bước ra từ chuồng lợn, cô đã trở nên vô cùng tĩnh lặng, người dính đầy bùn đất, các bạn có thể tưởng tượng được đấy.
Mẹ cô và các cậu đã tắm rửa chải chuốt cho cô, rồi nhét cô vào trong kiệu hoa khóa trái lại. Sáu người đàn ông được thuê khiêng cô đi một đoạn đường rất dài, từ thôn của cô mãi cho đến cái thôn khác nơi lão già kia sinh sống. Khi kiệu hoa được khiêng tới, rất nhiều người đã chuẩn bị xong xuôi cho lễ cưới, nào chiêng nào trống, tiệc tùng linh đình. Họ cười cợt, náo nhiệt, chúc phúc, rồi mở cửa kiệu hoa đón cô dâu. Hoan nghênh! Hoan nghênh!
A! — Cô ấy đã chết rồi, cô dùng chính mái tóc của mình bện thành một sợi dây thừng, thắt lên đỉnh kiệu hoa, treo cổ tự tử rồi.
"Cho nên em thấy đấy," Lưu nói với mẹ tôi, "Em cũng nhất định phải kiên trì đến cùng — không chỉ vì tình yêu của chính em, mà còn vì đất nước của em nữa."
Người mẹ tội nghiệp của tôi, tất cả những gì bà có thể nghĩ đến chính là hình ảnh cô gái ấy dùng mái tóc của mình để treo cổ. Bà tưởng rằng câu "Em cũng nhất định phải kiên trì đến cùng" mà Lưu nói có ý nghĩa là bảo bà cũng đi theo con đường đó. Sau khi về nhà, bà không biết liệu mình có đủ kiên cường để chống lại số mệnh, có đủ dũng khí để hy sinh vì tình yêu hay không. Hai ngày sau, bà đến nhà họ Giang, làm thiếp thứ hai của họ Giang.
Đúng vậy, đây chính là điều tôi muốn nói, bà đã gả cho người họ Giang đó, ông ta chính là cha tôi, ông ngoại của các bạn, một lão già từ trước khi tôi chào đời.
Tệ hơn nữa, sau khi mẹ tôi đến nhà họ Giang, mới phát hiện nơi đó đã có vợ ba, vợ tư, thậm chí cả vợ năm rồi. Người hầu nói với bà, đại thái thái bị bệnh phổi mà chết, nhị thái thái thì tự tử. Bởi vì Giang không để bà kế vị trí trí của đại thái thái, thế là mọi người đều đồn rằng mẹ tôi đến để thế chỗ cho cái vị trí xui xẻo đó — thế chỗ cho người nhị thái thái đã chết kia.
Cho nên mẹ tôi cứ như vậy mà trở thành người nhị thái thái thứ hai. Mặc dù mấy người vợ lẽ kia không muốn cái vị trí xui xẻo ấy của mẹ tôi, nhưng họ vẫn ghen tị với bà, hành hạ bà chỉ vì bà có địa phận cao hơn một chút. Họ thường xuyên chế giễu bà như thế này: "Hừ, nhị thái thái. Nói thật nhé, cô chẳng qua cũng chỉ là nhị thái thái thứ hai thôi, chỉ có một nửa quyền lực của cô ta mà thôi."
Có đôi lúc tôi nghĩ, mẹ tôi cuối cùng thực ra là bị những người vợ lẽ ấy đuổi đi. Chính họ đã khiến cho cuộc sống của bà chịu đủ mọi sự hành hạ, bà muốn ăn một bát mì hơi đặc biệt một chút thôi cũng phải nhận lấy những cái liếc mắt coi thường, bà thích giày da kiểu Pháp cũng phải chịu sự chế giễu, bà đọc báo cũng bị nhìn bằng ánh mắt khác lạ, bởi vì bọn họ đều là những kẻ vô học. Họ ghen tị với mái tóc của bà, mái tóc đen nhánh đen là đen — họ nói sở dĩ cha tôi muốn lấy bà, chính là vì nhắm trúng mái tóc ấy.
Cho nên có lẽ đây chính là nguyên nhân sau này bà cắt đi mái tóc của mình. Bà để lại mái tóc ấy cho mấy người vợ lẽ này mặc sức tranh giành.
Nhưng rồi sau đó tôi lại nghĩ: mẹ tôi hoàn toàn có khả năng đối phó với mấy người vợ lẽ này. Suy cho cùng thì đám vợ lẽ trong nhà ngoài việc suốt ngày kêu ca phàn nàn, đấu đá lẫn nhau vì mấy chuyện lông gà vỏ tỏi ra, thì còn có thể làm được gì nữa chứ? Mấy người vợ lẽ này tôi đều quen cả, gọi họ là tam nương, tứ nương, ngũ nương. Bọn họ thực ra không đến nỗi quá xấu xa, cứ lấy tam nương ra mà nói đi, bà ấy mang tính cách tiêu chuẩn của người Thượng Hải, thích chế giễu những kẻ tự khoe khoang, chuyện gì cũng phải chỉ trỏ bình phẩm một phen, kết quả khiến cho bạn chẳng biết rốt cuộc bà ấy thích cái gì, ghét cái gì.
Cho nên nói không chừng sự thật là thế này: mẹ tôi bỏ chạy ra ngoài, quay về bên người họ Giang... à nhầm, người họ Lưu. Đương nhiên là bà sẽ làm thế rồi, bà đã thích anh ta ngay từ cái nhìn đầu tiên cơ mà. Bà mất tích sau khi chạm trán người đàn ông đó ở rạp chiếu phim, nói không chừng người đó chính là Lưu. Bọn họ đang bàn bạc xem gặp nhau thế nào, bà trốn đi ra sao, nói không chừng lúc ấy bà đang làm những chuyện này.
Có lẽ trong lúc suy ngẫm, bà cũng đã trở thành một đảng viên cách mạng. Hôm đó bà dẫn tôi vào thành phố, chính là để cho tôi thấy tội ác của chủ nghĩa đế quốc Thượng Hải, đem những gì mà Lưu đã dạy bà truyền lại cho tôi — những thứ quá dơ bẩn, quá ngọt ngào, quá hiếm hoi, quá bi thương ấy. Đây cũng chính là lý do tại sao bà lại cắt tóc ngắn, bà muốn mượn cách này để nói cho tôi biết, bà cũng giống như cô gái treo cổ trong kiệu hoa kia, cuối cùng đã có được sự tự do.
Nhưng rồi sau đó tôi lại nghĩ, nếu như bà tư bôn cùng tên họ Lưu đó, vậy thì chắc chắn bà vẫn còn sống, bà sẽ vì tôi mà quay về. Tôi chính là cục cưng của bà mà! Bà sẽ đến trường tìm tôi, ngôi trường mà tôi đang theo học chính là nơi bà từng học ngày trước. Bà sẽ lén lút ngồi thuyền nhỏ ra đảo, trốn sau những lùm cây thấp. Bà sẽ đột nhiên nhảy ra nói: "Mẹ đến đón con đây, đi gặp chồng mới của mẹ nào."
Cho nên tôi lại nghĩ, chắc chắn bà đã trốn thoát rồi, bởi vì bà sống trên thế gian này quá ư đau khổ. Có lẽ bà phát hiện ra Lưu cũng đã chết. Bà đọc tờ báo mua từ Phúc Châu lộ, nói không chừng bà đã mua tờ báo này từ lâu rồi. Bà đọc được tin tức anh bị bắn chết, anh bị bắn chết trong lúc đang dạy thêm cho nhiều nông dân biết chữ. Rất nhiều đảng viên cách mạng đều bị bắn chết như thế đấy. Nỗi bi thương ập đến bất ngờ khiến bà nhớ lại mối tình từ rất lâu về trước của họ. Khi tôi ngủ thiếp đi trong rạp chiếu phim tối thui, bà đã nghĩ đến những điều này. Bà khóc thương cho mối tình đã mất của mình. Trên đường chúng ta đi mua cá vây tay, bà bị một thứ cảm giác tội lỗi bủa vây, bà nhớ lại chuyện mình đã không kiên trì nhẫn nhịn việc không ăn cá vây tay, không thể kiên trì phản đối cuộc hôn nhân không có tình yêu ấy. Trên đường về nhà, khi tôi ngủ thiếp đi trong chiếc xe xích lô, bà cảm thấy vô cùng hổ thẹn vì bản thân đang sống trong lối sống xa hoa của chủ nghĩa đế quốc — tất cả những thứ này đều là những gì mà Lưu căm ghét và phản đối. Đêm hôm đó, khi nhìn thấy chính mình trong gương, bà căm ghét bản thân đến tận xương tủy, quyết định lập tức tẩy sạch nỗi nhục nhã của mình mãi mãi.
Thế là, bà đã cắt đi mái tóc của mình, biểu thị rõ ràng rằng bà sẽ không quay về nữa. Bà đã trở thành một đảng viên cách mạng ngầm, cấp trên ra lệnh cho bà không được lộ diện, bà đã tuân thủ một cách vô điều kiện — đó chính là lý do tại sao bà không quay về đón tôi đi.
Nhưng nghĩ đi nghĩ lại tôi lại thấy: mẹ tôi không phải kiểu người có thể nghe theo mệnh lệnh của người khác, bà chỉ tuân theo trái tim của chính mình mà thôi. Có lẽ bà mất tích vì sự bướng bỉnh của mình; có lẽ sự việc là thế này: bà lao ra khỏi cổng lớn, đầu bù tóc rối, chẳng biết phải đi về đâu.
Đôi khi tôi nghĩ mẹ tôi cắt tóc đi có lẽ là đi tu làm nữ tu sĩ rồi. Chính những nữ tu sĩ trong trường học của mẹ tôi là người đã cầu nguyện cho mẹ tôi, bảo bà hãy tuân theo ý Chúa. Sự việc chính là như thế đấy, một khi đã làm nữ tu sĩ rồi thì không thể muốn làm gì thì làm được nữa.
Đôi khi tôi lại cảm thấy, là con ma của người nhị thái thái đã chết kia đang giở trò quỷ, cô ta rất ghen tị với mẹ tôi, chính vong hồn của cô ta đã quay về câu dẫn mẹ tôi đi mất.
Đôi khi tôi lại nghĩ, giống như mọi người vẫn hay nói, bà bỗng nhiên đổ bệnh, rồi chết ngay trong đêm hôm đó, bây giờ bà được chôn cất ở đảo Sùng Minh.
Bây giờ tôi chẳng tài nào phân biệt được rốt cuộc câu chuyện nào là thật nữa, rốt cuộc là vì nguyên nhân gì mà bà lại rời đi. Những câu chuyện này hoàn toàn giống nhau, đều là thật, mà cũng đều là giả. Câu chuyện nào cũng bi thiết động lòng người đến thế. Tôi cố gắng tự nhủ với bản thân rằng, chuyện quá khứ đã qua đi rồi, không thể vãn hồi được nữa, chi bằng quên nó đi thôi. Đây chính là điều mà tôi vẫn luôn cố gắng tin tưởng.
Thế nhưng tôi không thể nghĩ như vậy được. Tôi làm sao có thể quên được màu tóc của mẹ tôi chứ? Tôi làm sao có thể không mong ước được gặp lại nó chứ?
Đương nhiên trong thâm tâm, tôi biết rõ bà sẽ không bao giờ quay về nữa. Nhưng tôi vẫn luôn nhung nhớ bà. Cuộc đời này tôi đã không biết mình nhớ nghĩ về bà bao nhiêu lần, mãi mãi sẽ vẫn như thế.
Trong tận đáy lòng tôi có một căn phòng nhỏ, trong căn phòng này có một cô bé, mới chỉ sáu tuổi mà thôi. Con bé vẫn luôn chờ đợi, một thứ hy vọng khắc cốt ghi tâm, vượt qua cả lý trí, con bé tin rằng, cánh cửa kia bất cứ lúc nào cũng sẽ bật mở, mẹ nhất định sẽ bước vào. Nỗi đau khổ trong lòng cô bé lập tức sẽ biến mất tăm hơi, bởi vì bây giờ mẹ đang mang theo con bé bay vút lên cao, bay lượn giữa bầu trời vũ trụ, vui cười, hò hét, hò hét, vui cười. "Cục cưng, cục cưng! Hóa ra con ở đây!"