Nơi Hoa Sinh ở cách đó không xa lắm, thế nên chúng tôi cứ thế đi suốt một đoạn đường mà không nói mấy câu.
"Cậu đợi tới đón tớ làm gì?" Tôi hỏi, "Tớ đến muộn thế cơ mà."
"Tớ tưởng giày của cậu lại giở chứng rồi chứ," cậu ấy nói, "Tớ đoán cậu lại rơi gót giày giống như lần đi khiêu vũ ở Côn Minh ấy."
Tôi cười, Jimmy cũng cười. Sau đó cậu ấy lại nghiêm túc trở lại, "Kể từ ngày hôm đó, tớ đã yêu cậu rồi, bất kể cậu làm gì, bất kể cậu đi giày không gót hay nhảy múa bằng chân trần. Nhìn cậu có vẻ yếu ớt, nhưng thực ra lại vô cùng dũng cảm và kiên cường, chẳng ai có thể ngăn cản được cậu."
Thật đấy, bố cậu đã nói thế đấy. Ông ấy cho rằng tôi rất kiên cường. Bản thân tôi chưa bao giờ nghĩ như vậy. Tôi không biết tại sao ông ấy lại tin tưởng tôi đến thế. Trong suốt quãng đời sau này của ông, ông vẫn luôn tin tưởng tôi như vậy. Chẳng phải điều này rất kỳ lạ sao?
Dù thế nào đi nữa, tôi đã kể hết nỗi thống khổ trong cuộc hôn nhân của mình cho Jimmy Louie nghe, tôi nói rằng từ hồi kháng chiến tôi đã muốn rời khỏi Văn Phúc rồi, chỉ vì Đạm Nhược nên mới không đi được.
"Nhưng bây giờ tớ muốn đi hỏi xem đường muội của tớ đã làm cách nào." Tôi nói, "Tớ cũng muốn ly hôn."
Jimmy Louie nói: "Cậu xem cậu kiên cường biết bao nhiêu chứ!"
Tôi nói: "Đây không phải là kiên cường. Tớ hết sức lực để đấu tranh với anh ta rồi. Có những lúc tớ thực sự không biết, sao mình vẫn có thể sống qua ngày với anh ta nữa?"
Jimmy Louie nói: "Đó chính là sự kiên cường của cậu." Vừa nói thì chúng tôi đã đến trước khu ký túc xá mà Hoa Sinh ở. Jimmy Louie nói cậu ấy sẽ đợi tôi ở hiệu sách.
"Tớ có lẽ sẽ ở lại lâu đấy." Tôi nói.
"Hai ba tiếng, hay ba bốn tiếng cũng không sao cả." Cậu ấy nói, "Tớ sẽ đợi, tớ đã đợi gần năm năm rồi cơ mà."
Cậu thấy anh ấy lãng mạn biết chừng nào đúng không! Ngay khi tôi tìm thấy anh ấy, tôi liền cảm thấy rất khó để rời xa anh ấy nữa.
Tôi bước vào một nhà bếp chung nhỏ xíu, trên sàn nhà có hai đứa trẻ sơ sinh đang nằm. Tôi hỏi một người phụ nữ đang làm cơm trưa rằng Giang Hoa Trân có phải ở phòng này không. "Hả?" cô ấy hỏi, "Cô tìm ai cơ?" Tôi bước lại gần thêm một bước, lớn tiếng hỏi lại một lần nữa át đi tiếng chảo dầu đang xèo xèo trước mặt cô ấy. Cô ấy cười, lau tay lên vạt áo, kéo lấy cánh tay tôi rồi dẫn tôi ra phía cửa cầu thang. "Cứ đi theo lối này lên nhé em gái, tầng ba, phòng số hai. Tốt nhất là nên gõ cửa trước, cô ấy đã có khách rồi đấy." Sau đó cô ấy quay người tiếp tục nấu cơm, vừa cười vừa lẩm bẩm với chính mình: "Khách khứa nhiều thật đấy!"
Tôi bước lên cầu thang tối thui, mỗi bước đi lại càng thêm lo lắng, không biết lên trên đó rốt cuộc sẽ phát hiện ra chuyện gì. Nhỡ đâu Hoa Sinh đã trở thành một cô gái giang hồ rồi thì sao? Chẳng phải những người phụ nữ mất đi chồng và gia đình đều làm như vậy hay sao? Nếu không, một người phụ nữ không chồng không gia đình thì sống tiếp thế nào đây?
Tôi đi đến trước cửa phòng số hai rồi dừng lại. Tôi nghe thấy có tiếng động trong phòng, hình như là tiếng đàn ông. Rồi lại nghe thấy tiếng một người phụ nữ, nghe có vẻ là của Hoa Sinh, vẫn cái giọng thiếu kiên nhẫn và đang cằn nhằn ấy. Tôi gõ cửa, tiếng nói chuyện bỗng ngừng bặt.
"Ai đấy?" Hoa Sinh lớn tiếng quát vọng ra ngoài.
"Giang Văn Lệ!" Tôi hét đáp lại, "Chị Giang của cậu đây!"
Tôi còn chưa kịp nói thêm gì nữa thì cửa bỗng bật mở, Hoa Sinh kéo phắt tôi vào trong rồi đóng sầm cửa lại 'pẹc' một tiếng. Cậu ấy vò mái tóc tôi, sờ lên mặt tôi và la lên: "Nhìn cậu kìa! Cuối cùng cũng đến rồi đấy! Sao lại đợi lâu thế chứ?"
Cậu ấy trông vẫn y như ngày nào, đó là ấn tượng đầu tiên của tôi, vẫn nụ cười bĩu môi ấy, vẫn đôi mắt tinh nghịch ấy. Tôi đã có thể thở phào nhẹ nhõm.
Nhưng khi nhìn kỹ lại, tôi nhận ra cậu ấy đã biến thành một con người khác, nếu có gặp ngoài phố lớn chắc tôi cũng chẳng nhận ra nổi. Tóc cậu ấy được cắt rất ngắn, chải lệch một cách rất cẩu thả. Trên người mặc một chiếc áo len cài khuy chất lượng rất kém, trông chẳng ra làm sao cả, tôi thậm chí còn không nhận ra cậu ấy béo lên hay gầy đi nữa. Trên mặt cậu ấy không thoa phấn kem, để lộ ra màu da bình thường. Cậu mà nhìn thấy thì biết ngay. Đó chính là cô thiếu nữ từng tự hào vì làn da trắng ngần của mình, bây giờ cậu ấy đen nhẻm chẳng khác gì người Quảng Đông!
"Đọc đây! Gặp bạn của tớ đi, Ngô này." Cậu ấy vừa nói vừa xoay người tôi vòng tròn như một con quay. Tôi nhìn thấy một thanh niên đeo cặp kính gọng tròn, mái tóc đen dày được chải ngược về phía sau. Cậu ta đang cầm một cây cọ vẽ. Trong phòng toàn là giấy, vung vãi khắp sàn nhà, treo trên ghế, bày la liệt trên chiếc giường nhỏ của cậu ấy. Những tờ giấy ấy đều viết cùng một nội dung, nói về một cuộc mít tinh của học sinh nhằm phản đối cải cách ruộng đất mới. Thế nên chuyện này chắc chắn là thật rồi, Hoa Sinh là một người cộng sản.
"Mấy cái này khô rồi," cậu ấy nói với người thanh niên kia, "mang chúng đi đi, số còn lại tối nay chúng ta làm tiếp." Cậu ấy nói với giọng điệu ra lệnh nhưng người con trai kia có vẻ chẳng bận tâm mấy. Cậu ta nhanh chóng cuộn những khẩu hiệu đó lại, chào tôi một tiếng rồi rời đi.
Tôi không biết nói gì cho phải, bèn mang quà ra đưa cho cậu ấy, cả hai món quà đều được gói bằng giấy cẩn thận. Cậu ấy có vẻ hơi phiền muộn, thở dài một tiếng rồi nhận lấy. Tôi cứ tưởng cậu ấy sẽ nhận lấy trước, đợi lúc ở một mình rồi mới mở ra. Đó là một phép lịch sự tối thiểu, người Trung Quốc ai cũng thế cả. Nhỡ không thích món quà thì cũng chẳng ai nhìn thấy vẻ mặt thất vọng trên khuôn mặt bạn. Nhưng cậu ấy lại chẳng đợi nổi.
Cậu ấy mở món quà do lão a thẩm tặng trước. Hóa ra đó là một chiếc gương nhỏ kiểu cũ làm bằng bạc, mặt sau và cán cầm còn được chạm khắc hoa văn.
"Hì, nhìn cái này xem," Hoa Sinh nói và cau mày lại, "Lần trước gặp bà ấy, bà ấy nói với tớ rằng: 'Cô thiếu nữ xinh đẹp mà tao từng quen ngày trước, cô ấy đâu rồi?' Tớ bảo với bà ấy rằng tớ chẳng có gương để soi, nhưng dù có xinh đẹp hay không thì tớ biết mình vẫn còn sống. Thế nên cậu xem, bà ấy liền cho tớ thứ này. Hừ, bà ấy tưởng món đồ rách nát này có thể thuyết phục tớ quay trở lại cuộc sống trước kia chắc."
Hoa Sinh nhìn vào trong gương. Tôi cảm thấy cậu ấy vẫn còn chút tính hư vinh như ngày trước. Cậu ấy vỗ vỗ lên mặt mình, trợn tròn mắt rồi cười với chiếc gương. Nói thật là cậu ấy vẫn hơi xinh đẹp đấy chứ. Làn da của cậu ấy rất mịn màng, đôi mắt rất to. Dù cho khuôn mặt cậu ấy hơi tròn. Đương nhiên khuyết điểm này chẳng hề ảnh hưởng gì đến việc cậu ấy trở thành một người cộng sản. Thậm chí cả việc cậu ấy từ nhỏ đã được nuông chiều từ bé, thiếu lòng trắc ẩn với người nghèo, điểm này cũng vậy. Cậu ấy đặt chiếc gương xuống rồi chuyển sang gói quà thứ hai.
"Tớ sợ rằng quà của tớ cũng không phù hợp mất thôi." Tôi nói.
Cậu ấy xé toạc lớp giấy gói như một đứa trẻ. Cậu ấy cầm đôi tất lên, toác miệng cười lớn và cười suốt một hồi lâu.
"Tớ có thể mang về," tôi ngượng ngùng nói, "Đưa đây cho tớ nào."
"Không, không," cậu ấy la lên, áp chặt đôi tất vào người, "Mấy thứ này đáng giá lắm đấy nhé. Tớ có thể mang ra chợ đen bán được giá hời đấy. Món quà này tốt." Cậu ấy nhìn tôi, rồi nói một cách cực kỳ thẳng thắn, chẳng hề ngượng ngùng chút nào: "Tớ chẳng có gì để tặng lại cậu cả. Dạo này tớ không có thời gian để lo mấy cái khách sáo này đâu."
"Đương nhiên rồi," tôi nói, "Cậu có biết tớ đến đâu. Sao cậu có thể..."
"Không," cậu ấy dùng giọng điệu nghiêm túc ngắt lời tôi, "Tớ đã nói rồi, cho dù tớ có biết trước, cho dù tớ có tiền đi nữa, tớ cũng sẽ không dùng mấy thứ khách sáo này để làm phiền bản thân mình nữa đâu. Chuyện này thực sự quá phiền phức — vả lại, có ý nghĩa gì chứ?"
Tôi lo lắng không biết Hoa Sinh đã hư hỏng đi rồi hay không. Cậu ấy đặt đôi tất lên giá. Nhưng khi quay đầu lại, cậu ấy đưa hai tay về phía tôi và nói: "Đường tỷ" — đường tỷ, đó là cách gọi thân thiết mà hồi nhỏ chúng tôi vẫn thường gọi nhau.
"Đường tỷ," cậu ấy gọi lại một tiếng, siết chặt lấy tay tôi, "Cậu đến tớ vui lắm luôn ấy. Cậu xem, đây tuyệt đối không phải là lời khách sáo đâu nhé."
Buổi chiều hôm đó, chúng tôi trò chuyện rất vui vẻ. Chúng tôi ngồi trên giường, kể cho nhau nghe những bí mật của đối phương y như hồi nhỏ vậy, chỉ có điều lần này chúng tôi chẳng cần phải nói thì thầm nữa. Chúng tôi thản nhiên bàn về mọi thứ. Chín năm trước, chúng tôi cãi nhau không ngớt xem ai có thể tìm được cuộc hôn nhân viên mãn nhất. Bây giờ chín năm đã trôi qua, thứ chúng tôi tranh cãi lại là cuộc hôn nhân của ai tồi tệ phát phát.
"Cậu cứ nghĩ mà xem," tôi nói, "Lúc đó cậu tức điên lên chỉ vì Văn Phúc cưới tớ chứ không phải cưới cậu. Bây giờ thì cậu biết mình đã tránh được bao nhiêu sự hối hận rồi đấy."
"Dẫu vậy thì hôn nhân của cậu vẫn khá hơn của tớ chán," Hoa Sinh nói, "Hôn nhân của tớ mới là tồi tệ nhất!"
"Cậu không biết đâu," tôi nói, "Cậu không thể tưởng tượng nổi một người chồng vừa đáng ghét, vừa ích kỷ lại vừa hung ác như thế..."
Hoa Sinh cắt ngang lời tôi, "Chồng tớ là một con gà lưỡng tính."
Đến đoạn Hoa Sinh nói câu này thì tôi vẫn chưa tin cậu ấy. Tôi không biết các cậu nói tiếng Anh thế nào, nhưng trong tiếng Thượng Hải, ý của từ gà lưỡng tính chính là loại "gà không ra gà trống cũng chẳng ra gà mái", tất cả các yếu tố đực và cái kết hợp lại với nhau sinh ra một quả trứng nở thành một con gà con. Lão a thẩm từng kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện, nói rằng có một người họ hàng xa của chúng tôi sinh ra một đứa trẻ lưỡng tính có cả hai bộ phận, một nam một nữ. Lão a thẩm nói mẹ đứa trẻ không biết nên nuôi nó như con trai hay nuôi con gái nữa. Sau đó bà ấy chẳng cần phải đau đầu nữa vì đứa bé đã chết yểu. Lão a thẩm cho rằng chính người mẹ đã giết nó, bởi vì nếu bà ấy nuôi đứa bé lưỡng tính đó thành con trai thì đời nào nó có thể sinh con đẻ cái được cơ chứ.
"Sao chồng cậu lại là gà lưỡng tính được cơ chứ?" Tôi hỏi Hoa Sinh, "Tớ nhớ trong thư cậu kể anh ta và người vợ trước đã mất sinh được năm đứa con trai mà."
Hằng năm gia đình anh ta lại đến một ngôi làng nhỏ mua một đứa trẻ vừa mới sinh ra. Cậu mà nhìn thấy thì biết ngay — chẳng có đứa nào giống nhau cả. Đứa thì da đen sì, đứa thì trắng trẻo, đứa thì bụ bẫm hoạt bát đáng yêu, đứa khác lại gầy gò ngoan ngoãn. Người tinh mắt nhìn qua là biết ngay là mua về."
"Nhưng sao Miêu Miêu lại có thể gả cậu cho một kẻ như thế chứ?"
Bà ấy cũng có biết đâu. Người làm mẹ vẫn luôn nuôi đứa trẻ này như con trai. Mấy tháng trời sau khi kết hôn, đến bản thân tôi cũng chẳng hề hay biết. Anh ta không thèm chạm vào tôi, tôi còn tưởng anh ta không hài lòng về tôi cơ đấy."
"Thế sau đó cậu nhìn thấy cả hai bộ phận á?"
"Tôi nhìn thấy anh ta nằm trên giường với một tên đàn ông khác! Phần cái trên người anh ta đã quyến rũ phần đực. Tôi chạy đến chỗ mẹ anh ta, kể cho bà ấy nghe những gì tôi thấy. Cậu có biết bà ấy làm gì không? Bà ấy tát tôi một cái cháy má, bảo tôi đừng bao giờ nhắc lại những lời dối trá về con trai bà ấy nữa."
"Nếu cậu không nhìn thấy hai bộ phận," tôi nói, "thế sao cậu có thể chắc chắn anh ta là một kẻ lưỡng tính chứ?"
Hoa Sinh thở dài. "Chính vì tôi nói với mẹ anh ta rằng con trai bà ta là một kẻ lưỡng tính nên bà ta mới hết lần này đến lần khác tát tôi, cứ như thể không cho tôi tin thì có thể thay đổi được sự thật ấy vậy."
Câu chuyện mà tôi đang kể cho các cậu nghe lúc này, chính là kể lại y nguyên theo lời mà Hoa Sinh đã nói với tôi. Thế nên tôi không thể khẳng định được chồng cậu ấy có thực sự giống như những gì cậu ấy nói hay không. Có lẽ cậu ấy nói vậy chỉ vì lúc đó chúng ta vẫn chưa có từ "đồng tính" này chăng. Nếu một người đàn ông mãi không kết hôn, người ta sẽ ở sau lưng bàn tán rằng, "Biết đâu hắn ta là một đứa lưỡng tính." Người ta sẽ không dùng từ này để nói về một người phụ nữ độc thân. Họ có một cách nói khác, nhưng bây giờ tôi quên mất cách gọi đó thế nào rồi.
Dù sao đi nữa, Hoa Sinh nói cô ấy đã trở thành một quả phụ sống. "Một năm sau, mẹ anh ta ép tôi phải ra ngoài trốn năm tháng trời," cô ấy nói, "Đến một bóng người cũng không được gặp. Cuối cùng, mẹ anh ta ẵm một đứa con trai mới sinh ra cho mọi người xem. Tôi đành phải giả vờ đứa trẻ này do chính mình sinh ra. Tôi nói thật với cậu nhé, tôi chẳng có chút hứng thú nào với đứa trẻ này cả. Tôi chẳng có hứng thú với bất cứ thứ gì trên đời, cũng chẳng còn hứng thú với đống quần áo đẹp đẽ của mình nữa. Tất cả đều trống rỗng. Cuộc đời tôi giống như một câu chuyện mà ngày nọ tôi từng đọc được trong sách: Chúng ta đang sống trong một thế giới giả dối, xã hội giống như một lớp sơn được quét lên khúc gỗ mục vậy."
Cha mẹ ơi! Lúc cậu ấy nói câu này, giọng điệu hệt như một đảng viên cách mạng vậy! Nhưng cậu ấy vẫn là Hoa Sinh mà tôi từng quen biết, cùng chúng tôi lớn lên từ thưở nhỏ: Kiêu ngạo tự đại, thích làm theo ý mình, thích mượn những câu nói thời thượng do người khác phát minh ra.
"Thế cuối cùng cậu rời đi bằng cách nào thế?" Tôi hỏi.
Cậu còn nhớ cô gái tên Tiểu Du ở trường chúng ta không?"
Tôi gật đầu, "Đương nhiên là nhớ chứ, chẳng phải là cái đứa hay nghịch ngợm, lúc chúng ta ngủ cứ thích tráo đổi giày của mọi người cho nhau đó sao. Sáng hôm sau mọi thứ loạn cả lên! Giày của cô nào cô nấy chân trái thì to chân phải thì nhỏ, hoặc là cả hai chiếc đều là chân trái, không thì cả hai đều là chân phải. Khiến chúng ta cứ phải đổi qua đổi lại cho nhau, lên lớp lúc nào cũng muộn. Đúng là một con bé hư hỏng."
"Chính cô ấy là người giúp tớ ly hôn đấy." Hoa Sinh nói.
"Tiểu Du á?"
"Xét theo một ý nghĩa nào đó thì đúng là như vậy." Hoa Sinh nói, "Đó là vào năm thứ tư tớ sống cùng con gà yến ấy, mẹ anh ta cứ luôn tìm cách bắt bẻ tớ. Lúc đó tớ nghĩ, muốn hủy hoại cuộc đời của cậu thì dễ biết bao, nếu như không có cơ hội làm lại từ đầu."
"Tớ cũng có đồng cảm như vậy," tôi nói, "Y chang như suy nghĩ của cậu luôn."
Hoa Sinh nói tiếp: "Tớ nhớ lại những tháng năm tuổi trẻ, những điều mà tớ từng mơ ước."
"Tất cả hy vọng của cậu, sự ngây thơ của cậu." Tôi nói thêm một câu.
"Để tớ nói hết đã," Hoa Sinh nói, "Nói tóm lại, trong lòng tớ đã có ý nghĩ đó, tớ quyết định ghé qua trường học một chuyến, thăm lại các giáo viên cũ của chúng ta. Thế là tớ đi, cậu còn nhớ ma ma không, cái người có một bên lỗ mũi to, một bên lỗ mũi nhỏ ấy?"
Tôi gật đầu, "Bà ấy lúc nào cũng nghiêm khắc."
Lúc đó ma ma đã được thăng chức làm giám thị rồi. Bà ấy muốn dẫn tớ đi xem nhà trường đã nhận được bao nhiêu khoản tiền quyên góp. Bà ấy dẫn tớ đi xem thư viện mới xây, nhà nguyện có ô cửa kính Thánh Anh Giê-su mới.
"Sau đó bà ấy dẫn tớ đến nghĩa trang nhỏ phía sau trường học. Còn nhớ cứ mỗi khi chúng ta làm sai chuyện gì là ma ma lại bắt chúng ta đến nghĩa trang này không? Bà ấy tưởng làm thế có thể dọa chúng ta sợ, khiến chúng ta ngoan ngoãn hơn một chút. Nghĩa trang này vừa được đào một con mương dẫn nước mới, nước chảy ra từ miệng của một bức tượng trẻ sơ sinh. Tớ rất thích thú cảnh này, và cũng chính vào lúc đó tớ nhìn thấy tên của Tiểu Du trên một tấm bia mộ. Tớ vô cùng bàng hoàng, cứ như thể nhìn thấy Tiểu Du đã biến thành đá vậy.'
"'Chuyện gì thế này? Chuyện gì thế này?' Tớ liên tục hỏi ma ma. Bà ấy nói, 'Ồ, đây là một câu chuyện bi thảm. Con bé vừa kết hôn được một năm thì đột nhiên qua đời vì một vụ tai nạn xe hơi.'
"Ma ma không nói rõ là tai nạn xe gì. Nhưng tớ lập tức cảm thấy hơi hoài nghi. Tại sao con bé lại được chôn cất trong nghĩa trang của trường học chứ? Nhà chồng của nó phải đưa nó về chôn ở nghĩa trang của gia đình chứ bộ. Tớ liền đem suy nghĩ này nói với ma ma. Bà ấy bảo, 'Nó ở đây bao nhiêu năm đều rất vui vẻ, thế nên mẹ nó cảm thấy nó nên được ở cùng những người chị em vui vẻ khác.'
Thế là tớ thầm nghĩ, đây là một ước nguyện, chứ không phải lý do. Lúc tớ đang cảm thấy khó hiểu vì chuyện này thì bỗng nghe thấy có người khẽ nói bên tai tớ: 'Đi tìm hiểu cho rõ đi.' Tớ lập tức đòi ma ma địa chỉ nhà của Tiểu Du để đến thăm hỏi gia đình họ. Tớ cũng không biết tại sao mình lại phải làm thế nữa, cơ thể cứ tự chủ động hành động, như có thứ gì đó đang đẩy tớ đi vậy."
"Tớ rời trường lập tức đi về phía nhà Tiểu Du. Lúc này tớ lại một phen kinh ngạc nữa, Tiểu Du không giống như đa số các cô gái trong trường, xuất thân từ những gia đình giàu có. Nhà cũ của con bé nằm ở tầng hai của một ngôi nhà cổ, chỉ có hai gian phòng, chẳng khá khẩm hơn người nghèo là bao. Người nhà duy nhất chính là người mẹ góa bụa. Người mẹ đáng thương ấy đã thừa kế một khoản di sản nhỏ từ người cậu của mình, gom góp lại để đóng học phí cho Tiểu Du, chừa lại một ít làm của hồi môn cho con bé. Thế nên cậu thấy đấy, toàn bộ hy vọng cả đời của bà ấy đều đặt hết lên người con gái, nào ngờ con gái kết hôn chưa được một năm đã lìa đời."
"Cha mẹ ơi!" Tôi thốt lên, "Đúng là thảm kịch lớn."
"Thảm kịch hơn vẫn còn ở phía sau cơ," Hoa Sinh nói, "Mẹ con bé nhìn thấy tớ thì mừng rỡ khôn xiết. Cứ như thể chẳng còn ai nhắc đến tên con gái bà ấy nữa. Bởi vì con bé không phải chết vì tai nạn xe cộ, mà là tự sát!"
"Tự sát!"
"Bà ấy bảo con bé bị nhà chồng bức bách đến đường cùng nên mới tự sát. Tớ nghe xong câu này thì toàn thân run lẩy bẩy. Ngay vào buổi sáng hôm đó tớ vẫn luôn nghĩ, nếu như tớ không thể ngay lập tức tìm ra một con đường thoát khỏi nhà chồng, thì tớ cũng có thể tự sát cơ mà."
"Tớ cũng từng nghĩ như thế rất nhiều lần rồi." Tôi khẽ nói với Hoa Sinh.
"Người làm mẹ ấy cũng tự trách mình," Hoa Sinh nói, "Bởi vì cuộc hôn nhân này là do bà ấy đứng ra sắp đặt — gả cho một người là cháu của bạn họ hàng bên chồng bà ấy, nhà ở một ngôi làng nhỏ ngoài thành Tô Châu. Người ta bảo với bà ấy rằng tương lai người chồng này cùng bố chồng làm nghề buôn mì sợi, làm ăn phát đạt lắm."
Mẹ của Tiểu Du chưa từng gặp người cháu này bao giờ. Đến ngày cử hành hôn lễ mới gặp lần đầu tiên. Bà ấy bảo, anh ta có vẻ rất căng thẳng, người ta phải nhắc nhở anh ta từ đâu đi vào, phải nói những câu gì. Anh ta cười ha hả không đúng lúc, khiến mẹ của Tiểu Du còn tưởng anh ta uống say. Anh ta không hề say. Anh ta là một kẻ đần độn, lại còn hay tè dầm. Những hôm trời gió to, anh ta còn khóc thét lên. Anh ta còn tưởng Tiểu Du là chị cả của mình cơ đấy.
Tiểu Du về nhà kể cho mẹ nghe, muốn cầu xin bà giúp đỡ hủy bỏ mối hôn sự này. Mẹ con bé bảo làm vậy cuộc sống của nó sẽ chỉ càng tồi tệ hơn mà thôi. Ít nhất thì hiện tại nhà chồng đối xử với con bé cũng không tệ, cho nó rất nhiều đồ ăn ngon. Mặc dù chồng bị đần độn, nhưng bà ấy đã nghe ngóng được rằng anh ta vẫn có khả năng sinh con, anh ta từng có quan hệ với một cô gái trong thôn rồi. Thế nên người mẹ mới bảo Tiểu Du rằng, 'Cứ ở lại đó cho ngoan, nhẫn nhịn một chút đi.' Tiểu Du đành quay lại nhà chồng. Con bé trèo lên cái cây lớn trong sân, thắt một cái nút trên cành cây, tròng chiếc còn lại vào cổ mình rồi treo cổ tự tử."
"'Trọn một năm trời,' người mẹ đó nói, 'Trong đầu tao chỉ có một suy nghĩ duy nhất, đó là cũng muốn làm điều tương tự.' Mẹ của Tiểu Du nói đến đây thì khóc oà lên, và tớ cũng khóc theo. Lúc bà ấy kể chuyện này cho tớ nghe, tớ cũng cảm thấy cổ họng mình nghẹn lại không thở nổi. Tớ cứ như đang nói mộng vậy: 'Đứa con gái muốn chấm dứt hôn nhân thì chỉ có thể đi con đường này thôi sao.'"
Mẹ của Tiểu Du vừa khóc vừa nói, 'Không, không phải thế. Nó là vì dồn vào đường cùng, không nơi nương tựa nên mới bước lên con đường tuyệt vọng đó.'
Chiều hôm đó, cuối cùng tớ cũng tìm được một người có lòng trắc ẩn để lắng nghe những nỗi niềm phiền muộn của mình. Bây giờ nghĩ lại, chính là Tiểu Du đã thì thầm bên tai tớ, bảo tớ hãy đến tìm mẹ của cậu ấy. Bởi vì sau đó chính vào năm ấy, mẹ của Tiểu Du đã giúp tớ thoát khỏi cuộc hôn nhân của mình."
"Bà ấy làm thế nào vậy?" Tôi hỏi. Tôi cứ ngỡ mình sắp nghe được vài chữ từ đáp án này để đối phó với cuộc hôn nhân bất hạnh của chính mình.
Hoa Sinh đứng dậy nói, "Cậu sao không tự đi mà hỏi chính chủ ấy?"
"Hả?"
"Hỏi bà ấy ấy," Hoa Sinh nói, "Hỏi mẹ của Tiểu Du kìa. Bà ấy đang ở dưới lầu, đang nấu cơm trưa cho tất cả những người phụ nữ trốn chồng trong tòa nhà này đấy."
Thế nên lúc đó tôi mới hiểu ra, toàn bộ tòa nhà này thực chất là một tầng hầm, chật kín phụ nữ và trẻ em. Các cậu có tưởng tượng nổi không? Tôi vừa sợ hãi lại vừa phấn khích. Tôi phấn khích vì được ở cùng chín người phụ nữ trong căn nhà này, tất cả bọn họ đều từng trải qua những cuộc hôn nhân khủng khiếp, mà bây giờ thì không cần phải phục tùng chồng hay mẹ chồng nữa rồi.
Lúc chúng tôi đi xuống lầu, mẹ của Tiểu Du vẫn đang nấu cơm. Mọi người đều gọi bà ấy là Tiểu Du mụ. Nhìn dáng vẻ của bà ấy, các cậu sẽ chẳng thể nào ngờ được người phụ nữ nhỏ nhắn đang rán cá và xào mướp đắng này lại là một điệp viên ngầm. Nhưng vào thời điểm đó, đa số những người cộng sản không còn mặc đồng phục công khai nữa. Nếu cậu nói với người khác rằng mình là người cộng sản, thì không điên cũng chỉ có nước chết mà thôi.
Những người phụ nữ khác đều từ các vị trí công việc khác nhau trở về ăn cơm trưa. Một người làm gia sư tiếng Pháp, người khác làm công nhân nhà máy giày, lại có người làm chổi đem ra phố lớn bán. Hoàn cảnh gia đình của họ hoàn toàn khác nhau. Thực tế bọn họ cũng giống hệt như bất kỳ ai mà cậu bắt gặp trên đường phố Thượng Hải mà thôi.
Thế nên chẳng ai nói với tôi rằng, "Tôi là người cộng sản, còn cô thì sao?" Nhưng cậu có thể nhận ra điều đó qua những câu chuyện họ trò chuyện với nhau. Ví dụ như khi chúng tôi ngồi xuống ăn cơm chung, Tiểu Du mụ liền nói với tôi: "Hy vọng ăn mướp đắng sẽ không làm khó dễ cho cháu quá nhé. Bản thân bác không thường xuyên ăn, nhưng mỗi khi ăn bác lại tự nhắc nhở bản thân rằng, có đồ ăn là đã đủ mãn nguyện lắm rồi." Bà ấy cười, Hoa Sinh và mấy người phụ nữ khác cũng cười theo.
Tất cả bọn họ đều thích ăn mướp đắng. Không phải vì thích hương vị của nó, mà là vì thích những chủ đề liên quan đến nó. "Ồ, cậu vẫn chưa nếm trải qua cay đắng đâu," một người phụ nữ nói, "Mùa đông chỉ dựa vào một viên than tổ ong để sưởi ấm nấu cơm, thế mới gọi là cay đắng chứ." Người khác lại nói tiếp: "Mướp đắng này còn ngọt chán so với cái mùi vị khi tớ còn làm nô bộc cho nhà hào môn trước kia."
Tôi có thể nói với các cậu rằng, tôi không thích mướp đắng, trước kia không thích, sau này không thích, và bây giờ cũng không thích. Tôi không muốn làm một nhà cách mạng. Nhưng nếu bọn họ muốn tôi làm, tôi cũng sẽ làm. Chỉ cần ăn mướp đắng mà có thể ly hôn, tôi thà ngày nào cũng ăn mướp đắng, bữa nào cũng ăn mướp đắng còn hơn. Nếu thay đổi toàn bộ thế giới có thể thay đổi cuộc đời tôi, tôi cũng sẽ làm. Tôi cảm thấy cách nhìn nhận cuộc sống của những người phụ nữ trong ngôi nhà này cũng tương tự như tôi vậy.
Sau bữa trưa đạm bạc, bọn họ nhao nhao đặt cho tôi rất nhiều câu hỏi. Mặc dù họ đều là những người xa lạ, thế nhưng tôi lại kể hết mọi chuyện cho họ nghe, tôi kể về gia đình Văn Phúc, gia đình tôi, và cả tình cảnh hiện tại khi Văn Phúc nắm giữ mọi quyền hành trong tay.
"Cục diện đã thế này rồi, vậy thì anh ta sẽ không dễ dàng đồng ý ly hôn đâu." Một phụ nữ ngồi bên bàn ăn nói, "Tôi cũng xuất thân từ gia đình đại tộc. Chồng tôi đánh chết cũng không chịu buông tha cho tôi, bởi vì thả tôi đi chẳng khác nào vứt bỏ tài sản của nhà tôi."
"Còn con trai cậu thì sao? Cậu có muốn thằng bé ở bên cạnh mình không?" Mẹ của Tiểu Du hỏi.
"Đương nhiên là muốn rồi. Chồng tôi chẳng thèm quan tâm gì đến con trai chúng tôi cả, chỉ dùng thằng bé làm công cụ để cản trở tôi ly hôn mà thôi."
"Thế còn tiền nong?" Một người khác lên tiếng, "Cậu có tiền riêng không?"
"Vẫn còn một chút tiền hồi môn, chỉ đủ chi tiêu sinh hoạt hằng ngày thôi."
"Đừng quên trang sức của cậu đấy," Hoa Sinh nói, "Lúc kết hôn chẳng phải cậu có hai chiếc vòng vàng hay sao — bây giờ vẫn còn giữ chứ?"
Tôi gật đầu, "Vẫn còn hai chiếc vòng cổ, hai đôi khuyên tai, một chiếc nhẫn."
"Chồng cậu có dan díu với phụ nữ bên ngoài không?" Mẹ của Tiểu Du hỏi.
"Nhiều lắm ấy chứ!" Tôi nói, "Anh ta giống như một con chó vậy, cứ lẽo đẽo đi theo sau người ta mãi, hết người này đến người khác."
"Nhưng có ai mà anh ta đặc biệt sủng ái, thường xuyên lui tới không?" Người phụ nữ ngồi cạnh bàn ăn hỏi, "Có lúc tình nhân sẽ ép đàn ông phải rời bỏ người vợ cả, nếu như ham muốn của anh ta đối với người phụ nữ đó đặc biệt mạnh mẽ." Cô ta cười khổ một tiếng.
"Anh ta chẳng có hứng thú đặc biệt với ai đâu." Tôi nói, "Trước kia, thói quen của anh ta là tìm một người phụ nữ, chơi bùa vài tuần rồi vứt bỏ. Bây giờ chúng ta ở trong nhà của bố tôi, bố mẹ anh ta cũng ở đó. Lắm cặp mắt dòm ngó chằm chằm nên anh ta không dám đưa mâý ả đàn bà dơ dáy về nhà nữa. Thế nên tôi cũng chẳng biết anh ta đi tìm ai nữa."
"Thế còn cậu thì sao? Cậu có nhân tình bên ngoài không?" Một người phụ nữ bị rụng sạch hàng răng cửa hỏi.
"Đương nhiên là không rồi!" Tôi tức giận nói, "Là chồng tôi bại hoại đạo đức, chứ không phải tôi! Sao chị lại có thể nghĩ như thế..." Vừa nói tôi vừa hoảng hốt, rồi lại cảm thấy ngượng ngùng vì sự hoảng hốt của chính mình. Đương nhiên là vì nghĩ đến Jimmy Louie rồi. Chúng tôi không phải tình nhân, nhưng lần đầu tiên tôi cảm nhận được loại cảm xúc bí mật chắc chắn chỉ có ở những người tình, sự xấu hổ và nhu cầu bảo vệ sự xấu hổ ấy.
Mẹ của Tiểu Du vỗ vỗ tay tôi, an ủi nói: "Bà ấy không có ý định làm khó dễ cậu đâu," bà ấy giải thích, "Đôi khi phụ nữ để bảo vệ chính mình, việc giả vờ như có nhân tình cũng rất hữu dụng đấy."
"Đặc biệt là khi người chồng này không muốn mất mặt trước thiên hạ." Hoa Sinh nói.
"Lúc trước chúng tôi cũng dùng cách này để giúp đường muội của cậu đấy." Mẹ của Tiểu Du nói, "Bịa ra một gã tình nhân. Kể từ dạo đó, con bé đã ly hôn rất nhanh chóng."
"Nhưng sao cứ phải biến thành lỗi lầm của tôi cơ chứ?" Tôi nói.
"Thế thì," người phụ nữ bị mẻ răng nói, "Cứ giữ lấy cái thể diện của cậu, tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân đau khổ ấy đi! Xinh đẹp thế cơ mà, kiêu ngạo thế cơ mà — chính là những người phụ nữ như cậu mới không thể vứt bỏ được lề thói cũ. Chỉ đành trách bản thân cậu ngu ngốc thôi."
"Đừng cãi nhau nữa, đừng cãi nhau nữa," mẹ của Tiểu Du nói, "Chúng ta vẫn nên tìm cách giải quyết vấn đề này một cách tốt nhất đi."
Bà ấy quay sang nhìn tôi, "Đồng thời, cậu phải gom tất cả trang sức của mình lại một chỗ, tìm được bao nhiêu tiền thì hay bấy nhiêu. Đợi khi cậu chuẩn bị xong xuôi, liền dẫn con trai trốn ra ngoài, đừng để người khác phát hiện. Khi cậu đến nơi, chúng ta sẽ biết bước tiếp theo phải làm thế nào. Bản thân cậu làm được đến bước này, có cần người giúp đỡ không?"
"Tớ tự lo được." Tôi lập tức đáp lời. Lúc nói câu này, bản thân tôi còn chưa biết phải thực hiện nó như thế nào nữa là đằng khác.