Cách đây vài năm, tôi có nhắc lại chuyện này xảy ra ở Nam Kinh với Helen, cô ấy phàn nàn rằng các ngón tay của mình thường xuyên đau nhức, điều đó khiến tôi nhớ lại chuyện xưa.
Tôi nói: "Cậu còn nhớ ngày máy bay Nhật Bản rải truyền đơn, cậu đã ăn cắp một chiếc xe xích lô chứ?" Thấy đấy, tôi chẳng thèm cảm ơn cô ấy vì đã cứu mạng mình, lúc đó chúng tôi chỉ lo chạy trốn, chỉ mong rời đi sớm một chút, hoàn toàn không có thời gian để nói lời khách sáo. Năm mươi năm trôi qua, tôi vẫn chưa cảm ơn cô ấy, thế nên bây giờ tôi định cảm ơn cô ấy.
Helen cười: "Tớ không nhớ nữa." Cô ấy nói: "Dù thế nào đi nữa, sao cậu lại có thể vu vơ nói tớ ăn cắp đồ chứ? Tớ chưa từng ăn cắp bất cứ thứ gì cả!"
Tôi nói: "Nhưng đó là trong thời buổi chiến loạn, cậu đã đẩy ngã một người đàn ông, còn làm rách cả ngón tay của chính mình, chứng viêm khớp của cậu chính là do ngón tay bị thương đó gây ra. Sau đó cậu đã tìm thấy tôi, đưa tôi về nhà, lúc đó tôi đã mang thai sáu tháng."
Nhưng Helen vẫn không tài nào nhớ nổi. Đối với quãng thời gian từng sống ở Nam Kinh, cô ấy chỉ còn lại một chút ký ức mơ hồ. Cô ấy chỉ nhớ đã từng ăn một lần dềnh dạ vị (dạ dày vịt sấy khô) ở đó, sau đó thì không bao giờ quay lại nữa, và còn có một cái bàn mà cô ấy tiếc không nỡ vứt đi. Đương nhiên cô ấy vẫn nhớ Betty Vương, cô ấy cứ nghĩ Betty là bạn của mình.
Chẳng phải điều này quá kỳ lạ sao? Chúng tôi ở cùng một khoảng thời gian, sống ở cùng một nơi. Đối với tôi, đó là một trong những khoảnh khắc bất hạnh nhất cuộc đời, mọi thứ tôi đều nhớ rõ mồn một. Còn đối với Helen, ngoài dềnh dạ vị ra, chẳng còn gì đáng để ghi nhớ cả.
Cậu có biết tại sao lại như vậy không? Những gì tôi nhớ chỉ là khoảnh khắc hạnh phúc nhất và bất hạnh nhất trong cuộc đời mình, người khác sẽ không nhớ những điều này. Đây là một thứ cảm xúc vô cùng cô độc.
Dù sao đi nữa, khi Helen phàn nàn về chứng viêm khớp của cô ấy, tôi đã nói với cô ấy rằng chuyện vòng hoa quấn dây thép tôi sẽ hoàn thành. Tôi nói câu này không phải để cảm ơn cô ấy vì đã cứu mạng tôi ở Nam Kinh, cô ấy sẽ không hiểu đâu, nhưng tôi biết mình đang làm gì.
Bây giờ tôi muốn kể cho cậu nghe, chúng tôi đã trốn chạy trong hoàn cảnh ngay cả chính mình cũng không hề hay biết như thế nào.
Mỗi người chỉ được mang theo một chiếc va-li, đó là tất cả những gì chúng tôi có thể mang đi, hơn nữa chỉ trong vòng một tiếng đồng hồ là phải rời khỏi Nam Kinh. Lúc đó chính là như vậy —— giữ lại cái gì, vứt bỏ cái gì, mọi thứ đều phải đưa ra quyết định trong vòng một tiếng đồng hồ. Không có thời gian để bán tháo đồ đạc, cả thành phố chìm trong cơn điên cuồng trốn chạy, tôi thực sự sợ chết khiếp.
Nhưng Văn Phúc không biết phải an ủi tôi thế nào, khi tôi kể cho anh ấy nghe những chuyện xảy ra ở chợ, anh ấy xua tay đuổi tôi đi.
"Em không có mắt à?" chồng tôi quát lớn, "Anh có việc quan trọng hơn phải làm, quan trọng hơn chuyện em kể lể quá trình mua đồ." Nói rồi anh ấy bước tới nói chuyện với một người đàn ông trên xe tải. Anh ấy châm một điếu thuốc, rít hai hơi, rồi nhìn đồng hồ, dập tắt điếu thuốc, lại châm một điếu khác, từ đó tôi biết trong lòng anh ấy cũng vô cùng sợ hãi.
Gia Quốc bảo tôi và Hồ Lan mỗi người chỉ được mang theo một chiếc va-li. "Vậy cái bàn mới của tôi thì sao? Còn hai chiếc ghế của tôi nữa?" Hồ Lan khóc òa. Chúng tôi vừa đến Nam Kinh mới được vài ngày, đã đi sắm mấy món đồ nội thất, cứ đinh ninh có thể ở lại thủ đô thêm vài ngày nữa. Mặc dù bàn và ghế Hồ Lan mua rất rẻ, chất lượng không quá tốt, nhưng chắc chắn chúng đẹp hơn bất cứ thứ gì cô ấy từng sắm sửa.
"Đừng bận tâm vì mấy thứ này nữa." Gia Quốc nói, đoạn kéo Hồ Lan sang một bên, thì thầm to nhỏ vài câu. Tôi nghe không rõ, chỉ thấy khuôn mặt Hồ Lan trông như một thiếu nữ, lúc thì bĩu môi, lúc thì mày cười hớn hở.
"Nhanh lên," Hồ Lan đổi sang giọng điệu ra lệnh nói với tôi, "Không có thời gian ngồi đây tự mình chuốc lấy phiền muộn đâu."
Tôi muốn nói với cô ấy, "Không phải tôi đang cằn nhằn." Nhưng chúng tôi chẳng còn thời gian để cãi nhau nữa.
Lúc chúng tôi thu dọn hành lý, đám lính cận vệ cứ ra ra vào vào giúp chúng tôi cầm đồ: quân phục không quân của Văn Phúc, giỏ đựng kim chỉ của tôi để tôi có thể mang riêng kim, hai cái bát và hai đôi đũa, mỗi người Văn Phúc và tôi một bộ.
Tên lính cận vệ đó cứ nói chuyện không ngừng với chúng tôi như thể bị thần kinh vậy. "Cậu mà chỉ nghe đài phát thanh, chỉ đọc báo, thì sẽ chẳng biết tẹo nào chuyện người Nhật sắp đến, hoàn toàn không biết gì sảng." Hắn nói, "Nhưng cậu chỉ cần nhìn vào khuôn mặt của những người trong thành phố là sẽ biết ngay."
Hắn càng nói, chúng tôi thu dọn lại càng nhanh. Hắn bảo tàn quân đang cướp bóc, thậm chí vì tranh giành quần áo mà giết người, muốn nhân lúc người Nhật chưa vào thành để ngụy trang thành dân thường. Những kẻ có tiền hoặc có thế lực từ sớm đã chuồn mất, ngay cả thị trưởng cũng bỏ trốn, mang theo cả một khoản tiền lớn bên người. Tên này do Tưởng Giới Thạch bổ nhiệm, bởi vì hắn ta đã cam kết sẽ giữ vững Nam Kinh bằng mọi giá.
"Chúng tôi không hề trốn chạy," Hồ Lan trừng mắt nói với tên lính cận vệ, "Tiểu đội hai và tiểu đội ba đi Côn Minh là có nhiệm vụ mới, có nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, cho nên chúng tôi mới phải đi."
Tôi không biết bản thân cô ấy có tin lời giải thích này không. Chẳng lẽ Gia Quốc đã nói với cô ấy như vậy sao? Ở Côn Minh thì có nhiệm vụ quan trọng gì chứ? Côn Minh trước đây là nơi đày ải quan lại bị giáng chức, nếu họ không chém đầu ngươi, thì sẽ tống cổ ngươi đến Côn Minh. Nơi đó gần như là biên giới Trung Quốc, là nơi sinh sống của các dân tộc thiểu số. Đương nhiên sự việc chưa chắc đã phải như vậy, nhưng tôi vẫn nhớ có lần chú tôi từng nói: "Khốn cùng Côn Minh" —— "Rơi vào cảnh khốn cùng giống như đến Côn Minh vậy". Ý là ngươi bị thế giới thực tại hất hủi ra ngoài. Sống ở Côn Minh giống như ẩn nấp ở một nơi bí mật mà không ai tìm thấy, vô cùng an toàn, tôi rất sẵn lòng đi.
Thu dọn xong quần áo của Văn Phúc, tôi bắt đầu thu dọn va-li của chính mình. Ở lớp lót dưới cùng, tôi giấu mười đôi đũa bạc, đó là một phần của hồi môn của tôi. Phía trên đó, tôi đặt một chiếc hộp đựng bánh quy nhỏ chứa đầy tất cả đồ trang sức của mình, một lọ nước hoa nhỏ mẹ tặng từ lâu, tôi đè mấy bộ quần áo cao cấp lên trên những thứ này. Sau đó tôi thấy mình chỉ mang theo một bộ đồ mùa đông, trông giống như không thể sống qua nổi một mùa vậy. Thật là một ý nghĩ xui xẻo làm sao! Thế là vào phút chót, tôi lại rút ra một chiếc áo len, nhét thêm hai chiếc áo đơn mặc vào mùa hè.
Mấy thứ chai lọ, chảo xào rau và giày cũ thì đem tặng cho đầu bếp và con gái cô ta. Còn những thứ tôi không thể mang đi, tôi phải nhanh chóng suy nghĩ xem nên tặng cho ai đây? Vừa hay Betty Vương đi ngang qua, tôi liền gọi cô ấy dừng lại một lát.
"Cậu định đi đâu thế?" Tôi hỏi cô ấy, "Là quay về Nam Kinh, hay là đến nhà chồng?"
Cô ấy nhanh chóng lắc đầu. "Họ không cần tôi, tôi cũng chẳng cần họ," cô ấy nói vừa cứng cỏi vừa dũng cảm, "Tôi cứ ở lại đây."
"Vậy thì giúp tôi cầm mấy món đồ đi." Vừa nói, tôi vừa bảo tên lính cận vệ mang những bộ quần áo tôi mặc thừa, đài phát thanh của Văn Phúc, chiếc máy khâu màu đen nhỏ của tôi ra đây, tôi bảo hắn đặt tất cả những thứ này lên chiếc xe xích lô vẫn đang đậu ở cửa nhà chúng tôi.
"Cậu mang những thứ này về đi." Tôi nói với Betty Vương. Lúc này tôi thấy Hồ Lan cắn chặt môi, trân trân nhìn tên lính cận vệ bê chiếc máy khâu ra ngoài, tôi thấy cô ấy rất muốn có chiếc máy khâu đó, cho dù chúng tôi chẳng có chỗ để.
Betty Vương bắt đầu từ chối. Tôi ngắt lời cô ấy: "Chúng ta không có thời gian để nói mấy lời khách sáo này nữa."
Thế là cô ấy cười nói: "Vậy được. Tôi sẽ dùng chiếc máy khâu này để kiếm tiền nuôi sống bản thân và đứa con nhỏ có một cuộc sống tốt đẹp." Cô ấy nắm lấy tay tôi, siết chặt không buông. "Tôi mãi mãi mang ơn cậu," cô ấy nói, "Cho dù tôi có thể trả ơn cậu gấp mười lần, cũng đời đời kiếp kiếp không trả hết."
Tôi biết cô ấy đang nói những lời may mắn, hy vọng chúng tôi vẫn có thể còn sống mà gặp lại nhau. Sau đó cô ấy nhanh chóng rút ra một thứ từ chiếc ví của mình. Hóa ra đó là một tấm ảnh cưới mới chụp của chính cô ấy, cô ấy mặc váy cưới màu trắng, người chồng phi công của cô ấy mặc một chiếc quần đen, áo khoác trắng, thắt nơ con bướm. Trang phục họ mặc là đi mượn của hiệu ảnh chuyên chụp ảnh cưới theo phong cách phương Tây, cặp vợ chồng mới cưới nào cũng làm thế.
Tôi cảm ơn bức ảnh của cô ấy. Tôi cảm thấy cô ấy rất dũng cảm, dám ở lại đây một mình, bởi vì tôi cảm thấy cô ấy hoàn toàn có thể cãi nhau một trận với bên không quân, bắt họ mang cô ấy đi cùng.
Lúc này Gia Quốc đang gọi lớn: "Chúng ta phải đi thôi!" Tiếp theo Văn Phúc cũng gọi, lính cận vệ cũng giục giã. Chúng tôi ném va-li vào phía sau chiếc xe tải quân sự mui trần, rồi trèo lên cùng những người khác. Ghế sau của xe tải quá cao, Văn Phúc kéo ở phía trước, Hồ Lan đẩy ở phía sau, mới miễn cưỡng đưa được tôi lên xe.
"Nhanh lên!" Giọng của Gia Quốc càng cao hơn. Tim tôi bỗng chốc đập nhanh hơn hẳn, tôi nghĩ nếu chúng ta chạy trốn không đủ nhanh, chúng ta vừa chân trước bước đi, thì chân sau người Nhật đã tới nơi rồi. Xem ra ai nấy đều có chung một nỗi sợ hãi.
"Nhanh lên, chúng ta đi thôi!" Bây giờ tất cả mọi người đều gọi lớn, "Nhanh lên xe đi, đừng chần chừ nữa!"
Phía sau xe tải nhanh chóng chật ních chín người, tất cả đều chen chúc khuỷu tay chạm khuỷu tay, ngoại trừ Hồ Lan và tôi là phụ nữ ra, thì chính là chồng của chúng tôi, hai phi công tiểu đội ba, hai sĩ quan quân đội, trong đó hình như có một người cấp bậc cao hơn, và một ông cụ đã trả rất nhiều tiền cho tài xế để được chen lên chuyến xe này. Đương nhiên còn có cả tài xế nữa, chúng tôi đều gọi ông ấy là "ông Mã", thực ra ông ấy không hề già, gọi như vậy chẳng qua là vì sự tôn trọng, suốt dọc đường do ông ấy chịu trách nhiệm đưa chúng tôi đến Côn Minh.
Tiếp đó ông Mã chửi thề một câu bằng chất giọng khàn đặc, chiếc xe tải phát ra một loạt tiếng gầm rú rồi chuyển bánh. Chúng tôi lên đường, đi qua những ngôi nhà đã mất đi vẻ tao nhã ngày thường, giống y như căn nhà chúng tôi vừa rời đi, rồi rẽ vào một con đường khác, ra khỏi cửa Tây thành.
Dọc đường chiếc xe rẽ qua rất nhiều khúc cua, chạy qua con đường nhỏ hai bên rợp bóng cây. Lúc ra khỏi thành, chúng tôi nhìn thấy hồ Mạc Sầu. Cho dù là vào mùa đông, nơi đây vẫn vô cùng xinh đẹp và tĩnh lặng, những rặng liễu rủ nhẹ nhàng phất phơ bên bờ hồ, tựa hồ như kể từ thời Hoàng đế đến nay, nơi đây ngay cả một chiếc lá cũng không hề thay đổi. Tôi vô cùng hối hận vì trước đây không đến đây tản bộ, để tâm hồn cảm nhận sự tĩnh lặng vĩnh cửu ấy.
Lúc này tôi phát hiện bên bờ hồ có một cậu bé đang đứng, tuy cách chúng tôi rất xa nhưng vẫn có thể nhìn thấy cậu bé đang vẫy tay về phía chúng tôi. Cậu bé nhảy cẫng lên, miệng không ngừng hét lớn cái gì đó. Chúng tôi cho rằng cậu bé chắc chắn nhìn thấy trang phục của phi công, coi chúng tôi như anh hùng mà hò reo chào đón, thế là chúng tôi cũng vẫy tay đáp lại. Cậu bé bắt đầu chạy theo đuổi chúng tôi, rồi nhảy nhót tung tăng, giơ cao hai tay, vẽ hình chữ thập trên đỉnh đầu, cậu bé muốn chúng tôi dừng lại. Đương nhiên chúng tôi không thể dừng lại. Lúc chúng tôi lái xe lướt qua bên cạnh, cậu bé dậm chân thình thịch. Sau đó chúng tôi nhìn thấy cậu bé nhặt mấy viên sỏi từ bên bờ, ném những viên sỏi đó xuống mặt hồ phẳng lặng, làm tung lên những gợn sóng. Cậu bé dang rộng hai tay hướng lên trời, làm động tác giống như vụ nổ lớn. "Bùm!" Cậu bé hét lên, "Bùm! Bùm!" Sau đó đứa trẻ hoang dã này lại nhặt mấy viên sỏi dưới đất lên, ném về phía xe tải của chúng tôi, tuy không ném trúng chúng tôi, nhưng chúng tôi đều nghe rõ mồn một những gì cậu bé hét lên: "Đồ đào tẩu! Đồ nhát gan!"
Chúng tôi lái xe đến cửa sông Dương Tử ở ngoại thành. Có người bảo với chúng tôi, hễ đến đó là lên thuyền, đi đến trạm trung chuyển của chúng tôi, Hán khẩu — Vũ Xương. Nơi này nằm ở miền Trung Trung Quốc, thường được gọi là "lò lửa của ác quỷ", bởi vì nơi này nóng kinh khủng, người ta nói đùa rằng cách tránh nóng hay nhất của người địa phương là nhảy vào chảo dầu sôi để tắm. Đương nhiên, bây giờ thì không như vậy nữa, hiện tại đang là mùa đông, lại đang trong thời buổi chiến loạn, ai còn tâm trí đâu mà nói đùa chứ?
Chúng tôi ở trên thuyền đi mất mấy ngày, có lẽ là đi một tuần lễ. Bây giờ tôi không nhớ rõ nữa, rốt cuộc là bao xa, bởi vì sau đó lại đổi sang một con thuyền khác, tôi hoàn toàn bị làm cho lú lẫn luôn rồi.
Nói tóm lại, chúng tôi đã xuống thuyền ở Hán khẩu — Vũ Xương, nghỉ lại một đêm trong khách sạn. Sáng sớm hôm sau, chúng tôi phát hiện ông Mã đã chất hành lý của chúng tôi lên phía sau một chiếc xe tải quân sự rồi. Chiếc xe này giống hệt với chiếc xe chúng tôi đã ngồi từ Nam Kinh tới đây, chỉ có điều ở bánh sau có treo thêm một cỗ phuy dầu lớn. Hồi đó đi Côn Minh chỉ có thể làm như vậy. Lúc đó không có trạm xăng cứ cách mười dặm lại có một cái, không có thứ đồ đó, cũng không phải lái xe trên đường cao tốc với tốc độ ít nhất bảy mươi cây số một giờ. Rời khỏi Hán khẩu, chúng tôi liền đi vào con đường đất chật hẹp, có lúc là đường hai làn, đa phần là đường một làn. Mỗi giờ chạy hai mươi cây số, bởi vì xe tải chỉ có thể chạy nhanh chừng đó, cho nên, nếu trên đường có người Nhật, bọn họ chỉ cần chạy theo ô tô, là có thể tóm gọn từng người chúng tôi ra hết.
Ngày đầu tiên, tôi rất lo lắng chúng tôi trốn chạy không đủ nhanh. Ngày thứ hai, tôi vẫn hơi lo lắng một chút. Kể từ sau đó, tôi vứt sạch nỗi lo lắng ra sau đầu. Tôi mệt mỏi rồi. Chúng tôi hành quân ở chốn nội địa, rời xa chiến tranh, giống như đang thụt lùi, lùi về một thế giới khác, một nơi tồn tại từ rất lâu trước đây, xa xôi từ trước chiến tranh. Chẳng ai thèm bận tâm nữa, thứ chúng tôi muốn chính là sự an toàn.
Trên đường đi về phía tây tới Trường Sa, dọc đường chúng tôi ven sông đi qua không ít ngôi làng có suối chảy róc rách. Có một nơi dưới sông cá nhiều kinh khủng, Hồ Lan nói, con sông này trông giống như loại súp cá đặc quánh vậy.
Ở những nơi nghèo đói lạc hậu này, cậu hoàn toàn không thể ngờ rằng Trung Quốc đang đánh nhau với kẻ xâm lược bên ngoài. Người ở đó không xem báo, cũng không biết chữ. Dù sao đi nữa, chiến tranh vừa mới bắt đầu, những người này cho rằng không đáng vì một mẫu đất mà đánh trận. Bọn họ không có thời gian để bận tâm đến những chuyện khác, thứ họ quan tâm chỉ là giá lương thực ngoài chợ, giá hạt giống năm tới, và vấn đề nếu không còn tiền dư dả thì họ sẽ ăn cái gì.
Suốt dọc đường, chúng tôi không hề chạm trán với lính quỷ Nhật Bản. Kẻ thù duy nhất của chúng tôi là cái cây lớn ngã đổ trên đường cản trở lối đi, hoặc một cái lỗ thủng lớn trên lốp xe buộc chúng tôi phải giảm tốc độ, những chuyện đại loại như thế.
Có một lần trên đường xuất hiện một con lợn, ông Mã bấm còi mấy lần, từ từ lướt qua cạnh nó. Con lợn vòng đi vòng lại, cúi đầu húc thẳng về phía xe tải, coi chiếc xe như một con lợn khác. Ồ! Tất cả chúng tôi đều cười lớn, nhưng đúng lúc này Văn Phúc nói anh ấy biết cách giải quyết vấn đề này. Anh ấy nhảy xuống xe, rút súng lục từ bao súng treo trước ngực ra.
"Đừng bắn nó!" Tôi hét lên, "Nó lập tức sẽ đi ngay thôi." Nhưng Văn Phúc không nghe tôi. Anh ấy tiến lại gần con súc vật đó, nó đang khịt mũi xung quanh lốp xe kìa. Hồ Lan nhắm nghiền hai mắt lại. Gia Quốc nói: "Anh ấy chỉ đùa thôi mà." Lúc này Văn Phúc chĩa súng nhắm thẳng vào con lợn. Tất cả chúng tôi đều sững sờ, y như con lợn kia vậy, nó ngoe nguẩy đôi tai, dựng đứng cái đuôi, đôi mắt chăm chú dán chặt vào Văn Phúc.
Đột nhiên, một ông cụ từ bên đường xông tới, miệng hét lớn: "Thì ra mày ở đây, cái đồ vừa thối vừa già này!" Văn Phúc quay đầu lại. Chỉ thấy ông cụ đang vung vẩy một đoạn dây thừng nhỏ trong tay làm roi da. "Con lợn ngốc!" lão quát lên, "Mau đến đây, cái đồ hư hỏng này."
Lúc này tôi mới thở phào nhẹ nhõm! Tất cả chúng tôi đều bật cười. Ngay lúc này, Văn Phúc bỗng nhiên quay người nổ súng bắn con lợn. Chỉ một phát đạn đã trúng ngay bụng nó, con lợn đáng thương hét lên chói tai, máu tuối xối xả, nó lảo đảo đi về phía ven đường, rồi ngã nhào xuống một con mương, bốn chân chổng vó đạp loạn xạ.
Miệng ông cụ há hốc, vội vã chạy qua xem con lợn của mình. Lão vừa chửi rủa, vừa dùng roi quất mạnh xuống đất, cứ như thể đó là Văn Phúc vậy. "Mày đúng là một con quỷ điên à?" Lão hét lên. Văn Phúc nhíu mày, rồi dùng súng chỉ chỉ ông cụ, mắt của kẻ đó mở to tròn vo như đồng tiền xu.
Lúc này Gia Quốc đứng ra, quát lớn: "Dừng tay!"
Văn Phúc hạ súng xuống, rồi cười với Gia Quốc. "Đương nhiên tôi chỉ đùa một chút thôi mà." Anh ấy cất súng đi, trèo từ phía sau vào trong thùng xe. Nhưng tôi thấy những người xung quanh trông ai nấy đều vô cùng căng thẳng, thời gian còn lại của ngày hôm đó mọi người đều im thin thít chẳng nói lời nào.
Rời khỏi Trường Sa không lâu, những sườn núi chúng tôi đi qua dọc đường đều được khai khẩn thành ruộng bậc thang, bên trên trồng lúa nước. Đây chính là cảnh tượng Trung Quốc mà các cậu người Mỹ thường nhìn thấy trên phim ảnh — vùng nông thôn nghèo đói, người ta đội những chiếc nón lá lớn để tránh cái nắng độc. Không, tôi chưa bao giờ đội chiếc nón đó cả! Tôi là người Thượng Hải. Nghĩ như vậy chẳng khác nào cho rằng người San Francisco đều đội mũ cao bồi, cưỡi ngựa, buồn cười biết bao.
Dù thế nào đi nữa, người ở những nơi này đều rất mộc mạc, rất thật thà, cũng rất thân thiện. Ban ngày chúng tôi dừng chân ghé qua những ngôi làng nhỏ, lũ trẻ liền vây quanh, chỉ trân trân nhìn chúng tôi, chưa từng hỏi câu nào, cũng không chạm vào đồ đạc của chúng tôi. Lính cận vệ không quân ra mấy quầy hàng nhỏ mua chút đồ ăn cho chúng tôi, toàn là đặc sản địa phương đã nấu chín sẵn: nào là một bát mì đản đản cay, cải trắng om thịt mỡ, có một lần còn được ăn đậu phụ thối cho thêm tương ớt, chà, thực sự là ngon tuyệt cú mèo, chúng tôi đi hai trăm cây số rồi, vẫn chưa từng ăn được món nào ngon như vậy.
Màn đêm vừa buông xuống, chúng tôi vội vã tìm nơi trọ lại. Trên đường quá tối, chẳng nhìn thấy gì cả, tài xế ngáy ngủ sơ sẩy một chút là sẽ lái xe lao xuống ruộng ngay, giống như việc Văn Phúc lái chiếc xe nhỏ của mình lao xuống nghĩa trang vậy. Cho nên cứ mặt trời lặn xuống là chúng tôi dừng lại nghỉ ngơi, chỉ đến lúc đó chúng tôi mới biết mình may mắn đến nhường nào.
Có một lần chúng tôi đến một nơi vô cùng xinh đẹp, một nhà nghỉ mộc mạc, giường chiếu được dọn dẹp rất sạch sẽ, lại còn có cả nhà tắm công cộng. Lại có một lần được sắp xếp ở trong một ngôi trường được xây dựng trong hang núi, hoặc là nhà nghỉ. Thỉnh thoảng chúng tôi qua đêm ở một tấm ván được ngăn ra trong chuồng lợn. Ban đêm đám súc vật ở bên ngoài phàn nàn với chúng tôi, ục ặc kêu la muốn xông vào.
Chúng tôi ngược lại chẳng phàn nàn gì mấy. Người Trung Quốc đều biết cách thích nghi với hoàn cảnh, bất kể bạn là người nghèo hay người giàu. Mọi người đều biết rõ, môi trường sống của chúng ta khoảnh khắc nào cũng có thể xảy ra thay đổi. Bạn sinh ra ở đất nước này là do vận may của bạn, bạn chưa bao giờ cần phải suy nghĩ vấn đề theo kiểu này.
Dọc đường đi, chúng tôi đi qua đủ loại nơi sinh sống của các dân tộc thiểu số. Những người này đội chiếc mũ bẩn thỉu trên đầu, hễ nhìn thấy ô tô là chạy ào tới muốn bán đồ cho chúng tôi, nào là thuốc lá, diêm, cốc uống nước làm bằng lon sắt. Khi họ bán những món đồ ngon nhất, thứ thượng hạng nhất của họ cho chúng tôi, bạn chỉ có thể trân trân nhìn hai miếng thịt khô nổi lề bềnh trên bát cơm ngâm nước canh, chẳng biết đó là thịt thú gì.
Tôi nhớ chúng tôi đã đến một thành phố lớn hơn là Quý Dương. Chúng tôi muốn ở lại đó vài ngày, như vậy bộ đội có thể sửa sang lại xe cộ, đổ thêm chút xăng dầu gì đó, đến Côn Minh vẫn còn một đoạn đường rất dài và rất vất vả cơ mà. Văn Phúc biết có một câu thành ngữ nói về Quý Dương, gọi là "Trời không ba ngày nắng, đất không ba thước phẳng". Đó là bởi vì nơi này suốt ngày mưa phùn, mà mặt đường của cả thành phố thì gồ ghề nhấp nhô không bằng phẳng. Kiến trúc và đường phố cao thấp khác nhau, giống như sống lưng rồng, ngoại thành toàn là những ngọn núi đá lởm chởm, trông giống như những người cổ đại cứng đờ bất động.
Tất cả mọi người đều trèo khỏi xe tải, trải qua một ngày bôn ba ai nấy đều mệt lử cả người. Ông Mã chỉ vào một nhà hàng ở phía đối diện đường, bảo chúng tôi sang đó ăn chút gì đi, còn ông ta đi tìm nhà nghỉ. Thế là chúng tôi băng qua đường. Chúng tôi nhìn thấy một cái thùng gỗ khổng lồ ở cửa nhà hàng, nhìn vào trong thùng gỗ, bên trong có rất nhiều lươn, toàn là lươn sống, vẫn đang bơi lội tung tăng đấy! Ở Thượng Hải, đây có thể coi là một món ăn vô cùng hiếm có. Ở đây lươn nhiều không kể xiết, ngày nào cũng có thể ăn được, bất kể là buổi sáng, buổi trưa, hay là buổi tối.
Đầu bếp thọc chiếc vợt lưới vào trong thùng gỗ, vớt ra mấy con lươn đang nhảy nhót tưng bừng, chào hỏi chúng tôi: "Xem này, tươi thế chứ lị!" Tối hôm đó chúng tôi ăn rất nhiều, từng đĩa lớn từng đĩa lớn lươn cắt khúc chất cao như núi, con nào con nấy to bằng ngón tay của chúng tôi. Mọi người đều nói bữa ăn này là bữa ngon nhất mà chúng tôi từng được ăn. Cho nên khi ông Mã nói ông ấy đã tìm cho chúng tôi một nhà nghỉ, là nhà nghỉ tốt nhất, hạng nhất trong cả thành phố, chúng tôi tràn đầy hy vọng được ở trong một cung điện rồi!
Để tôi nói cho cậu nghe nhé, kinh khủng lắm, nhà nghỉ đó vừa tồi tàn vừa bẩn thỉu. Tôi hỏi nhà tắm ở đâu, bọn họ đáp: "Ở bên ngoài." Tôi đi ra ngoài nhìn thử, chẳng có nhà tắm nào cả, không có nhà vệ sinh, thậm chí ngay cả một tấm rèm che cũng không có. Hóa ra cái gọi là bên ngoài của họ, thực sự chính là bên ngoài! Một nơi vô cùng bẩn thỉu ở bãi tha ma hoang dã, mọi người cứ thế giải quyết nhu cầu ngay trước mắt bạn. Bây giờ tôi có thể cười nhạo chuyện này, nhưng hồi đó, tôi tự nhủ với bản thân, thà tôi nhịn không đi còn hơn. Tôi quay trở lại phòng của mình, tôi ở lì trong đó, cho đến khi thực sự không nhịn nổi nữa, nước mắt nước mũi và mồ hôi trên mặt túa ra đầm đìa. Thật sự, tôi đã đợi rất lâu mới dám cắn răng bước ra ngoài một lần nữa.
Bên trong nhà nghỉ cũng tệ hại y như vậy. Bọn họ lấy đủ mọi thứ để làm đệm — rơm rác bẩn thỉu dính bùn đất sỏi đá, lông gà cũ cùng với một số thứ mà bạn thậm chí còn chẳng dám tưởng tượng đến. Tấm vải phủ ở bên trên lại rất mỏng, chưa từng được ngâm qua nước nóng, đường kim mũi chỉ cũng không được thu gọn, cho nên rệp rất dễ chui vào lớp rơm rác bên trong, giống như chiếc cửa mở toang có thể nghênh ngang xông vào. Suốt cả đêm, chúng thừa lúc chúng tôi ngủ say liền bò ra hút máu chúng tôi. Đây là sự thật, tôi phát hiện trên lưng Văn Phúc có tới mấy con liền.
Tôi nói: "Này. Đây là cái gì thế? Ở đây, ở kia, giống như những nốt đỏ nhỏ xíu vậy."
Anh ấy giơ tay ra gãi, rồi hét lên: "Ấy, ấy!" rồi nhảy cẫng lên, vỗ vào lưng mình, muốn rũ đám rệp xuống. Tôi phải khó khăn lắm mới nhịn được cười. Khi anh ấy cuối cùng đã bình tĩnh lại, tôi giúp anh ấy bắt rệp, phàm là chỗ bị rệp cắn, bên trên đều có một nốt đỏ rất to. Lúc này Văn Phúc hét lên, trên người tôi cũng có một nốt, ngay ở sau gáy tôi! Tôi giật nảy mình, kêu to lên. Anh ấy cười đưa cho tôi xem con rệp bắt được, rồi dùng móng tay bóp nó thành hai nửa. Con rệp thực sự thối hoắc luôn ấy chứ!
Hôm sau tôi nghe nói tất cả mọi người đều gặp phải rắc rối với lũ rệp. Lúc ăn sáng, chúng tôi đều cười cợt phàn nàn chuyện ông Mã tìm cho cái nơi quái quỷ này. Đúng lúc này Gia Quốc bước vào phòng, thông báo cho chúng tôi hay quân đội Nhật Bản đã xâm chiếm thủ đô, Nam Kinh hoàn toàn thất thủ rồi. Anh ấy không nói với chúng tôi người dân có kháng cự hay không, có nhận được đãi ngộ tốt như cam kết trên truyền đơn hay không. Lúc đó vẫn chưa ai biết chuyện xảy ra sau đó.
Tôi nghĩ đến Betty Vương, những lời dũng cảm của cô ấy. Cô ấy đã quỳ gối trước người Nhật chưa? Tôi chắc chắn những người khác cũng nghĩ như vậy, mặc dù chúng tôi không hề giao lưu tư tưởng tình cảm với nhau. Tất cả mọi người đều im thin thít chẳng nói lời nào. Về điều kiện sinh sống ở Quý Dương thì chẳng còn gì để phàn nàn nữa, ngay cả tâm trí để cười đùa cũng không có.
Rời khỏi Quý Dương, sườn núi ngày càng cao hơn, sau đó chúng tôi đi vào chốn núi non trùng điệp. Tôi và Hồ Lan trân trân nhìn sát bên xe, vô cùng yên lặng. Hễ nhìn thấy những vách đá hiểm trở đó, chúng tôi lại có cảm giác như sắp ngã nhào xuống vậy. Con đường ngày càng trở nên tồi tệ hơn, mỗi lần đụng phải những chỗ lồi lõm trên đường, chúng tôi lại hét lên một tiếng — "Oa!" rồi lại cười một tiếng, vội vàng lấy tay bịt miệng lại. Chúng tôi vẫn luôn ngồi trên những chiếc va-li ở phía sau, dập dềnh lên xuống theo chiếc va-li, chúng tôi luôn muốn túm lấy cái gì đó, để tránh trượt đi quá xa, làm xước mông.
Có lúc, ông Mã bảo tôi lên phía trước ngồi cùng ông ấy, bởi vì tôi là một sản phụ. Nhưng ông ấy không nói là do nguyên nhân này, ông ta làm việc xưa nay không bao giờ nói lý do với người khác. Mỗi buổi sáng trước khi lái xe, ông ta nhìn lướt qua tất cả mọi người, rồi gật đầu với một người nào đó, điều đó có nghĩa là người đó có thể lên phía trước ngồi rồi.
Suốt dọc đường, ông Mã trở thành người có quyền lực lớn nhất trong đám chúng tôi, hệt như một vị hoàng đế vậy. Sinh mệnh của chúng tôi đều treo lơ lửng trên một mình ông ta. Tất cả chúng tôi đều biết rõ, chiếc ghế ở phía trước chính là ngai vàng của hoàng đế. Chiếc ghế này có đệm tựa, khi mệt mỏi, còn có thể duỗi thẳng chân về phía trước, gác đầu ra phía sau, chợp mắt một lát. Không giống như ở phía sau, mỗi người đều phải chật vật trong không gian hai inch vuông vức, đầu gối chạm đầu gối. Đi trên con đường núi này, chúng tôi chẳng có suy nghĩ nào khác, chỉ cầu mong giữ được tính mạng, có cơ hội lên phía trước ngồi một lát, tất cả những thứ khác, thậm chí cả đồ đạc trong va-li của chúng tôi cũng trở nên không đáng nhắc tới.
Đương nhiên, ai nấy đều có lý do để được lên phía trước ngồi. Lúc ăn cơm chúng tôi đều bàn tán những lý do này, chúng tôi biết ông Mã vẫn đứng ngay một bên lắng nghe. Có người nói mình đã già, lại còn bị viêm khớp. Có người bị bệnh ở Quý Dương, tuy không phải bệnh truyền nhiễm nhưng người vẫn rất yếu ớt. Lại có người nhiều lần nhắc đến việc mình đảm nhận chức vụ quan trọng trong quân đội. Gia Quốc thừa nhận anh ấy là một phi công cao cấp, vừa được thăng chức làm cơ trưởng. Hồ Lan cứ luôn ca ngợi ông Mã, nói ông ấy lái xe phản ứng nhanh nhạy. Văn Phúc biếu ông ta mấy bao thuốc lá, lúc đánh bài với ông ta lại cố ý nhường cho ông ta thắng.
Ban ngày, con đường núi vô cùng bận rộn, nhưng không phải vì ô tô. Không có chiếc xe nhỏ nào lái ra cả, chỉ nhìn thấy mấy đứa trẻ cúng tấm lưng cõng những bao gạo nặng trịch, hoặc một người đàn ông đi sau chiếc xe bò của mình, hay là có người bày sạp buôn bán trên đường. Hễ nhìn thấy chúng tôi đi tới, bọn họ liền vội vã tránh sang bên vách núi, nhường đường cho xe đi qua, trân trân nhìn chằm chằm vào chúng tôi, rồi nhìn ngó con đường chúng tôi vừa tới.
"Quỷ Nhật Bản sắp đến đây rồi kìa." Văn Phúc nói đùa với bọn họ, dọa cho những người dân làng đáng tội nghiệp này sợ chết khiếp.
"Còn bao xa nữa vậy?" Một ông cụ hỏi.
"Đừng lo lắng!" Gia Quốc hét lên, "Anh ấy chỉ nói đùa thôi mà, chẳng có ai qua đây đâu." Nhưng những người dân làng đó dường như chẳng nghe thấy gì cả, bọn họ vẫn ngẩn ngơ nhìn con đường phía dưới.
Có một buổi tối, ông Mã dừng xe bên vệ đường, nhảy phóc xuống, bảo với chúng tôi rằng dọc đường đi mấy tiếng đồng hồ nữa cũng chẳng có ngôi làng nào đâu. "Chúng ta ngủ ở đây đi." Nói xong ông ta nằm dài trên ghế, hoàn toàn không có chỗ để thương lượng.
Đêm tối mịt mùng, hoàn toàn không phân biệt được đâu là đường, đâu là núi, đâu là trời, chẳng ai dám rời khỏi xe đi xa cả. Một lát sau đám đàn ông dùng va-li chất đống lại thành một cái bàn, mượn ánh nến bắt đầu chơi bài.
Em bé trong bụng tôi ngày càng nặng nề hơn, tôi thường xuyên đau đến mức muốn đi tiểu, thế là bèn nói với Hồ Lan: "Tôi phải đi giải quyết chút đây, cậu đi không?" Cô ấy gật đầu. Thế là tôi nghĩ ra một cách vô cùng thông minh, tôi kéo tay Hồ Lan lại, bảo cô ấy đi theo sau tôi. Tôi giơ tay còn lại vị lấy chân núi, sờ soạng từng bước chân dò dẫm trên những hòn đá. Chúng tôi đi lướt qua chỗ đám đàn ông, đến một nơi, vừa hay là khúc cua, hai chúng tôi liền giải quyết nỗi buồn ở đó. Kể từ sau khi tôi và Hồ Lan quen biết nhau, tôi đã thay đổi rất nhiều — đối với chuyện thế này, tôi không còn cảm thấy ngượng ngùng giống như trong nhà tắm ở Hàng Châu hồi đó nữa.
Sau đó, tôi cảm thấy vô cùng vô cùng mệt mỏi. Tôi không định lập tức mò về ngay, thế là hai chúng tôi tựa lưng vào chân núi, ngẩng đầu nhìn bầu trời. Mấy phút trôi qua chúng tôi chẳng nói năng gì cả, giống như muôn vàn vì sao trên bầu trời vậy, chẳng có sự cần thiết phải nói năng gì.
Một lát sau, Hồ Lan lên tiếng: "Mẹ tớ từng kể cho tớ nghe về hình dáng của các vị thần tiên trên trời, có nam thần tiên nữ thần tiên. Mẹ nói những vị thần tiên này đều không giống nhau, tùy thuộc vào hướng chuyển động của các vì sao. Thỉnh thoảng cậu có thể nhìn thấy khuôn mặt của thần tiên, thỉnh thoảng chỉ có thể nhìn thấy sau gáy của vị ấy."
Tôi chưa từng nghe nói đến chuyện kiểu này bao giờ, nhưng tôi không thể chắc chắn quê nhà của cô ấy có thực sự như vậy không, thế là bèn hỏi một câu: "Trông thế nào?"
"Hừ, tớ quên mất tiêu rồi." Cô ấy đau khổ nói, rồi lại im bặt. Nhưng chỉ vài phút sau, cô ấy lại mở miệng, "Tớ nhớ hình như có người gọi là tiên nữ rắn. Nhìn đằng kia kìa, chẳng phải rất giống một con rắn sao? Trên đầu còn có hai con mắt rất đẹp nữa chứ. Chỗ có một đám mây đen lớn che khuất kia, tớ đoán chính là chức nữ chăn trâu trên trời đấy."
Hừ, tôi nhớ lại câu chuyện cổ xưa từng nghe trước đây. "Nam thì gọi là Ngưu Lang, nữ gọi là Chức Nữ," tôi đính chính lại cho cô ấy, "Cô ấy là một trong bảy cô con gái của ông Táo."
"Biết đâu đấy, biết đâu đấy chứ, những gì tớ nghĩ đến là em gái của Ngưu Lang thì sao." Cô ấy nói. Tôi không cãi nhau với cô ấy. Cho dù là thứ Hồ Lan nghĩ đến, quên mất, hay là do chính cô ấy tự bịa ra đi chăng nữa, thì cũng chẳng sao cả, tôi mệt mỏi lắm rồi, chỉ muốn cho bộ não của mình được thư thái một chút. Tôi cũng tìm kiếm hình dáng vị thần tiên mà cô ấy cứ khăng khăng bắt tôi phải tin, tôi tìm thấy một chòm sao, đặt tên cho nó là một cặp ngỗng tình nhân bị chia cắt, tiếp theo lại tìm thấy một chòm, gọi cô ta là người phụ nữ chết đuối, bởi vì tóc của cô ta đều xõa tung ra cả rồi. Sau đó hai chúng tôi liền tự biên tự soạn câu chuyện cho chúng, câu mở đầu luôn là thế này, "Ngày xửa ngày xưa," tiếp theo lại chọn một địa điểm từ hồi chúng tôi còn nhỏ, "Trong vương quốc của nữ thần đầu ngựa," hoặc là "Trong đôi mắt của tiên nữ."
Tôi không nhớ nổi câu chuyện kể lúc đó thế nào, dù sao thì cũng ngốc nghếch lắm. Câu chuyện Hồ Lan kể còn ngốc hơn cả câu chuyện của tôi, kết cục câu chuyện của cô ấy luôn nằm ngoài dự đoán của mọi người, một người anh hùng kết hôn với một kẻ xấu xí, kết quả kẻ xấu xí này hóa ra lại là một nàng công chúa xinh đẹp. Tôi cảm thấy câu chuyện tôi kể luôn hàm chứa bài học — đừng ăn quá nhiều nhé, đừng nói quá nhiều nhé, ban đêm đừng ra ngoài một mình nhé — nói tóm lại, đều là kể về việc con người ta vì quá mức tùy hứng nên mới rơi ra khỏi trái đất, bước vào bầu trời. Mặc dù bây giờ tôi không thể nhìn rõ hình dáng của những vì sao sáng chói ấy, tôi vẫn nhớ tình cảm thân thiết tốt đẹp lúc bấy giờ.
Chúng tôi cứ vướng bận mãi không thôi vì những chuyện nhỏ nhặt này — một câu chuyện cứ khăng khăng bắt người ta phải tin này, một ngôi sao xa xôi nọ, sau đó đều biến thành những thứ chạm đến sâu thẳm tâm hồn chúng tôi. Suốt dọc đường, chúng tôi vẫn luôn tìm kiếm những điềm sao tốt lành, một thứ hòa bình vĩnh viễn không bao giờ thay đổi, chẳng buồn để ý đến những thứ khác. Có một lần chúng tôi nhìn thấy một chú chim đậu trên lưng trâu, liền tưởng tượng chúng mãi mãi trở thành một đôi bạn lớn nhỏ gắn bó. Có một lần chúng tôi nhìn thấy một cậu bé nở nụ cười chân thành chào hỏi chúng tôi, không giống như cậu bé chúng tôi từng nhìn thấy lúc rời khỏi Nam Kinh, thế là chúng tôi cứ bàn tán suốt cả ngày về cậu bé này, cậu bé đáng yêu biết bao, thông minh biết bao, cậu bé gợi cho người ta nhớ đến người anh em họ hồi nhỏ biết bao, hành vi cử chỉ của cậu bé này, trong ký ức của chúng tôi, đơn giản là hoàn hảo không tì vết.
Sau đó có một ngày, trong lòng chúng tôi dâng lên một thứ cảm xúc, nó khiến chúng tôi trong suốt chặng đường còn lại, quên sạch mọi khổ nạn đã trải qua dọc đường, cùng với tất cả những rắc rối vô định sẽ phải đối mặt sau này.
Chúng tôi đã qua đêm ở một ngôi làng mang tên "Hai mươi tư khúc cua". Đây là khúc cua để rẽ vào vùng núi, người trong làng bảo chúng tôi tốt nhất là nên vượt qua cửa ải này trong ngày, bởi vì ngày mai có một chiếc xe tải quân sự sẽ từ một con đường khác, lao xuống từ một ngôi làng có tên "Thiên Tức" nằm trên đỉnh khúc cua. Rắc rối đến rồi! Đường chật hẹp thế này, hai chiếc xe tải quân sự làm sao tránh nhau được đây? Xe tải quân sự của chúng tôi đang ở phía dưới, chỉ đành lùi lại một đoạn đường rất dài, đến một nơi tương đối rộng rãi thì mới có thể tránh nhau được. Nguy hiểm biết bao! Lỡ như tài xế mất kiểm soát, chỉ cần sơ sẩy dù chỉ một chút thôi, là sẽ lật nhào xuống núi, thế là tiêu đời.
"Chúng ta phải đi bao nhiêu dặm đường mới đi hết hai mươi tư khúc cua này vậy?" Tôi hỏi một người dân địa phương.
Người đó cười. "Không phải cộng lại thành hai mươi tư khúc cua đâu, cô tiểu thư ạ," người đó nói, "Hứng chí mỗi dặm đường có khi lại có tới hai mươi tư khúc cua ấy chứ. Chà! Một người trước tiên phải đi bốn mươi tám dặm, đầu óc và bụng dạ mới không bị chóng mặt hoa mắt. Nhưng phải cẩn thận mụ phù thủy tóc trắng đấy nhé. Mụ ta thích kéo người ta đứng lại bên đường, để họ ở lại rất lâu, cùng mụ ta uống một vạn chén trà. Trà đó, chúng tôi gọi là trà trường thọ, ngài chỉ cần uống một ngụm là sẽ không bao giờ muốn rời khỏi căn nhà trong chùm mây mù của mụ ta nữa, có khi ngài sẽ quên mất cả đường về nhà luôn đấy!"
Sự hài hước của người này thật đáng sợ làm sao! Trò đùa sẽ rước lấy tai họa! Tôi không biết tại sao tất cả mọi người đều bật cười, Hồ Lan cũng cười.
Ngày hôm đó lúc chúng tôi xuất phát, nhìn thấy mây lững lờ trôi trên đỉnh đầu, gió thét gào, phát ra âm thanh "vù! vù!", một lát sau lại khôi phục lại vẻ tĩnh lặng. Chúng tôi dùng chăn quấn chặt cơ thể lại. Sau đó chiếc xe bắt đầu leo núi. Qua khúc cua thứ hai mươi tư đầu tiên, chúng tôi đi vào phía dưới tầng mây thưa thớt. Gió thổi càng lúc càng mạnh, qua khúc cua thứ hai mươi tư thứ hai, chúng tôi đã bị sương mây bao bọc kín mít. Tầng mây ngày càng dày đặc, đột nhiên thế giới trước mắt biến thành một màu trắng xóa, tài xế hét lên rằng anh ta không nhìn rõ phía xa nữa, chiếc xe đành phải dừng lại. Ngoại trừ tôi ra, ai nấy đều nhảy phắt xuống xe, miệng lẩm bẩm nói: "Lạ thật đấy, lạ thật đấy!"
Tôi nghe thấy Văn Phúc đang hét lên: "Chúng ta dừng lại làm gì? Không nghe thấy người ta nói rồi à, chúng ta nhất định phải đi thẳng!"
Tôi nhìn Văn Phúc, chỉ thấy cái miệng của anh ấy giống như một cái hố đen, gầm thét đối chọi lại với gió. Tôi lại nhìn những người khác, trên khuôn mặt của họ đều phủ một lớp màng sương mờ ảo, giống như ma quỷ vậy, đẹp đến mức rợn cả tóc gáy. Ôi! Tôi không biết chúng ta đã chết chưa, chỉ có mình tôi biết điều này. Tôi cúi đầu nhìn xuống, dưới chân không có đường.
"Rốt cuộc chúng ta sẽ biến thành cái gì đây?" Tôi hét lên. Nhưng lời vừa thốt ra khỏi miệng, dường như âm thanh đã biến mất tăm mất tích. Tôi lại một lần nữa cảm thấy tất cả mọi người đều đã chết rồi. Tôi tưởng tượng giọng nói của mình bị nuốt chửng bởi một đám mây chứa đầy lời nguyền của ma quỷ, đám mây đó ngày càng nặng hạt, biến thành nước mắt, hóa thành nước mưa rơi xuống.
Nhưng đúng lúc này Hồ Lan trèo lên xe từ phía sau, vấp phải va-li một cú, thế là tôi liền quả quyết rằng chúng ta tuyệt đối không thể chết được, bởi vì ma quỷ thực thụ đời nào lại vụng về đến mức này.
"Cái này giống như câu chuyện tớ kể cho cậu nghe vậy." Cô ấy nói. "Chức nữ chăn trâu trên trời. Đây chính là dòng sữa đổ từ trên trời xuống." Tôi thầm lẩm bẩm với bản thân trong lòng, ma quỷ thực thụ mới không nói những lời ngốc nghếch thế này đâu.
Cô ấy mở va-li ra, thọc tay vào bên trong, lôi ra một chiếc váy màu đỏ từng mặc lúc kết hôn từ trong đó. Cô ấy muốn làm gì vậy? Cô ấy ném chiếc váy đỏ cho Gia Quốc. Anh ấy rất bình tĩnh, ra lệnh cho mọi người nhanh chóng quay trở lại xe.
Bây giờ tôi đã hiểu ra rồi, Hồ Lan đã áp dụng cách mà tôi từng dùng vào tối mấy hôm trước. Gia Quốc một tay sờ víu chân núi, những viên đá thô ráp khiến anh ấy biết rằng mình vẫn đang ở trên núi, tay kia giơ cao chiếc váy đỏ, để nó phấp phới tung bay trong gió, tài xế cứ dựa vào dấu hiệu này đi theo từng bước chân của Gia Quốc mà từ từ tiến về phía trước. Xe chuyển bánh, mặc dù rất chậm nhưng ít nhất chúng tôi đã di chuyển trở lại rồi. Qua nửa tiếng đồng hồ, Gia Quốc trèo trở lại xe, mệt mỏi rã rời, ướt sũng từ đầu đến chân. Văn Phúc thay thế anh ấy, sau đó, một phi công khác thay thế Văn Phúc xuống xe mở đường, cứ như vậy, từng chút một nhích về phía trước, bầu trời trên đỉnh đầu chúng tôi dần dần sáng lên, tầng mây ngày càng mỏng đi, hé lộ ra sắc xanh nhạt, không cần dùng đến chiếc váy đỏ mừng rỡ kia để đánh dấu nguy hiểm trên đường nữa rồi.
Chúng tôi tiếp tục vừa rẽ khúc cua vừa leo núi, lại leo núi lại rẽ khúc cua, cũng chẳng biết đã rẽ qua bao nhiêu khúc cua, phía trước còn bao nhiêu khúc cua nữa. Cuối cùng chúng tôi cũng hoàn toàn chui đầu ra khỏi gió mây. Tất cả mọi người đều kích động đến mức thở hổn hển, rồi lại kinh ngạc không thôi. Bởi vì chúng tôi bây giờ đã đến một nơi chỉ có thể đọc được trong tiểu thuyết — phía trên đầu là bầu trời xanh thẳm, dưới chân là mây trắng bồng bềnh, những phiền muộn chốn trần gian đều quên sạch sành sanh.
Quãng thời gian còn lại của buổi chiều hôm đó, chúng tôi cứ thế hành trình trên đỉnh núi mây mù vây quanh. Mọi người vui mừng biết bao, giống hệt như những kẻ thực sự chết đi sống lại thành tiên vậy: vui vẻ, khỏe mạnh, thông minh, nhân từ.
Kẻ bị bệnh ở Quý Dương nói, bây giờ anh ta cảm thấy bệnh đã khỏi hoàn toàn rồi. Ông cụ bị viêm khớp giơ nắm đấm lên nói, ông ấy cũng cảm thấy đỡ hơn nhiều rồi.
"Nơi này giống y như suối thần mà tớ từng thấy trước đây," Hồ Lan nói, "Có thể chữa bách bệnh. Nó có thể khơi dậy nguồn sức mạnh tiềm ẩn trong cơ thể cậu mà ngay cả chính cậu cũng không hề hay biết." Câu chuyện ngốc nghếch này cô ấy đã từng kể với tôi ở Hàng Châu rồi, thế nhưng bây giờ tất cả mọi người đều đồng tình với cách nói của cô ấy, bao gồm cả tôi.
Hồ Lan vừa dứt lời, Văn Phúc liền thốt lên suy nghĩ trong lòng mình, điều mà trước đây tôi chưa từng nghe thấy bao giờ. "Cái này giống như lái máy bay vậy," anh ấy nói với tôi, "Cũng vui sướng thế này đây. Cậu nhìn xuống dưới, mây ở ngay dưới chân cậu, thật sự tuyệt vời lắm. Thỉnh thoảng anh cứ cắm đầu lao xuống thế này, lúc lên lúc xuống, chui vào tầng mây, rồi lại đến dưới ánh nắng mặt trời, giống như đang bơi lội trong nước vậy."
“Thật không? Thường xuyên thế à?” Tôi hào hứng hỏi.
"Thật, thường xuyên thế lắm." Anh ấy nói, "Thỉnh thoảng anh sẽ cao hứng cất tiếng hát vang lên."
Tôi bật cười lớn, rồi anh ấy bắt đầu cất tiếng hát. Đây là một đoạn điệu hát Kinh kịch rất hài hước, khoảng một năm trước lần đầu tiên tôi gặp anh ấy khi đi xem hát ở làng, anh ấy từng hát rồi. Tôi vô cùng kinh ngạc khi phát hiện giọng ca của anh ấy lại hay đến thế. Khoảnh khắc này, cả thế giới đang lắng nghe tiếng hát của anh ấy, nhưng anh ấy là hát cho tôi nghe.
Tôi nghĩ cậu đã cảm nhận được cảm xúc của tôi ngày hôm đó trên núi rồi chứ, tôi cảm thấy được đến nơi đó thật may mắn biết bao, có những người bạn này thật may mắn biết bao, có chồng ở bên cạnh thật may mắn biết bao. Trong lòng tôi ngập tràn hạnh phúc, đến mức có chút gánh vác không nổi. Tôi quên mất rằng sau này mình vẫn phải rời khỏi nơi đó.
Chúng tôi đến ngôi làng mang tên Thiên Tức trên đỉnh núi. Tất cả chúng tôi đều đồng tình dừng chân sớm một chút, qua đêm ở đó. Cớ gì không để khung cảnh tuyệt đẹp này kéo dài thêm chút nữa cơ chứ?
Đúng lúc này chúng tôi nhìn thấy chiếc xe tải quân sự đi lên từ một hướng khác, nó vẫn ở đó, chuẩn bị xuống núi từ chính con đường lúc nãy chúng tôi đi lên. Cớ gì không khoe khoang với bọn họ cảnh tượng kỳ vĩ mà chúng tôi vừa nhìn thấy chứ? Chúng tôi có thể cho bọn họ chút hy vọng chứ bộ!
Chúng tôi vội vã trèo khỏi xe tải. Văn Phúc bồng tôi xuống, nói đùa rằng tôi to béo bằng hai người vợ, nhưng tôi chẳng thèm chấp.
Chúng tôi phát hiện các binh lính đều ngồi bệt dưới đất, biểu cảm bình thản nghiêm nghị. Từ trên khuôn mặt của họ, chúng tôi lập tức nhận ra, bọn họ chẳng có tâm trí đâu mà nghe chúng tôi nói đùa. Bọn họ bảo với chúng tôi rằng phải đi Trùng Khánh, giúp đỡ xây dựng một thủ đô mới — bởi vì thủ đô cũ đã xảy ra loại chuyện đó rồi. Lúc đó chúng tôi mới biết được tin tức về thảm sát Nam Kinh mà ở Quý Dương vẫn chưa hay biết.
Ai mà ngờ người Nhật lại nuốt lời, không thực hiện cam kết trên truyền đơn của họ chứ? Có lẽ có người đã ném đá, có lẽ có người không chịu quỳ gối, có lẽ một bà già muốn ngăn cản hàng xóm của mình, mắng mỏ rằng: "Đi đứng cho cẩn thận vào, ông muốn kéo tất cả chúng tôi gặp họa cùng đấy à?"
"Bọn chúng lừa người ta," một người lính ngồi trên đất nói, "Bọn chúng cưỡng hiếp phụ nữ, ngay cả bà già, tiểu cô nương cũng không tha, hết người này đến người khác luân phiên qua, chơi chán chê rồi, thì dùng lê mổ bụng bọn họ. Bọn họ vì tranh giành nhẫn mà cắt đứt cả ngón tay của người ta. Bọn họ nã súng càn quét trẻ con, khiến người Trung Quốc tuyệt tử tuyệt tôn. Bọn họ cưỡng hiếp một vạn người, chém đầu hai ba vạn người, con số không còn là con số, con người không còn là con người nữa."
Trong lòng tôi tưởng tượng tất cả những chuyện này, người đầu bếp nấu ăn cho chúng tôi, Betty Vương, đứa trẻ ném đá xuống hồ. Tôi nghĩ, tất cả những chuyện này đều xảy ra vào lúc chúng tôi đang trải qua niềm vui và nỗi buồn, thế mà tôi vẫn còn phàn nàn chuyện di dời từ chỗ này sang chỗ khác. Lúc nghe những tin tức này, bản thân tôi không gặp nguy hiểm, nhưng trong lòng tôi vẫn cảm thấy vô cùng kinh hãi, đến mức hoàn toàn không dám tin đây là sự thật.
Tôi nói với người lính đó: "Chuyện này không thể là thật được, chỉ là lời đồn thổi thôi phải không?"
"Tin hay không tùy ngài." Người lính đó nói xong, nhổ một bãi nước bọt xuống đất.
Mãi sau này tôi mới phát hiện ra mình đã đúng, những gì người lính đó nói — chỉ là lời đồn thổi mà thôi, bởi vì số người chết thực tế lớn hơn thế rất nhiều. Sau này một sĩ quan quân đội nói với tôi, có lẽ có tới hàng chục vạn người, nhưng anh ta thì biết thế nào được? Ai mà đếm xuể ngẫu nhiên nhiều người như vậy chứ? Những kẻ bị chôn sống, bị thiêu chết, bị ném xuống sông chết đuối, chẳng lẽ bọn họ từng đếm qua sao? Những người nghèo vốn chẳng được ai coi ra gì khi còn sống thì tính thế nào đây?
Tôi cố hết sức tưởng tượng tất cả những chuyện này, rồi lại liều mạng muốn vứt nó ra khỏi đầu. Bi kịch xảy ra ở Nam Kinh tôi không thể nói đó là bi kịch của tôi, tôi không bị ảnh hưởng, tôi không bị giết hại.
Nhưng suốt mấy tháng sau đó đêm nào tôi cũng gặp ác mộng, một cơn ác mộng vô cùng khủng khiếp. Tôi mơ thấy chúng tôi lại quay về Nam Kinh, kể với đầu bếp và Betty Vương về khung cảnh tươi đẹp mà chúng tôi nhìn thấy ở làng Thiên Tức, khoe khoang những món ăn mỹ vị ngon lành mà chúng tôi đã ăn ở Quý Dương. Sau đó người đầu bếp nói với tôi: "Cậu không cần phải rời khỏi Nam Kinh để ngắm những cảnh đó, nếm những món ngon đó đâu, chúng tôi cũng có này, ngay ở đây này."
Bà ta bưng lên cho tôi một đĩa lươn chất cao như núi, con nào con nấy to bằng ngón tay, bọn chúng vẫn chưa chết, đang giãy giụa muốn bơi ra khỏi đĩa của tôi.
Helen nói với tôi có một nhà hàng vừa mới mở cửa, bọn họ cũng có loại lươn này, được xào với dầu sôi và hành lá. Cô ấy muốn rủ mọi người cùng đi nếm thử xem, nhà hàng này rốt cuộc ra sao. Nhưng tôi bảo không, tôi không bao giờ muốn ăn loại lươn đó nữa.
Lưỡi của tôi từ nay về sau không còn phân biệt được mùi vị nữa. Tỉ như món rau cần, tôi không bao giờ ăn nữa. Cả đời tôi thích ăn nhất là rau cần, thế mà bây giờ, hễ ngửi thấy mùi rau cần là tôi lại tự nhủ với bản thân không ăn. Tôi không nhớ nguyên nhân gì khiến tôi không bao giờ thích ăn rau cần nữa, nhưng tại sao lại không thích ăn lươn, thì tôi rõ lắm chứ.
Cậu có biết tại sao lại như vậy không? Tại sao có một số ký ức chỉ đọng lại trên đầu lưỡi cậu, hoặc trên mũi cậu? Tại sao lại có những thứ khác luôn khắc sâu trong tim cậu?