Còn nhớ không, Helen cứ gặp ai cũng khoe cô ấy từng là phù dâu của tôi, cô ấy còn bảo tôi từng có một đám cưới kiểu Trung Hoa vô cùng long trọng.
Phải, mọi chuyện đúng như Helen nói, chỉ có điều, lúc đó Helen không có mặt. Hoa Sinh có mặt, mặt cô ấy thoa phấn trắng, môi tô đỏ chót như đít khỉ, cười rất tươi, cứ như thể cô ấy thực sự mừng cho tôi vậy.
Nhưng ngay trong tháng trước khi tôi kết hôn, con có thể tưởng tượng được đấy, Hoa Sinh tức giận đến mức chẳng thèm liếc nhìn tôi lấy một cái. Cô ấy bảo chính vì tôi nên Văn Phúc mới cưới tôi mà không cưới cô ấy. Tôi nhắc nhở cô ấy tôi đã giúp đỡ hai người bọn họ thế nào, cô ấy liền làm bộ như không nghe thấy.
Thật đấy, tôi vẫn luôn chạy đôn chạy đáo truyền thư giúp hai người bọn họ, mà những bức thư đó cô ấy chẳng chịu cho tôi đọc. Sau đó tôi phát hiện ra một góc bí mật trong nhà kính, Hoa Sinh thường trát phấn tô son ở đó. Tôi bèn bảo Văn Phúc khi nào nên đi, chỗ nào có thể giấu chiếc xe đạp của anh ta. Tôi dẫn anh ta đến bên Hoa Sinh, thế là hai người họ có thể tranh thủ hai tiếng đồng hồ sau bữa trưa khi mọi người đi ngủ để trò chuyện. Lúc hai người họ hôn nhau ở đó, tôi đứng canh cửa, chú ý xem thím cả và thím mới có đến hay không.
Đương nhiên, tôi không tận mắt thấy cảnh hai người họ hôn nhau, thế nhưng tôi biết, chắc chắn họ đã hôn nhau rồi, giống như những kẻ mắc bệnh tương tư vậy! Bởi vì khi họ từ phía sau chậu hoa vỡ bước ra, trên mặt, trên cổ Hoa Sinh toàn là vết đỏ, đó chính là dấu vết do Văn Phúc hôn lên. Môi của chính Văn Phúc cũng bị son môi của Hoa Sinh làm cho đỏ lè, mặt anh ta còn dính cả phấn trắng, nhìn vào giống như kép hát vậy. Tôi nhìn thấy anh ta đẩy xe đạp rời đi, trên mặt nở nụ cười vô cùng mãn nguyện.
Thế rồi tôi vội vàng giúp Hoa Sinh lau đi những dấu vết thân mật này, lau sạch dấu tích trang điểm. Tôi trách mọc cô ấy: "Sao cậu lại để anh ta hôn chứ? Chỉ nói chuyện, nắm tay thôi chẳng lẽ vẫn chưa đủ sao?"
Giao đôi môi của mình cho một chàng trai mà người nhà cậu không ai quen biết, đó là một việc rất đáng sợ. Đương nhiên, giao những bộ phận khác trên cơ thể lại càng đáng sợ hơn.
"Tớ thích thế đấy." Hoa Sinh cười nói, tỏ vẻ hoàn toàn không bận tâm.
"Cái gì! Cậu thích thế cơ à. Nói như vậy, vì để thỏa mãn mong muốn của bản thân, cậu có thể ném danh dự của cả nhà xuống cống rác chắc? Giống như hai con chó vô tri, đuổi theo hít ngửi cái đuôi bẩn thỉu của nhau!"
Thế nhưng ngay lúc tôi đang dùng sức chà rửa lớp phấn son trên mặt Hoa Sinh, cô ấy vẫn chìm đắm trong ảo tưởng về Văn Phúc, kể cho tôi nghe Văn Phúc khen ngợi khuôn mặt mềm mại, đôi tay khéo léo của cô ấy thế nào. "Ái chà!" Cô ấy càu nhàu, "Cậu sắp làm tróc cả da tớ rồi kìa."
"Cậu đáng đời lắm," tôi nói, "chỗ này lau mãi không sạch kìa, anh ta y như con nhện đang cắn vào cổ cậu vậy. Giờ mọi người sắp dậy hết rồi, chà, phen này thì rắc rối to rồi."
Hoa Sinh chỉ khúc khích cười, đi lấy gương, rồi nói, "Để tớ xem nào. Ối chà, xem anh ấy đã làm cái gì thế này!" Cô ấy lật cổ áo lên, cười càng thêm đắc ý.
Cô ấy chẳng thèm nghĩ xem tôi giúp cô ấy như vậy phải gánh chịu rủi ro lớn thế nào. Cô ấy thừa biết, nếu mẹ cô ấy mà hay chuyện này, phiền phức của tôi còn lớn hơn cô ấy nhiều. Hoa Sinh nhỏ tuổi hơn tôi, thế nên tôi phải chịu trách nhiệm về hành vi của cô ấy. Không biết thím cả và thím mới sẽ xử lý tôi thế nào đây.
Đương nhiên, đối với suy nghĩ kiểu này con có thể không hiểu nổi, sao tôi lại vì Hoa Sinh mà rước họa vào thân, tôi có gì phải sợ chứ? Thế nhưng ở Trung Quốc lúc bấy giờ, con luôn phải chịu trách nhiệm thay cho người khác. Không giống như ở đây, ở Mỹ — nào là tự do, độc lập, suy nghĩ cá nhân, làm điều mình muốn, không cần phải phục tùng mẹ mình — không có chuyện đó đâu. Sẽ chẳng có ai nói với tôi rằng, "Con bé ngoan, nghe lời đi, ta cho con cái kẹo." Con sẽ chẳng nhận được phần thưởng gì vì đã làm việc tốt đâu, đừng có mong. Nhưng nếu con làm việc xấu — người nhà con có thể tùy ý xử lý con, chẳng cần lý do gì sất.
Tôi vẫn còn nhớ những lời dọa dẫm khiến tôi khiếp sợ. "Mày có muốn bọn tao đuổi cổ mày đi vĩnh viễn, làm cái nghề ăn mày giống như mẹ mày không?" Thím cả luôn nói thế. "Mày có muốn mắc một trận bệnh nặng, để khuôn mặt thối rữa hết giống như mẹ mày không?" Kể từ khi tôi đến đảo Sùng Minh, thím cả vẫn luôn đem những lời này ra dọa tôi — nếu như những lời đó là chuyện bịa đặt thì cũng đành. Tôi không rõ rốt cuộc mẹ mình đã xảy ra chuyện gì, bà là đã bỏ trốn như lời Hoa Sinh nói, hay đã chết vì một căn bệnh kỳ lạ như lời cha tôi nói; hoặc là, giống như những gì mọi người bàn tán sau lưng, bà vì một nguyên nhân mập mờ nào đó làm cha tôi nổi giận nên bị đuổi đi rồi. Hễ mới đến hòn đảo này, chỉ cần thím cả nhắc đến tên mẹ tôi, hai mắt tôi không kìm được lại rưng rưng lệ.
Về sau, tôi không khóc nữa. Tôi cố gắng không nghĩ đến mẹ, cố gắng dập tắt những ý nghĩ từng có, hy vọng có một ngày mẹ sẽ đến thăm tôi. Thế là thím cả lại nghĩ ra chiêu trò đe dọa mới khiến tôi sợ hãi. Có một lần, thím dẫn tôi và Hoa Sinh đến nhà một hộ dân ở Thượng Hải, thím chỉ vào một cô gái đang quét dọn.
"Nhìn cô bé đáng thương này đi." Thím cả dùng giọng điệu đầy thương hại nói. Cô gái ấy mặc một chiếc quần ngắn vừa rách vừa cũ, đôi chân gầy guộc lộ cả ra ngoài. Ánh mắt cô ấy đờ đẫn, vô hồn. Sau đó thím cả bảo chúng tôi rằng, cô ta là một nô lệ, vì mẹ mất mà không biết cưỡng xử cho phải phép nên đã bị cha bán đến đây.
Còn có những lời đe dọa khác. Khi thím cả cảm thấy tôi vẫn chưa đủ sợ — khi tôi không chịu nhanh chóng dập đầu cầu xin tha thứ, không chịu cầu xin khoan dung — thím ấy sẽ giáng cho tôi một bạt tai, "Cứng đầu thế cơ à, lại còn không nghe lời! Nhà nào thèm rước mày về làm con dâu chứ? Hay là tao gả mày cho lão thợ giày họ Âu kia nhỉ?"
Thím ấy đang ám chỉ gã ăn mày đi gõ cửa từng nhà vá giày thuê đó, trên người gã tỏa ra mùi hôi thối của những đôi giày cũ mà gã sửa và bán. Tôi biết tất cả các bà mẹ trong thôn chúng tôi đều dùng cách này để dọa các cô con gái, ai mà không nghe lời thì sẽ gả cho thợ giày họ Âu. Nếu thực sự là vậy, thì có lẽ thợ giày họ Âu đã sớm có hai mươi người vợ rồi.
Tôi cảm thấy thím cả nói vậy không phải vì đặc biệt hung dữ với tôi, cũng chẳng phải đang nói dối. Tôi nói vậy không phải vì rộng lượng gì, đe dọa trẻ con là truyền thống của những đại gia đình như chúng tôi. Hồi thím cả còn nhỏ, mẹ thím ấy có lẽ cũng đối xử với thím ấy như vậy, dùng một lối sống đáng sợ không thể tưởng tượng nổi để cảnh cáo, lại tìm thêm một đứa trẻ ngoan tốt đến mức không thể tin nổi làm gương. Làm vậy mới có thể khiến con cái các người vào khuôn phép, làm vậy mới có thể quét sạch những tư tưởng ích kỷ trong cái đầu ngu ngốc của chúng đi, làm vậy mới biểu thị rằng các người rất quan tâm đến tương lai của chúng, giáo dục chúng ở nhà cũng phải giữ quy củ.
Nhưng đó cũng là lý do tại sao ngày hôm đó tôi lại thấy sợ hãi trong nhà kính. Việc Hoa Sinh để Văn Phúc hôn tệ hại biết bao! Hành động thế này của cô ấy có lẽ sẽ hủy hoại tương lai của chính tôi, thế nên, sau này hễ Hoa Sinh lại sai tôi đưa thư cho Văn Phúc, tôi dĩ nhiên cự tuyệt ngay lập tức.
"Cậu tự đi mà đưa," tôi nói, "tớ không làm mai mối cho cậu nữa đâu." Hoa Sinh thoạt đầu thì khóc lóc cầu xin, sau đó thì mắng mỏ thậm tệ. Kể từ hôm đó, cô ấy không thèm đếm xỉa đến tôi nữa. Tôi cứ nghĩ rắc rối của mình rốt cuộc cũng chấm dứt rồi, nào ngờ đâu lại rước lấy rắc rối lớn hơn.
Lúc sau tôi mới biết, Văn Phúc cũng nổi giận. Anh ta đứng đợi ở đường lớn mấy tiếng đồng hồ, đợi tôi mang thư của Hoa Sinh tới. Ngày hôm sau tôi không đưa, ngày thứ ba lại càng không, anh ta không đợi được nữa, thế là tìm một ông mai bà mối thực sự, không chỉ đưa thư mà còn đến hỏi cưới.
Con hiểu chứ, Văn Phúc quyết định cưới Hoa Sinh làm vợ không phải vì thực sự thích Hoa Sinh, mà là muốn mượn hôn nhân để bước chân vào gia đình cô ấy. Trên thực tế, anh ta chẳng khác gì phần lớn đàn ông vào thời điểm đó. Hồi đó, kết hôn cũng giống như mua bất động sản vậy. Ở đây, con chấm trúng một ngôi nhà muốn dọn vào ở, con sẽ tìm công ty bất động sản. Còn ở Trung Quốc lúc bấy giờ, con chấm trúng một đại gia đình có con gái, con sẽ tìm một bà mối biết cách làm một vụ làm ăn béo bở.
Bà mối anh ta tìm là một bà lão, mọi người đều gọi là thím Miêu. Bà ấy rất có tiếng tăm, có thể ghép đôi cô gái tốt nhất với chàng trai tốt nhất, để sau khi kết hôn họ sẽ sinh ra một loạt con cái. Mấy năm trước, hôn sự của hai người con gái nhà thím cả đều do bà ấy sắp xếp. Giờ tôi mới nhớ ra, thím Miêu cũng chính là người đã giúp thím cả đuổi cái gã họ Lâm đi. Tôi chưa từng gặp gỡ chàng trai này, nhưng vốn dĩ tôi nên gả cho anh ta mới phải. Thế nhưng còn chưa kịp nắm bắt hy vọng của mình, cơ hội này đã vụt mất rồi.
"Mối hôn sự này không có tiền," thím Miêu nói với thím cả, "phải rồi, cha nhà họ Lâm rất có học thức, thế nhưng có ích gì chứ? Đến một chức quan nhỏ ông ta còn chẳng làm được. Lại nhìn vợ ông ta mà xem — sinh đứa con cuối cùng lúc gần bốn mươi tuổi, thật chẳng biết xấu hổ."
Nhưng đó không phải là lý do thực sự khiến thím Miêu không thích nhà họ Lâm, nguyên nhân thực sự là nhiều năm trước hai nhà từng có xích mích. Hoa Sinh vô tình nghe chú nhắc đến chuyện này. Nhà họ Lâm đã đính ước với một cô gái bản địa. "Thế nhưng chỉ vài tháng trước khi cử hành hôn lễ," Hoa Sinh nói, "con trai nhà họ Lâm bỏ trốn, cưới một cô gái Thượng Hải — vì tình yêu, chính vì điều đó đấy! Đương nhiên người nhà này khăng khăng bắt cô gái Thượng Hải làm vợ lẽ, để cô gái bản địa làm vợ cả. Nhưng thế này thì ra thể thống gì chứ? Gã đàn ông đó cực kỳ chán ghét người vợ cả tương lai của mình, nên mới cố ý nạp vợ lẽ để chọc tức cô ta."
Rồi Hoa Sinh cười rộ lên, "Cô gái bản địa của nhiều năm trước không phải ai khác, chính là thím Miêu. Bà ấy vừa tức vừa ngượng ngùng, đành phải đợi thêm ba năm nữa mới có người ngỏ ý cưới về làm vợ."
Chính người thím Miêu đó bây giờ thường xuyên đến nhà tôi uống trà, trò chuyện cùng thím cả và thím mới, nào là chuyện nhà này chuyện nhà nọ, ai bị bệnh, ai nhận được thư của người thân ở hải ngoại, con nhà ai bỏ trốn đi theo Đảng Cộng sản.
Trước mặt thì tôi và Hoa Sinh đều gọi là thím Miêu, nhưng sau lưng, chúng tôi toàn gọi là Miêu Miêu, bởi vì bà ấy giống hệt một con chồn, vênh tai nghe ngóng, đi khắp nơi thám thính chuyện riêng tư của người khác.
Tôi nghĩ, thím Miêu chắc chắn đã đem tất cả bí mật nhà chúng tôi kể hết cho Văn Phúc rồi: chú có một mối làm ăn lớn, nhưng lại đánh mất kha khá hợp đồng. Thím mới là vợ lẽ của chú, rất được chú cưng chiều. Thím cả là vợ cả của chú, mọi người đều buộc phải lấy lòng thím ấy. Hoa Sinh nhỏ tuổi nhất, là cục cưng của cả nhà. Tôi là chị họ của Hoa Sinh, được gửi đến đây ngay sau khi mẹ tôi mất tích. Còn mẹ tôi rốt cuộc bị thổ phỉ bắt cóc hay sát hại, chết đuối dưới biển hay bị chôn vùi trong đất, chẳng ai biết cả. Cha ruột tôi giàu có đến mức có thể cho con trai út của ông cả một nhà máy cùng cửa sông, một căn biệt thự sang trọng nhất, bởi vì ông còn rất nhiều rất nhiều tài sản ở Thượng Hải nữa. Tôi biết chắc chắn Văn Phúc đã hỏi những câu hỏi này, bởi vì sau đó chuyện thế này đã xảy ra.
Ngay sau khi tôi cự tuyệt không làm người đưa thư cho họ nữa, thím Miêu đến gõ cửa nhà tôi, dẫn theo cha mẹ của Văn Phúc. Chiều hôm đó khi họ đến, Hoa Sinh phấn khích đến mức lúc dâng trà cho họ, còn làm đổ cả trà nữa chứ. Con bé cứ khúc khích cười mãi không thôi, thím mới trách mắng nó hai lần, không cho nó bưng trà cho chú nữa. Thế nhưng tôi phát hiện mẹ Văn Phúc chẳng thèm để tâm đến hành vi ngốc nghếch của Hoa Sinh, ngược lại cứ dùng ánh mắt soi mói đánh giá tôi.
Bà ấy hỏi bộ quần áo tôi đang mặc có phải do tự tay tôi làm không. Bà ấy kiểm tra những đường kim mũi chỉ trên tay áo tôi, rồi nói tay nghề may vá của tôi không tệ, tuy nhiên vẫn cần phải cải thiện. Bà ấy hỏi sao da dẻ tôi lại tái nhợt thế này, là do bẩm sinh có màu này hay mang bệnh gì? Tại sao tôi lại trầm tính thế? Tôi có đang ho không? Tôi có dễ mệt mỏi không?
Ngày hôm sau, thím cả và thím mới đến nhà họ Văn ở đầu bên kia hòn đảo để đáp lễ. Hoa Sinh hớ hở ra mặt, con bé đã sớm tính toán xem nên mặc lễ phục kiểu Tây thế nào rồi. Lại qua một ngày nữa, thím cả tuyên bố hôn ước đã định với nhà họ Văn — nhưng không phải định cho Hoa Sinh, mà là định cho tôi.
Tôi không nói đồng ý, cũng chẳng nói không đồng ý. Chẳng có ai thèm hỏi ý kiến của tôi, bởi vì quyết định này vốn dĩ đâu do tôi đưa ra.
Đương nhiên, tôi không vỗ tay, cảm ơn các thím đã sắp xếp cho tôi một tương lai tốt đẹp thế này. Thế nhưng tôi cũng chẳng chạy vào phòng riêng, từ chối ăn uống, mặt cắt không còn giọt máu, dọa tự tử để cho các thím xem, có những cô gái sau khi bị cha mẹ chọn cho một người chồng tồi tệ thường làm thế.
Nếu con hỏi tôi, lúc các thím bảo tôi sắp gả cho Văn Phúc, trong lòng tôi nghĩ gì, tôi chỉ có thể nói rằng, giống như có người bảo tôi trúng giải độc đắc, lại có người bảo sắp chặt đầu tôi vậy, lửng lơ ở giữa hai thái cực đó.
Sau khi tuyên bố quyết định này, tôi vẫn ngồi bên bàn, mặt vô biểu cảm, đầu óc trống rỗng, chẳng biết nên nói gì cho phải. Hoa Sinh bĩu môi nói, "Cớ sao cứ phải để Văn Văn đi lấy chồng cơ chứ?" Con bé chất vấn.
Thím mới hiểu lầm lời oán trách của con gái mình, tưởng rằng đó là ý tốt, "Đừng ích kỷ thế chứ! Nó vẫn sẽ thường xuyên về thăm con mà. Nhưng hiện tại nó phải kết hôn, rời khỏi chúng ta. Nó lớn tuổi nhất, độ tuổi của nó vừa khéo, kém chồng nó năm tuổi. Sau này, con cũng có thể đến nhà mới của nó thăm nom cơ mà."
Tôi ngồi ngây ở đó, im thin thít, cố gắng tưởng tượng Văn Phúc làm chồng tôi sẽ thế nào. Tôi thấy mình chạy ra ngã rạp đợi anh ta. Hoa Sinh cũng như thế. Chỉ có điều người anh ta hôn lúc này là tôi, chứ không phải Hoa Sinh. Anh ta mỉm cười, làm mặt quỷ. Anh ta bảo tôi có một khuôn mặt xinh đẹp, đỏ hồng như đóa hồng, giống hệt bộ đồ tôi đang mặc. Anh ta đưa cho tôi một bức thư tình, tôi dường như đã cảm thấy tim mình đập loạn nhịp, sẵn sàng mở thư ra đọc.
Tôi nhìn Hoa Sinh, vẫn bĩu môi, im lặng chẳng nói năng gì, con bé đang hậm hực thở phì phò bằng mũi. Hừ! Hừ! Giống như đuôi rồng bị dựng ngược lên vậy. Nó nào biết cách giấu giếm cảm xúc giống như tôi. Thế là, chính vào khoảnh khắc đó tôi mới hiểu ra, tôi đã chôn giấu tình cảm chân thật của mình lâu đến thế, tốt đến thế, cho đến tận bây giờ vẫn không dám thừa nhận. Hồi đó, tại sao tôi lại thấy tức giận vì chuyện Hoa Sinh để Văn Phúc hôn chứ — bây giờ tôi đã hiểu rồi, tôi muốn anh ta hôn tôi cơ.
Không, đây không phải tình yêu! Thứ tôi đang nói không phải loại tình yêu đó. Đây là một thứ hy vọng ngốc nghếch, đây là thứ hy vọng học cách tính toán cho tương lai của chính mình.
Con không tin ư? Thím Helen từng kể cho con nghe đoạn quá khứ này rồi à? Đúng vậy, thím ấy muốn kể đấy, nhưng tôi không cho thím ấy kể. Tôi biết nếu thím ấy kể cho con nghe, thím ấy sẽ làm hỏng bét mọi chuyện cho xem. Thím ấy sẽ nói với con rằng, "Mẹ cháu đã rơi vào lưới tình, lãng mạn biết bao."
Nhưng con biết tính cách của thím ấy rồi đấy. Rõ ràng sự việc là giả, thím ấy lại cứ tưởng là thật, rõ ràng sự việc là thật, thím ấy lại đinh ninh là giả, y như cái khối u trong đầu thím ấy vậy — thím ấy vốn dĩ làm gì có khối u nào. Tôi đã nói thế với thím ấy rồi, thế nhưng thím ấy không tin, thím ấy tưởng tôi nói vậy chỉ vì có ý tốt. "Tại sao tôi phải có ý tốt chứ?" Tôi hỏi thím ấy. "Bởi vì tôi sắp chết rồi." Thím ấy bảo thế. Cãi nhau với kiểu người như thế này thì còn gì để tranh chấp nữa chứ?
Thế nên tôi muốn tự mình kể câu chuyện này cho con nghe, chứ không để Helen kể lại. Con phải tin tôi, bởi vì tôi là mẹ của con. Tôi không yêu Văn Phúc, từ đầu đã không yêu. Đương nhiên, tôi rất vui mừng, nhưng đó chỉ là vì tôi cảm thấy kết hôn là một cơ hội mới. Có lẽ tôi hơi hồ đồ, nhầm lẫn niềm vui thành tình yêu mất rồi.
Mấy ngày sau khi tuyên bố hôn sự, tôi vẫn luôn cúi đầu, ra vẻ phục tùng, chăm chú lắng nghe hai người thím dạy bảo. Các thím bảo nhà họ Văn tốt thế nào thế nào, tôi may mắn ra sao ra sao. Thím cả bảo, mặc dù tiếng tăm của mẹ tôi không tốt, nhà chồng tương lai vẫn đồng ý cho tôi sang nhà họ Văn làm con dâu. Các thím bảo, việc kinh doanh ở hải ngoại của nhà họ Văn phát đạt lắm, Văn Phúc có thể giúp cha và chú đem tất cả lụa là bông vải nhà chúng ta xuất khẩu sang nước ngoài, anh ta đã đồng ý rồi. Các thím bảo, mẹ của Văn Phúc rất tháo vát, vừa là thợ may, vừa là họa sĩ phong cảnh, lại còn nấu ăn ngon tuyệt cú mèo, mọi việc trong nhà đều do một tay bà ấy vun vén lo liệu. Bà ấy có thể dạy cho tôi rất nhiều thứ. Nhà cửa á, đương nhiên không bằng nhà chúng ta rồi, nhưng cũng khá ổn, có cả một bầy gia nhân, thậm chí còn có cả ô tô nữa cơ!
Tôi nghe càng lúc càng tin. Tôi tưởng tượng cảnh Văn Phúc lái ô tô đến đón tôi, tôi vô cùng vui mừng vì cuối cùng cũng sắp được nói lời tạm biệt với cuộc sống cũ kỹ này rồi. Tôi mơ về việc được sống trong một gia đình hạnh phúc, nơi không có lấy một ai suốt ngày càu nhàu. Tôi tưởng tượng mẹ chồng tương lai đối xử với tôi tốt đến không thể tin nổi, bà ấy chỉ khen ngợi tôi chứ không bao giờ trách mắng. Tôi tưởng tượng bản thân còn chưa thấy khát mà gia nhân đã châm nước trà sẵn cho rồi. Trong đầu tôi lướt qua vô số những đứa trẻ trông ná ná nhau, kéo váy tôi, đứa này tiếp đứa kia, chọc cười tôi. Lúc các thím bảo tôi sắp gả cho Văn Phúc, tôi lại nhớ đến lời người đàn bà bói toán từng nói với Hoa Sinh.
Bây giờ những chuyện tốt đẹp đều sắp rơi xuống đầu tôi, tôi dĩ nhiên thấy áy náy với Hoa Sinh. Thế nhưng con bé bắt đầu trách móc tôi, bảo tôi phản bội nó. Trong khoảng thời gian trước hôn lễ, chúng tôi vẫn buộc phải ngủ chung một chiếc giường. Cứ hễ tôi bước vào phòng, con bé lại nhổ nước bọt xuống đất. Giữa đêm, nó đá chân vào người tôi, đẩy tôi sang một bên, giật phăng chăn của tôi, lầm bầm chửi rủa tôi còn tồi tệ hơn cả đám giòi bọ cắn chết gia súc.
"Cậu nghe mẹ cậu nói xem nào," tôi bảo, "tớ lớn nhất, tớ phải đi lấy chồng trước, tớ phải nghe lời. Cậu muốn thay đổi quyết định này thì tự đi mà nói với mẹ cậu."
Lúc đó nếu tôi suy tính cẩn thận một chút, thì sẽ hiểu ra rằng: Các thím của tôi vốn dĩ chẳng hề cân nhắc đến vấn đề tôi lớn tuổi nhất, Hoa Sinh nhỏ tuổi nhất. Hoa Sinh là cục cưng của cả nhà, mọi thứ họ sắp xếp cho Hoa Sinh đều tốt hơn người khác: quần áo đẹp nhất, được khen nhiều nhất, tiền tiêu vặt nhiều nhất, làm phép cầu may nhiều nhất, bốc thuốc lúc bệnh nhiều nhất. Tôi đã nói rồi đấy, họ không hề ngược đãi tôi, họ chỉ đối xử với Hoa Sinh tốt hơn mà thôi. Cho nên, sao tôi lại ngốc nghếch thế cơ chứ? Lẽ ra tôi nên sớm hiểu ra — một khi họ đã muốn gả tôi sang nhà họ Văn, thì nói không chừng chẳng phải chuyện tốt lành gì sô.
Một số chuyện xảy ra sau đó khiến tôi cảm thấy tất cả những chuyện tốt đẹp này đều sẽ đổ sông đổ biển. Các thím bảo với tôi rằng, họ muốn đưa tôi đến Thượng Hải gặp cha tôi, hôn sự của tôi phải được sự đồng ý của ông. Họ cho chúng tôi xem thư của ông, bảo rằng chúng tôi bắt buộc phải đi một chuyến, chỉ có vậy, đến một câu chúc mừng cũng chẳng có. Hồi đó, giữa Thượng Hải và đảo Sùng Minh vẫn chưa có điện thoại, bức thư này là nhờ người quen chuyển tới chứ không thông qua bưu điện chính thức, thế nên khi cầm bức thư nặng trĩu trên tay, tôi cảm thấy sự việc vô cùng nghiêm trọng.
Con thử ngẫm nghĩ xem cảm giác của tôi lúc đó thế nào. Kể từ khi cha đưa tôi đến hòn đảo này, ngót nghét mười hai năm tôi chưa từng gặp lại ông. Lúc chúng tôi đến Thượng Hải, các thím chưa từng dẫn tôi đi gặp cha. Ông chưa từng viết thư cho tôi, cũng chưa từng đến đảo Sùng Minh hay trường nội trú thăm tôi. Cho nên tôi không biết lúc gặp lại tôi, ông sẽ tức giận hay vui mừng; tôi cũng chẳng biết khi nhìn thấy ông, mình nên sợ hãi hay nên vui vẻ.
Sáng hôm đó, thím cả, thím mới và tôi tắm rửa từ rất sớm. Chúng tôi mặc những bộ quần áo đẹp nhất, áo lụa và áo khoác lấp lánh. Chúng tôi mua vé khoang hạng nhất trên tàu thủy đi Thượng Hải, hai tiếng là đến cảng Thượng Hải. Chúng tôi vừa xuống thuyền, một chiếc xe ô tô đen dài cùng tài xe đã đợi sẵn ở cửa lớn, đưa chúng tôi đến dinh thự của cha tôi ở đường Cửu Long. Mọi thứ tựa như một câu chuyện cổ tích hạnh phúc.
Thế nhưng ngay khi chúng tôi đặt chân lên hành lang dẫn vào dinh thự, tôi biết chúng ta đã phạm phải một sai lầm khủng khiếp, trang phục của chúng tôi quá chói mắt, quá khoa trương, ngược lại càng khiến cho ai nấy đều biết chúng ta chẳng phải nhân vật quan trọng gì. Sau đó cửa mở ra, tôi đứng trong tiền sảnh dẫn vào ngôi nhà mà tôi từng ở qua, nhưng giờ phút này đã quên sạch sành sanh.
Ngôi nhà này lớn gấp mười lần, cũng tốt gấp mười lần ngôi nhà ở thôn Cửa Sông của chúng tôi. Có lẽ, hoàn toàn không thể đem ra so sánh như vậy được. Mọi thứ ở đây đều khiến con muốn chạm vào, nhưng con lại chẳng dám bước những bước chân thật rộng, sợ làm vỡ hỏng thứ gì đó. Bên cạnh tôi có hai chiếc kệ cao nguy nga, bên trong đặt hai pho tượng nhỏ bằng ngọc trắng, một pho tạc người thợ săn đang đuổi bắt chú hươu, pho tượng kia là hai người phụ nữ mặc trang phục kiểu Anh đang tảo bộ. Một tiếng ho, một tiếng hỉ mũi, một câu nói vang lên đều quá lớn, chắc chắn sẽ làm vỡ tan những bức tượng này mất.
Tôi nhìn xuống dưới chân, chỉ hận không thể khom người lau sạch bụi bẩn trên đôi giày mới. Thế nên tôi dán chặt mắt vào nền đá cẩm thạch trắng.
Bỗng nhiên tôi nhớ ra, mẹ từng bảo với tôi, hoa văn trên đá cẩm thạch chính là dấu vết để lại do nước sông chảy qua nham thạch. Trên mặt sàn đá cẩm thạch trước mắt tôi, ánh sáng và bóng tối với đủ loại màu sắc rực rỡ đến hoa cả mắt, mẹ từng nói, giống như bóng phản chiếu của những chú cá đủ màu sắc trong cùng một dòng sông.
Thế là tôi ngẩng đầu lên tìm nguồn gốc của ánh sáng và bóng rồng này — hóa ra ô cửa sổ kính rất lớn ở phía trên chiếu nghỉ cầu thang đã phản chiếu toàn bộ hoa cỏ, cây cối, bầu trời lên trên đó. Tôi nhìn thấy chiếc cầu thang xoắn ốc đi lên, cố gắng hồi tưởng lại cảm giác lòng bàn tay chạm vào tay vịn gỗ hồng mộc nhẵn bóng đi xuống.
Đúng lúc này tôi nhìn thấy cha đang chậm rãi bước xuống cầu thang, từng bước một, tựa như thần tiên giáng trần.
Tôi nhớ đến phong thái của ông, ông luôn khoan thai từ tốn. Tôi nhớ trước kia mình luôn có cảm giác chờ đợi, sợ hãi, không biết tiếp theo sẽ xảy ra chuyện gì.
Thế nhưng lúc này ông đang đặt chân lên bậc thang cuối cùng, ánh mắt đăm đăm nhìn tôi, trên mặt không biểu cảm. Tôi có thể chắc chắn, tôi cũng đang nhìn ông như thế, giống như một bóng ma đang nhìn chằm chằm vào bóng ma khác. Ồ, có lẽ, ông nhìn thấy hình bóng mẹ tôi từ khuôn mặt tôi, ông căm hận tôi. Tôi cúi người hành lễ.
"Con gái," ông đột ngột lên tiếng, "con nên mời khách của chúng ta ngồi xuống đi."
Tôi quay đầu nhìn sang bên cạnh, muốn biết ông đang nói chuyện với vị nào khác trong phòng. Thế nhưng thím cả huých tay tôi, tôi vô thức chỉ vào phòng khách nhỏ bên tay phải của mình, nói: "Mời ngồi, mời vào ngồi đi. Đừng khách sáo, ngồi đi." Cứ như thể tôi vẫn thường xuyên chào đón các thím trong căn phòng chưa từng ở bao giờ này vậy.
Tất cả chúng tôi đều yên lặng ngồi lên sofa, lớp đệm lông vũ của sofa lún sâu xuống, vùi lấp cả người tôi bên dưới. Thím cả thấp thỏm gật đầu với cha tôi: "Anh khỏe chứ, đại ca? Chắc là thân thể vẫn tráng kiện chứ ạ." Thím mới lặp lại y nguyên lời đó: "Anh khỏe chứ? Anh khỏe chứ?"
Cha tôi mỉm cười, chầm chậm bắc chéo hai chân, rồi nói, "Vẫn tạm ổn, tuy không phải là tốt nhất. Các cô đều biết xương cốt già đi thì sẽ thế nào rồi đấy."
"Ấy, nói phải lắm!" Thím cả vội vàng tiếp lời, "Tôi cũng thế, suốt ngày mắc bệnh đau dạ dày, ăn cơm tối xong là lại đau, còn có chỗ này, ruột gan của tôi..."
Lông mày cha tôi nhướng lên, mọi người lập tức lại im bặt. Lúc này chiếc đồng hồ ở căn phòng khác vang lên từng hồi đinh đang, các thím của tôi làm bộ vui mừng lắng nghe, sau đó đồng thanh cất lời, đây là âm thanh hay nhất mà họ từng nghe thấy.
Tôi ngồi im thin thít ở đó. Tôi phát hiện cha trông già hơn chú rất nhiều, cũng gầy hơn rất nhiều. Gương mặt ông nghiêm nghị hơn, cũng trông thông minh hơn. Ông đeo một cặp kính gọng vàng tròn xoe, bên ngoài chiếc áo gác-sê kiểu Trung Hoa là một bộ Âu phục màu đen. Vóc dáng ông không cao, nhưng rất có khí thế, ông chậm rãi quay đầu nhìn một người gia nhân, rồi thong thả khoát tay ra hiệu người gia nhân này bước lên. Thế nhưng ông không sai bảo gia nhân làm gì, mà quay phắt đầu về phía tôi.
"Con gái, con quyết định đi, dùng món điểm tâm Trung Hoa, hay bánh quy Anh với trà đây?" Trong lòng tôi nổi sóng bời bời, cảm giác như hai con ngựa đang chạy ngược hướng nhau. Con nào mới tốt đây? Câu trả lời nào mới là chính xác đây?
"Đơn giản một chút là được ạ." Cuối cùng tôi khẽ nói.
Trên mặt ông lộ nụ cười. "Đương nhiên, con luôn thích thế mà." Ông lại khoát tay với người gia nhân nọ, sai hắn mang chút bánh quy Anh, lê Trung Quốc và sô-cô-la Bỉ tới.
Bây giờ tôi vẫn có thể nhớ lại thái độ của ông lúc đó, phong thái của ông tao nhã biết bao, khiến tôi cảm thấy vô cùng xa lạ. Thế nhưng ông dường như biết rõ tâm tư của tôi, nếu tôi thực sự mở miệng nói ra những thứ mình muốn, thì chính là những món này đây.
Thời gian uống trà không dài, thím cả vừa uống vừa đem chuyện nhà họ Văn kể cho cha tôi nghe — họ và con gái ông xứng đôi thế nào, một thông gia tốt có ích lợi ra sao đối với việc làm ăn của ông. Hai mắt tôi dán chặt vào đôi tay đan chéo đặt trên đầu gối, chốc chốc lại ngước mắt liếc nhìn một cái, xem phản ứng của cha ra sao. Thím cả nói thật có giả có, lại tô vẽ thêm thắt mắm muối, ai nấy đều chăm chú lắng nghe.
Việc kinh doanh xuất khẩu của nhà họ Văn đã phát triển thành một công ty thương mại quốc tế. Kiến thức về kinh doanh hải ngoại giúp Văn Phúc có thể thiết lập quan hệ bạn bè tốt đẹp với các chủ tịch công ty quan trọng nhất ở Anh và Mỹ. Còn mẹ nhà họ Văn á, nghe khẩu khí của thím cả, tháo vát đến mức gióng như có thể thi triển phép thuật khiến cành khô mùa đông mọc đầy lá xanh chỉ sau một đêm vậy!
Cha tôi nào phải kẻ ngốc, ông lẳng lặng lắng nghe, vừa nhấm nháp ngụm trà. Hễ thím cả khoác lác quá đà, ông liền im lặng trừng trừng nhìn thím ấy, trên mặt không một gợn sóng, cho đến khi thím ấy ngồi ngồi không yên, hạ thấp bớt những lời khen ngợi nhà họ Văn xuống một chút.
"À, đương nhiên, việc làm ăn của họ theo tiêu chuẩn của anh thì chẳng đáng tính là gì, sao có thể với tới địa vị cao ngất ngưởng hiện tại của anh chứ. Thế nhưng ở địa phương họ cũng đủ sung túc, đủ được kính trọng rồi. Tôi nghĩ thế này, đối với con gái anh, gả cho một đại gia đình được người đời kính trọng mới là chuyện quan trọng nhất."
Bây giờ thím cả đã đem những lời hay ý đẹp về nhà họ Văn nói cạn sạch, thế nhưng cha tôi vẫn im thin thít.
"Một chàng trai rất tốt, một đại gia đình rất được kính trọng." Thím mới phá vỡ sự im lặng.
Cha tôi nhìn tôi. Tôi lúng túng không biết để tay vào đâu, cố gắng không để lộ ra ngoài. Biết đâu ông phản đối mối hôn sự này, biết đâu ông vẫn còn giận mẹ tôi, giận cả tôi nữa.
"Ta biết gia đình này." Cuối cùng ông cũng mở miệng, "Ta đã phái người đi điều tra việc làm ăn của họ, đi tra cứu bối cảnh của họ rồi." Ông xua xua tay, giống như đang đuổi muỗi vậy, "Thế nhưng nghe ý kiến của người một nhà cũng rất hay."
Thím cả và thím mới giật mình thon thót, cứ như hai tên trộm đang hành sự bị bắt quả tang tại trận vậy. Bọn họ chột dạ cúi gằm đầu, chờ đợi nghe cha tôi nói tiếp, không biết ông đã nắm được những gì rồi.
"Con gái, trong lòng con nghĩ thế nào?" Giọng điệu của ông rất thấp, có phần hơi khàn khàn, "Con có đồng ý không?"
Tôi cắn cắn môi, bấu bấu móng tay, vò vò vạt áo, chẳng biết nên trả lời thế nào cho phải.
Cha tôi lại xua tay. "Nó đồng ý." Ông nói với các thím, rồi thở dài một tiếng, "Chúng ta cớ gì phải ngăn cản nó chứ?"
Các thím đều cười xòa, cứ như đây chỉ là một trò đùa vậy. Thế nhưng tôi lại nghe ra ý khác từ trong đó, giọng điệu của cha nghe vô cùng tiêu điều. Thế nhưng còn chưa kịp nghĩ nhiều, cha tôi đã hỏi đến chuyện làm ăn rồi, cho nên có lẽ là tôi hiểu lầm chăng?
"Nhà họ Văn đưa ra sính lễ bao nhiêu?"
Thím cả đưa qua một chiếc phong bì. Cha tôi nhanh chóng đếm sạch bốn nghìn tệ, rồi gật gật đầu. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Đây chính là một khoản tiền khổng lồ, vô cùng đáng kể, xấp xỉ tương đương hai nghìn đô la Mỹ, đặt đến thời điểm hiện tại nói không chừng trị giá bốn năm vạn ấy chứ. Người thuộc tầng lớp trung lưu phải làm việc hơn chục năm mới kiếm được con số này. Thế nhưng điều này không có nghĩa nhà họ Văn thực sự đem số tiền này tặng cho cha tôi, vào ngày tôi kết hôn, ông vẫn phải trả lại số tiền này cho nhà họ Văn, nói rằng "Đời này con gái tôi và các người cùng sở hữu tài sản nhà họ Văn, thế là đủ rồi".
Sau đó cha tôi phải chuẩn bị một khoản tiền tương đương làm của hồi môn cho tôi, ông bảo với tôi rằng, "Số tiền này là cho riêng con, đỡ cho con gánh nặng quá lớn khi sang nhà mới." Khoản tiền này là của tôi, dùng tên tôi mở tài khoản ngân hàng, tôi không cần chia cho bất kỳ ai, chẳng ai có thể lấy nó đi từ tay tôi cả. Thế nhưng đây cũng là số tiền duy nhất trong đời tôi có được.
"Nhà họ Văn muốn phần của hồi môn lớn cỡ nào?" Cha tôi tiếp tục hỏi, ý ông là của hồi môn ngoài tiền bạc.
Thím cả buộc phải suy nghĩ cẩn thận cách trả lời câu hỏi này. Nếu thím ấy nói nhà họ Văn không đòi hỏi nhiều, thì điều này đồng nghĩa với việc gia đình này không đáng để kết thông gia. Nếu thím ấy nói họ đòi hỏi rất nhiều, vậy thì tức là tôi không đáng để được gả qua đó. Thế nhưng thím cả đã có kinh nghiệm gả hai cô con gái rồi, thế nên thím ấy chỉ đơn giản đáp một câu, "Chỉ cần bố trí ổn thỏa đồ đạc trong phòng tân hôn của nó và chồng là được." Ý thím ấy là phòng tân hôn của chúng tôi ở nhà họ Văn. Câu trả lời thế này nghe có vẻ nhà họ Văn không hề tham lam cho lắm, y như việc gọi bài lúc chơi bài phỏm vậy. Giờ thì đến lượt cha tôi thể hiện sự rộng rãi ngoài mức cần thiết của mình rồi.
"Đương nhiên rồi," thím cả nói thêm một câu, "giường ngủ là do nhà chồng mua." Ở đây thím ấy đang nói đến phong tục cũ, bởi vì đời sau con cháu luôn từ trên chiếc giường của người chồng mà sinh ra.
"Uống trà nữa không?" Cha tôi hỏi. Ông chỉ hỏi vậy thôi, chứ không thực sự gọi gia nhân lập tức tới rót trà. Đây là tín hiệu nhà chúng tôi dùng để thông báo cuộc viếng thăm đến đây là kết thúc, tôi và các thím lập tức đứng dậy.
"Không cần đâu, không cần đâu. Chúng tôi phải đi đây." Thím cả nói.
"Đi nhanh thế cơ à?"
"Chúng tôi muộn giờ rồi." Thím nhỏ nói. Đây không phải lời thật lòng, chiều hôm đó, chúng tôi chẳng có nơi nào để đi cả, tàu của chúng tôi tận chập tối mới rời bến. Chúng tôi chuẩn bị rời khỏi phòng.
Thế nhưng đúng lúc này, tôi nghe thấy cha đang gọi mình. Ông không gọi "Con gái", ông gọi thẳng tên tôi, "Vân Vân à," ông nói, "chào tạm biệt các thím đi. Sau đó đến thư phòng của chúng ta, chúng ta bàn bạc chuyện của hồi môn của con."
Chiều hôm đó lúc được dẫn vào phòng của cha, hy vọng mới mong manh làm sao! Thế nhưng bây giờ hy vọng vô cùng to lớn nương theo tiếng kêu của tôi chực trào nhảy ra khỏi cổ họng, ông thực sự coi tôi như con gái của ông, bao nhiêu năm tháng ở giữa hoàn toàn bị lãng quên rồi!
Đương nhiên, ông không hề ôm tôi, cũng chẳng hôn tôi, không giống như người Mỹ các người, cứ xa nhau năm phút gặp lại là lại ôm lại hôn. Thậm chí sau khi các thím rời đi, chúng tôi cũng không trò chuyện lâu lắm. Những lời ông nói với tôi lúc đó, đến tận bây giờ tôi vẫn cảm thấy thắc mắc: Rằng ông thực sự nghĩ tôi đã tìm được một mối hôn sự tốt? Hay là tìm ra một lối tắt để vĩnh viễn đuổi con người khiến ông nhớ đến cuộc hôn nhân bất hạnh của mình đi?
Cho nên đến tận bây giờ tôi vẫn nhớ rõ mồn một mấy chữ ông nói với tôi. Tôi cảm thấy, mình đã không để ý nghĩa của chúng thay đổi theo chiều hướng mà tôi thích.
Thần sắc ông nghiêm nghị, biểu cảm rạch ròi. Ông không hề xin lỗi vì chuyện cha con cách biệt mười hai năm. "Bây giờKý nhiên con sắp kết hôn," ông nói, "con phải hiểu rõ vị trí thực sự của mình trong cuộc đời." Sau đó ông chỉ vào một bức cổ họa chiếm trọn cả bức tường, trên tranh vẽ hơn một trăm nhân vật khác nhau, có đàn ông, phụ nữ, trẻ con, bọn họ đang làm đủ mọi việc, có người đang làm lụng, có người đang ăn uống, lại có người đang ngủ, tất cả những khoảnh khắc của cuộc đời đều được bắt trọn, hóa thành vĩnh hằng ở nơi này.
"Hồi con nhỏ," cha tôi nói, "thường hay đến đây, xem đi xem lại bức tranh này, còn nhớ không?"
Tôi đăm đăm nhìn bức tranh một lúc lâu, muốn nhận ra nó. Cuối cùng, tôi cũng nhận ra một nhân vật nhỏ bé ở góc khuất, đây là một người phu nhân đang nhìn ra ngoài từ ban công. Tôi gật gật đầu.
"Lúc đó ta hỏi con có thích bức tranh này không, con đã nói với ta rằng, bức tranh này vẽ rất tệ, còn nhớ không?"
Tôi không thể tưởng tượng nổi hồi bé mình lại có thể nói với cha những lời như thế. "Xin lỗi, con không nhớ nổi nữa ạ," tôi nói, "thực sự xin lỗi, trong ký ức của cha con lại là một đứa trẻ không nghe lời như vậy."
"Lúc đó con nói, bức tranh này rất hỗn loạn. Con không biết người phụ nữ gảy đàn tỳ bà này đang tấu lên khúc ca buồn, hay là khúc ca vui. Con không biết người phụ nữ gánh quang gánh kia vừa mới lên đường, hay đã đi hết hành trình của mình rồi. Cả người phụ nữ ở ban công này nữa, con nói thoạt trông cô ấy có vẻ đang chờ đợi trong mây hy vọng, thoạt trông lại có vẻ đang ngập tràn sợ hãi nhìn ngó xung quanh."
Tôi không nhịn được che miệng bật cười. "Hồi bé con kỳ quặc thật đấy."
Cha tôi cứ thế tự nói tiếp, dường như chẳng hề nghe thấy những gì tôi nói. "Ta thích nhất điểm này ở con, nghĩ gì trong lòng thì nói nấy." Sau đó ông nhìn tôi, không thể nhìn thấu tư tưởng tình cảm của ông qua gương mặt ấy.
"Vậy nói cho ta nghe xem, bây giờ con nhìn nhận bức tranh này thế nào?" Ông hỏi.
Tim tôi đập thình thịch, vắt óc tìm một câu trả lời có thể khiến ông vui lòng, muốn cho ông biết, tôi vẫn không hề thay đổi, vẫn thật thà như xưa.
"Con rất thích phần này," tôi vừa nói vừa căng thẳng chỉ vào một người đàn ông đang đứng trước quan tòa tuyên thệ, "tỷ lệ cân đối, chi tiết sinh động. Còn phần kia con không thích chút nào cả, cha xem kìa, phần đáy quá tối, quá nặng nề, nhân vật cũng không có chiều sâu —"
Cha tôi bước đi nơi khác. Ông gật gật đầu, thế nhưng tôi biết ông chẳng hề đồng tình với quan điểm của tôi.
Sau đó ông quay mặt lại. "Từ bây giờ trở đi," cuối cùng ông trầm mặt nói, "con buộc phải nghe lời chồng, suy nghĩ của riêng con sẽ chẳng còn tính là gì nữa. Hiểu chưa?"
Tôi vội vã gật đầu, vô cùng cảm kích vì cha đã dùng phương pháp khéo léo này để dạy cho tôi bài học hữu ích. Sau đó ông bảo tôi phải ở lại nhà ông thêm một tuần để chuẩn bị chút của hồi môn.
"Con biết mình cần những gì không?" Ông hỏi.
Tôi cúi gằm mắt, có chút ngượng ngùng, "Đơn giản một chút là được ạ."
"Đương nhiên," ông nói, "con lúc nào cũng nói đơn giản một chút là được." Ông mỉm cười, tôi rất vui vì mình đã đoán đúng ý.
Thế nhưng ông lập tức thu lại nụ cười. "Giống hệt mẹ con," ông nói, "luôn muốn những thứ đơn giản." Sau đó ông nheo nheo mắt, như thể đang nhìn thấy bà ở một nơi xa xôi nào đó. "Lúc nào cũng nghĩ đến những thứ khác," ông vừa nói vừa nghiêm nghị nhìn tôi, "Con cũng thế phải không?"
Ý định của ông, cũng giống như bức tranh kia vậy, từng khoảnh khắc đều đang biến đổi. Mà tôi chính là người phụ nữ đứng ở ban công trong tranh, ôm ấp hy vọng, ôm ấp sợ hãi mà chờ đợi, sóng lòng tôi dâng trào theo từng câu chữ. Cho nên đến cuối cùng, tôi chẳng biết nên trả lời ông thế nào, đành thật thà buột miệng thốt lên, "Giống ạ."
Chiều hôm đó, một người gia nhân dẫn tôi đến căn phòng tôi từng ở cùng mẹ hồi nhỏ, rồi rời đi, để tôi có thể nghỉ ngơi một lát trước bữa tối. Cửa vừa đóng lại, tôi liền nhìn quanh bốn phía, chạm vào tất cả mọi thứ trong phòng.
Chăn đệm đã được thay mới. Những bức tranh và rèm cửa bà thích đã không cánh mà bay, quần áo, lược, bàn chải, xà phòng, cả mùi hương của bà đều không tìm thấy nữa. Thế nhưng đồ đạc vẫn được bài trí y nguyên như cũ: chiếc giường, tủ quần áo cao, đôn và bàn trang điểm, cả chiếc gương bà từng soi nữa. Tôi vui mừng đến bật khóc, cuối cùng tôi cũng được trở về rồi. Sau đó tôi lại khóc hệt như hồi bé, vì không biết khi nào mẹ mới trở về.
Về sau tôi mới biết, vẫn chưa có ai dám ở căn phòng từng thuộc về mẹ tôi này cả. Mọi người đều cho rằng đây là một căn phòng xui xẻo, thế nên bao nhiêu năm nay, vẫn chưa có ai dùng căn phòng này. Mặc dù, ngôi nhà này chen chúc biết bao nhiêu con người. Tam má và thím Ngô vẫn ở đó, con còn nhớ họ chứ — mấy người vợ khác của cha tôi. Tứ má đã qua đời từ mấy năm trước. Các con trai của cha, bây giờ cũng có vợ con của riêng mình, bọn họ đều sống ở đây, còn có cả gia nhân và con cái của họ nữa, tất cả chen chúc lại với nhau, xấp xỉ khoảng hai lăm đến ba mươi nhân khẩu đấy.
Thế nhưng mặc dù đông người như vậy, trong nhà vẫn vô cùng yên tĩnh. Lúc tôi bước xuống lầu ăn tối, mọi người nói chuyện đều nhỏ nhẹ khẽ khàng. Bọn họ chào đón tôi đầy lịch sự, đương nhiên, chẳng ai nhắc đến nguyên nhân tại sao tôi lại không ở đây bao nhiêu năm trời. Tôi nghĩ chắc họ vẫn chưa biết nên đối xử với tôi thế nào.
Sau đó, thức ăn được dọn lên bàn. Ban đầu tôi ngồi bên cạnh vợ của một người anh em khác mẹ, thế nhưng cha làm ra hiệu lệnh, bảo tôi ngồi cạnh ông. Mọi người đều quay đầu nhìn tôi. Cha tôi đứng dậy, tuyên bố rằng, "Con gái ta Giang Văn Lệ một tháng nữa sẽ kết hôn." Sau đó chúng tôi cùng chờ đợi — chờ đợi mãi chờ đợi mãi — đợi gia nhân thong thả rót một loại rượu đặc biệt vào những chiếc chén ngọc trắng nhỏ bằng hạt tấm trên tay mỗi người.
Cuối cùng, cha tôi lại lên tiếng, ông chúc rượu ngắn gọn cho tôi: "Chúc con sau khi kết hôn, vạn sự như ý. Cạn ly!" Ông ngả đầu ra sau, uống cạn một hơi chén rượu trong tay, mọi người cũng đều cạn sạch. Sau đó tôi phát hiện tất cả mọi người đều đến chúc mừng tôi, lớn tiếng trò chuyện giống như một gia đình hạnh phúc vậy. Đầu lưỡi tôi bị cồn đốt rát bỏng, những giọt nước mắt vui sướng cũng chực trào tuôn rơi.
Kết quả là, cha bảo tam má đi cùng tôi mua của hồi môn. Bà là người có địa vị cao nhất trong nhà, toàn bộ tiền tài đều phải thông qua tay bà. Đương nhiên, bà cũng rất thông thuộc những vật dụng cần thiết khi con gái đi lấy chồng. Sau khi tứ má qua đời, của hồi môn của ba người con gái nhà đó đều do một tay tam má giúp đỡ lo liệu, đây là lời bà nói với tôi trên chiếc xe hơi nhỏ đến công ty Vĩnh An — bách hóa lớn nhất trên đường Nam Kinh.
"Ba đứa con gái của tứ má," bà nói, "đứa nào đứa nấy đều thừa hưởng thói hư tật xấu nhất của mẹ chúng. Phì! Phì! Con cả thì keo kiệt bủn xỉn, đến một đồng xu rơi vào bát ăn mày cũng chẳng nỡ cho. Con hai á, không có lòng trắc ẩn, dám vứt rác vào bát ăn mày cơ đấy. Còn con ba á, tham lam không ai bằng — con đoán xem nó sẽ làm gì nào? — nó á, đến cả rác và bát ăn mày cũng muốn trộm. Thế nên ta chẳng mua mấy của hồi môn cho chúng nó đâu. Đứa con gái hư hỏng thế này, con bảo ta có nên mua không?"
Nói như vậy, trước mặt tam má, nhất cử nhất động của tôi đều phải cẩn thận từng li từng tí. Tôi nhớ trong số các bà vợ, bà ấy là người đố kỵ với mẹ tôi nhất, bà ấy đố kỵ mái tóc của mẹ, đố kỵ địa vị và gia giáo của mẹ. Tôi không muốn cho bà ấy bất kỳ cớ gì để bẩm báo với cha, nói rằng tôi tham lam.
Cho nên khi bà ấy bảo tôi chọn ghế, tôi chọn một chiếc ghế kiểu dáng vô cùng đơn giản, chứ không lấy loại ghế chạm trổ hoa văn loè loẹt kia. Khi bà ấy bảo tôi chọn bàn trà, tôi chỉ vào chiếc bàn có chân bình thường nhất. Bà ấy gật đầu, bước qua bảo nhân viên cửa hàng đợi giúp đỡ chúng tôi. Thế nhưng bà ấy không đặt mua món đồ tôi chọn, bà ấy đặt mua món cao hơn món tôi chọn tới ba bậc lầu!
Tôi cảm ơn bà ấy không biết bao nhiêu lần. Sau đó tôi nghĩ chúng ta nên về nhà thôi, tôi cứ tưởng chúng tôi mua một chiếc bàn trà và một chiếc ghế là đủ rồi. Thế nhưng tam má ôn tồn nhắc nhở tôi, một người phu nhân tao nhã cần những gì. "Con muốn tủ quần áo lớn kiểu dáng thế nào?" Bà hỏi.
Con có thể tưởng tượng được cảm giác của tôi lúc đó không? Con còn nhớ tôi từng mong ước và cầu khẩn một cuộc sống tốt đẹp hơn thế nào chứ? Giờ đây ai nấy đều đối xử với tôi tốt như vậy, tôi không còn cảm thấy cô đơn nữa, những gì tôi muốn đều có đủ cả. Tôi đã chẳng còn đòi hỏi gì thêm, y như lời người đàn bà bói toán đã nói.
Tôi và tam má đi dạo các cửa hàng suốt cả ngày, giống như biểu diễn trò chơi vậy, người phụ nữ kia hoàn toàn không có thời gian lục lọi món mình muốn từ trên kệ hàng, hoàn toàn không có thời gian đưa ra quyết định — có nên xem thử trước không, có nên mua hay không. Tôi cũng vậy, chỉ là tôi có trọn vẹn một tuần thời gian. Cho nên con có thể tưởng tượng được chúng tôi đã mua bao nhiêu đồ đạc, những giấc mơ về tương lai của tôi bắt đầu càng lúc càng trở nên viên mãn.
Hôm đó chúng tôi còn tìm được một chiếc bàn trang điểm ba tầng và một chiếc tủ quần áo lớn ba tầng, đều vô cùng xinh đẹp. Đây là món đồ tôi yêu thích nhất: Tôi tự tay chọn một chiếc bàn trang điểm phong cách hiện đại, nó có một chiếc gương tròn lớn viền khảm bạc, hai bên đều có ngăn kéo, một cái dài hơn, một cái ngắn hơn. Mặt trước mỗi ngăn kéo đều được cẩn gỗ gụ, gỗ sồi và xà cừ, hình dáng giống như một chiếc quạt đang xòe ra. Bên trong ngăn kéo còn khảm gỗ long não, mở ra thơm nức mũi. Phần giữa thấp hơn các phần khác một chút. Phía trên khảm một mặt bàn hình vuông. Phía dưới bàn là một chiếc ghế nhỏ uốn cong, bên trên bọc gấm màu xanh lục. Tôi tưởng tượng mình ngồi trước chiếc bàn trang điểm này, trông giống hệt như mẹ vậy.
Bây giờ con hiểu ý của mẹ rồi chứ, đồ đạc mẹ mua cho con cũng là kiểu dáng thế này đây. Mẹ đã tìm mãi mới tìm được nó đấy. Cho nên con phải hiểu rằng, mẹ mua chiếc bàn này không phải dùng để đày đọa con, đó là món đồ yêu thích của mẹ mà.
Ngày hôm sau, tam má giúp tôi đi mua những món đồ chơi thú vị: máy thu thanh này, máy khâu này, máy hát tự động đổi đĩa này, cả bể cá vàng to đến mức nhét lừa cả người tôi vào được nữa. Tôi và Văn Phúc sẽ có rất nhiều cách để trải qua những ngày tháng hạnh phúc của mình.
Ngày thứ ba hoặc ngày thứ tư, tam má lại cùng tôi đi mua đồ dùng cá nhân của cô dâu. Xấu hổ chết đi được! Hễ bà ấy bảo cần mua cái gì, và tại sao lại cần, tôi đành cười trừ. Chúng tôi đi mua một chiếc chậu rửa mặt trước, đây quả thực là một món đồ vô cùng tuyệt vời — mặt bàn đá cẩm thạch màu xanh lá và tủ gỗ chạm trổ hoa văn. Tam má chỉ cho tôi xem, bên dưới còn có tủ nhỏ chuyên dùng để đựng đồ dùng của phụ nữ. Băng vệ sinh chúng tôi dùng lúc đó, cũng ná ná như tã lót vậy.
Sau đó chúng tôi lại mua hai chiếc bồn tắm khác nhau, một chiếc bồn gỗ cao, dùng để tắm rửa người ngợi vào buổi sáng sau khi thức dậy, còn một chiếc bồn tráng men nhỏ, chuyên dùng để rửa chân và bộ phận sinh dục. Đa số người Trung Quốc lúc bấy giờ đều như vậy, bởi vì họ không có thời gian tắm rửa mỗi ngày, chỉ có thể rửa một bộ phận nào đó trên cơ thể. Tam má nói, "Mỗi tối con đều phải rửa sạch phần dưới trước, rồi mới lên giường với chồng, như vậy mới lấy lòng được anh ta." Lời này rất có lý. Tôi nhớ không biết bao nhiêu lần tôi muốn đẩy Hoa Sinh xuống chiếc giường chúng tôi ngủ chung. Thế nhưng tam má lại bảo tôi, "Nửa đêm con còn phải dậy rửa lại một lần nữa." Bà ấy không giải thích tại sao lại phải làm vậy. Thế nhưng tôi bắt đầu suy nghĩ đàn ông luôn cầu kỳ hơn phụ nữ, mà phụ nữ tự nhiên sẽ dơ bẩn hơn đàn ông.
Sau đó tam má lại bảo tôi mua ba chiếc bô. Tôi nhìn thấy bô, nghĩ đến việc sau này mình phải dùng chung những chiếc bô này với Văn Phúc, mặt bỗng chốc đỏ bừng lên. Bô có nắp làm bằng gỗ, bên trong sơn dầu đỏ, lại quét thêm một lớp dầu trơn có mùi nồng nặc.
Ngày thứ năm, tam má đi cùng tôi mua đồ dùng khi ra ngoài và ở nhà: mấy chiếc vali lớn, hai chiếc rương gỗ long não. Chúng tôi nhét toàn bộ gối và chăn vào trong đó. Tam má hệt như phát cuồng vậy, nhất quyết bắt tôi phải mua tận hai mươi chiếc chăn!
"Tất nhiên là cần nhiều thế này rồi," cô ấy nói, "nếu không thì sau này làm sao giữ ấm cho con của cô được chứ?" Thế là tôi chọn những chiếc chăn vừa tốt vừa dày, toàn là hàng sản xuất tại Trung Quốc, xung quanh dệt hoa văn tinh xảo, bên trong nhồi loại bông tốt nhất, đắt nhất, đã qua nhiều lần bật bông cho tơi xốp lên. Tôi còn chọn cho những chiếc chăn ấy bộ vỏ chăn thật đẹp, toàn bằng lụa tơ tằm, không có chiếc nào bằng vải bông cả, mỗi chiếc vỏ chăn đều thêu các họa tiết hoa văn khác nhau, không chiếc nào trùng lặp.
Ngày thứ sáu, chúng tôi đi mua toàn bộ vật dụng cần thiết để tiếp khách và cúng tổ tiên: sô-pha và ghế ngồi, bàn thờ, bốn chiếc ghế đẩu và một chiếc bàn tròn thấp. Món đồ cuối cùng này được làm bằng gỗ sưa đỏ rất dày, rất nặng và sáng bóng, chân bàn chạm trổ hình móng thú theo phong cách Trung Hoa, mép mặt bàn khắc toàn chữ "Thọ", bên dưới bàn còn có bốn chiếc bàn nhỏ, lúc khách đông có thể kéo ra.
Ngày thứ sáu, cũng là ngày cuối cùng, chúng tôi đi mua toàn bộ bát đũa và đồ bạc. Lúc này tôi ở nhà cha mình đã đủ lâu, và đã biết được đạo lý này: Bất cứ thứ gì cũng phải chuẩn bị hai bộ!
Tôi mua hai bộ, một bộ dùng để đãi khách, bộ còn lại dùng thường ngày, mỗi bộ có tổng cộng mười món. Không giống như kiểu Mỹ có tô, dao và nĩa. Một bộ bình thường, một bộ cao cấp, được làm bằng ngà voi hoặc bạc. Bạn có thể tưởng tượng được không? Đó là đồ bạc Trung Quốc, rất nguyên chất, rất mềm, giống như có thể dùng để đổi lấy tiền vậy.
Trong tiệm có một chiếc bàn vừa dài vừa lớn, thế là chúng tôi bày tất cả những thứ tôi đã chọn lên đó. Tôi không kiềm chế được mà nhảy múa quanh chiếc bàn, tôi chọn cái này, lại nhặt cái kia, cứ như thể tôi đã bắt đầu cuộc sống gia đình rồi, không cần phải nghĩ đến chuyện tiền bạc nữa. Tôi có rất nhiều chén bạc, có chén đựng nước tương, đựng nước trà, đựng rượu, còn có cả đĩa bạc để đặt muỗng. Tôi có đủ loại muỗng trà lớn nhỏ, một loại dùng để múc canh thịt, một loại dùng để ăn món tráng miệng, món mà tôi thích uống nhất là canh hạt sen chẳng hạn. Ngoài ra còn có hai loại nữa, một lớn một nhỏ, tôi vẫn chưa biết có thể dùng vào việc gì. Để cho có đôi có cặp với muỗng, tôi còn mua bốn chiếc tô canh với các kích cỡ khác nhau, không phải bằng đồ bạc, vì đồ bạc cầm lên rất phỏng tay, nhưng tất cả đều được làm bằng đồ sứ thượng hạng, lại còn viền vàng nữa. Sau đó tôi lại mua hai loại đĩa lớn nhỏ khác nhau, một loại nhỏ, loại kia còn nhỏ hơn nữa, bởi vì Tam nương từng chỉ ra rằng: "Nếu cô chọn chiếc đĩa quá lớn, cũng đồng nghĩa với việc cô sẽ không bao giờ có cơ hội ăn nữa."
Đũa tôi chọn cũng là loại tốt nhất, toàn bằng bạc nguyên chất, mỗi đôi được nối với nhau bằng một sợi dây xích nhỏ, như vậy chúng sẽ không bao giờ tách rời, cũng không bao giờ bị thất lạc. Tôi vừa mua đồ xong định rời đi, người nhân viên cửa hàng liền cho tôi xem một món đồ bằng bạc nhỏ xíu, hình dáng giống như một con cá đang nhảy lên. Tôi vừa nhìn thấy là biết mình phải mua ngay món này, bởi vì món đồ trang trí nhỏ này dùng để gác đũa, lúc ăn cơm dừng lại một lát, thưởng thức bữa tiệc, ngắm nhìn những vị khách xung quanh, tự chúc mừng bản thân, nói một câu rằng, tôi thật may mắn.
Ngày thứ bảy đi mua đồ cưới cách ngày tổ chức hôn lễ của tôi chỉ còn lại vài tuần ngắn ngủi. Tôi thầm nghĩ: Mình thật may mắn làm sao. Trong đầu tôi trống rỗng, nghĩ đến toàn là những chuyện tốt đẹp. Tôi chắc chắn rằng cuộc sống của mình đã thay đổi, từng khoảnh khắc trôi qua sẽ càng tốt đẹp hơn, hạnh phúc của tôi sẽ chẳng bao giờ có điểm dừng. Bây giờ ngày nào tôi cũng cầu nguyện thần linh, nhưng chỉ để bày tỏ lòng biết ơn vô tận của mình đối với hạnh phúc vô tận mà thôi.
Hãy tưởng tượng tôi đang ở trong cửa hàng, mỉm cười, ngồi bên chiếc bàn dài đó, ở cùng với một đống đồ đạc mà tôi đã mua. Tôi muốn Tam nương và người nhân viên cửa hàng đang đứng nhìn bên cạnh cùng chia sẻ niềm vui của mình. Tôi nhặt đôi đũa bạc lên, giả vờ gắp một miếng từ trong đĩa bạc, rồi quay sang hướng khác, tôi tưởng tượng mình đang nói, "Chồng ơi, anh ăn món này đi, phần ngon nhất của con cá này thuộc về anh đấy. Không, đừng đưa cho em, anh ăn đi."
Lúc đó tôi đã nghĩ như vậy đấy, tôi muốn tôn trọng chồng mình từ mọi mặt. Tôi thừa nhận: Tôi cũng muốn trổ tài một chút — tôi sẽ tự tay đứng ra lo liệu vài mâm cỗ, một mâm cho cha tôi, người mà bây giờ tôi vô cùng kính trọng; một mâm cho Tam nương, tôi muốn kính trọng bà như người mẹ trên danh nghĩa của mình; một mâm cho bố mẹ chồng tương lai của tôi, tôi nghĩ mình chắc chắn sẽ học được cách tôn trọng họ; một mâm cho đứa con đầu lòng mà tôi sinh ra; một mâm cho bà thím già và thím mới của tôi, vì họ đã để tôi đi; và một mâm nữa cho Hoa Sinh, có lẽ là cho đến khi tôi có thể tha thứ cho cô ta.
Sau này tôi mới biết: Đồ cưới mà Tam nương mua cho ba cô con gái của Tứ nương nhiều gấp năm lần của tôi, và cũng tốt hơn năm lần. Tôi cũng đã biết được rằng: Tính tình của người nhà họ Văn không được tốt cho lắm, cha tôi thừa biết điều đó. Sở dĩ ông để tôi gả vào nhà họ Văn là vì ông nói tính tình của tôi cũng chẳng ôn hòa gì cho cam.
Nhưng tôi dám chắc rằng, ông không thể tưởng tượng nổi người nhà họ Văn rốt cuộc tệ hại đến mức nào. Toàn bộ số đồ cưới mà tôi chọn trong bảy ngày này, đều bị nhà họ Văn nuốt gọn sạch sành sanh, họ dùng những món đồ này như một phần trong việc kinh doanh xuất khẩu của họ, chuyển hết sang Mỹ hoặc sang Anh rồi.
Còn những chiếc chăn và mặt chăn bằng lụa kia thì sao? Đều bị chị em gái của Văn Phúc hoặc vợ của các em trai anh ta lấy đi hết. Ngoài ra những món quà mừng do họ hàng bạn bè tặng, những bức tranh viền bạc, những chiếc gương và lược bạc nặng trịch, những chiếc chậu rửa mặt tuyệt đẹp của Anh và cả chiếc bình đựng nước có vẽ tranh nữa thì sao? Tất cả đều được mẹ của Văn Phúc đặt lên bàn trong phòng của bà ấy.
Trong số đồ cưới của tôi chỉ có duy nhất một món là không bị họ ăn cắp mất — bởi vì đã có người ra tay trước một bước. Hôm đó vừa vặn có một người hầu đi về phương Nam để chăm sóc người mẹ đang bị bệnh của cô ta. Mẹ của Văn Phúc ngay từ đầu đã không ưa người hầu đó, thế là lập tức hằm hằm đưa ra kết luận. Đúng lúc bà ta đang nguyền rủa tên trộm đã ăn cắp mười đôi đũa bạc rồi bỏ trốn, thì tôi đang giấu những đôi đũa này vào dưới lớp lót chiếc hòm nhỏ của chính mình.
Mỗi khi vận rủi ập đến trong suốt bao nhiêu năm sau đó, tôi lại lấy ra một đôi đũa, siết chặt chúng trong lòng bàn tay. Tôi có thể cảm nhận được sức nặng của đôi đũa bạc nằm trong lòng bàn tay mình, nó vô cùng kiên cố, không gì phá vỡ nổi, giống như hy vọng của tôi vậy. Tôi lay động sợi dây xích trên đôi đũa bạc, nó ngụ ý rằng những thứ có đôi có cặp sẽ không bao giờ chia lìa, cũng sẽ không bao giờ thất lạc. Tôi dùng nó để gắp không khí, gắp sự hư vô.
Bạn có thể tưởng tượng được tôi ngây thơ đến nhường nào, sự ngây thơ của tôi ngoan cường đến mức nào không? Tôi vẫn luôn chờ đợi, chờ đợi đến một ngày nào đó tôi có thể quang minh chính đại lấy những đôi đũa bạc đó ra, không còn phải là một bí mật nữa. Tôi vẫn luôn mơ về việc ăn mừng niềm hạnh phúc chắc chắn sẽ đến vào một ngày nào đó.