Vào buổi tối hôm Fan đến thăm, Polly ngồi trước lò sưởi với vẻ mặt quyết đoán và trầm ngâm. Cô thả tóc xuống, xắn váy lên, đặt chân lên thanh chắn lò và bế Puttel vào lòng; tất cả những hành động ấy đều cho thấy có một việc rất quan trọng cần phải suy tính và định đoạt. Polly không độc thoại thành tiếng như các nữ anh hùng trên sân khấu hay trong tiểu thuyết vẫn thường làm, nhưng cuộc trò chuyện cô tự diễn ra trong đầu lại đại loại như thế này: “Mình sợ là có chuyện đó thật. Mình đã cố nghĩ rằng đó chỉ là sự kiêu căng hay do tưởng tượng, nhưng mình không thể không nhận ra sự khác biệt, và cảm thấy như mình không nên vờ như không biết. Mình biết người ta cho rằng con gái cứ việc nhắm mắt làm ngơ và để mọi chuyện đi đến hồi kết, dù cho có gây ra bao nhiêu rắc rối đi chăng nữa. Nhưng mình không nghĩ đó là cách đối xử với người khác như mình muốn được đối xử, và việc cho một người đàn ông thấy rằng bạn không yêu anh ta trước khi anh ta hoàn toàn đánh mất trái tim mình có vẻ thành thật hơn nhiều. Mấy đứa bạn cười vào mặt mình khi mình nói thế, và chúng tuyên bố rằng làm vậy là rất khiếm nhã, nhưng mình nhận thấy chúng chẳng ngần ngại gì mà không khinh miệt những ‘đối tượng không đủ tiêu chuẩn’, theo cách gọi của chúng dành cho những chàng trai nghèo, quá trẻ tuổi hoặc kém nổi tiếng. Lúc đó thì chẳng sao cả, nhưng khi một người tử tế xuất hiện thì việc để mặc anh ta tiến đến tận cùng lại trở thành một phần của trò chơi, bất chấp việc các cô gái có quan tâm đến anh ta hay không. Càng nhiều lời cầu hôn thì càng oai. Fan bảo Trix thường hỏi khi về nhà sau những chuyến dã ngoại mùa hè rằng: ‘Cậu bắn được bao nhiêu con chim rồi?’, cứ như đàn ông là gà gô vậy. Chúng ta thật là những sinh vật độc ác! ít ra là một số người trong chúng ta. Không biết tại sao khao khát chinh phục lại được đặt vào trong chúng ta nhỉ? Mẹ bảo phần lớn là do nền giáo dục tồi tệ thời nay, nhưng có những cô gái sinh ra hình như chỉ để chuyên gây rắc rối và dù có sống giữa chốn hoang vu tận cùng họ vẫn xoay sở để làm được điều đó. Mình sợ là mình cũng có chút ít tính đó, và nếu có cơ hội, mình chắc cũng chẳng thua kém gì ai. Mình đã thử và thấy thích nó, và có lẽ đây là hậu quả từ trò vui tối hôm đó.”
Đến đây, Polly ngả người ra sau và ngước nhìn chiếc gương nhỏ treo trên lò sưởi, được đặt ở góc độ phản chiếu khuôn mặt của những người quây quần bên đống lửa. Trong gương, Polly nhìn thấy một cặp mắt biết nói đang nhìn ra từ mái tóc nâu sáng rối bời, đôi má bỗng ửng hồng và lúm đồng tiền hiện lên khi khuôn miệng tươi cười với vẻ ý thức về sức mạnh của bản thân, nửa kiêu hãnh, nửa hổ thẹn, đáng yêu không kém gì điệu bộ điệu đà khi cô vuốt lại những lọn tóc xoay và phẩy nhẹ bàn tay trắng ngần. Trong một phút, cô ngắm nhìn bức tranh dễ chịu ấy trong khi những viอน cảnh về sự lãng mạn và chiến tích thiếu nữ nhảy múa trong đầu, rồi cô lắc tóc che kín mặt và đẩy chiếc ghế ra khỏi tầm nhìn của gương, nói với một giọng pha trộn kỳ lạ giữa sự tự trách và tự mãn: “Ôi, Puttel, Puttel, mình thật ngốc làm sao!”
Puss có vẻ đồng tình với tâm trạng đó bằng một tiếng kêu gừ gừ thật to và cái vẫy đuôi duyên dáng, và Polly quay trở lại với vấn đề vừa bị những nét điệu đà vụn vặt ấy làm cho xao lãng.
“Cứ giả sử điều đó là sự thật đi, rằng anh ấy ngỏ lời, và mình đồng ý! Sẽ làm rùm beng lên biết mấy, và sẽ thú vị làm sao khi thấy nét mặt của mấy đứa bạn khi mọi chuyện vỡ lở! Chúng đều đánh giá rất cao anh ấy vì anh ấy rất khó tính, và hầu như đứa nào cũng sẽ cảm thấy vô cùng hãnh diện nếu được anh ấy thích, dù chúng có chọn cưới anh ấy hay không. Trix đã cố thu hút anh ấy bao nhiêu năm nay mà anh ấy không tài nào chịu nổi, và mình mới vui làm sao! Mình thật là kẻ cay nghiệt. Thôi đành chịu vậy, cô ta cứ làm mình bực mình mãi!” Và Polly véo tai con mèo mạnh đến nỗi Puttel nhảy phắt khỏi đùi cô với vẻ mặt vô cùng phật ý.
“Nghĩ đến cô ta chẳng ích gì, và mình sẽ không nghĩ nữa!” Polly tự nhủ, mím chặt môi với một vẻ mặt nghiêm nghị trông chẳng đẹp mắt chút nào. “Cuộc sống của mình sẽ dễ dàng biết bao: lắm tiền nhiều bạc, vô số bạn bè, đủ mọi thứ niềm vui, không phải làm việc, không nghèo đói, không phải chịu cảnh lạnh nhạt hay giày vá. Mình có thể làm được bao nhiêu điều cho mọi người ở nhà — mình sẽ thích thú biết chừng nào!” Và Polly thả cho suy nghĩ của mình đắm chìm trong tương lai xa hoa mà trí tưởng tượng đang vẽ ra. Đó là một bức tranh rất tươi sáng, nhưng dường như có gì đó không ổn, bởi chẳng mấy chốc cô thở dài và lắc đầu, nghĩ ngợi đầy buồn bã: “À, nhưng mình không yêu anh ấy, và mình sợ rằng mình sẽ không bao giờ có thể yêu như lẽ phải! Anh ấy rất tốt bụng, hào hiệp và khôn ngoan, và chắc chắn sẽ đối xử dịu dàng, nhưng chẳng hiểu sao mình không thể tưởng tượng nổi cảnh sống cả đời với anh ấy; mình rất sợ mình sẽ chán anh ấy, và rồi mình phải làm sao đây? Polly Sydney nghe chẳng thuận tai chút nào, và Mrs. Arthur Sydney có vẻ chẳng hợp với mình chút nào cả. Tự hỏi gọi anh ấy là ‘Arthur’ thì sẽ thế nào nhỉ?” Và Polly nói thầm trong miệng, liếc qua vai để chắc chắn không ai nghe thấy. “Đó là một cái tên đẹp, nhưng có phần hơi kiêu kỳ, và mình sẽ chẳng dám gọi là ‘Syd’ như em gái anh ấy đâu. Mình thích những cái tên ngắn gọn, giản dị, gần gũi như Will, Ned hay Tom. Không, không, mình không bao giờ có thể quan tâm đến anh ấy, và có cố cũng vô ích!” Tiếng kêu thốt lên từ Polly như thể một rắc rối bất ngờ vừa giáng xuống, và áp đầu lên đầu gối, cô ngồi bất động suốt nhiều phút liền.
Khi ngẩng đầu lên, khuôn mặt cô mang một biểu cảm mà chưa ai từng thấy trước đó: nét mặt pha lẫn giữa nỗi đau và sự nhẫn nại, như thể một sự mất mát nào đó đã giáng xuống đời cô và để lại dư vị đắng ngắt của sự hối tiếc.
“Mình sẽ không nghĩ cho bản thân nữa, hay cố sửa chữa một sai lầm bằng cách tạo ra sai lầm khác,” cô thở dài nặng nhọc. “Mình sẽ làm những gì có thể cho Fan, và không đứng giữa cô ấy và cơ hội hạnh phúc. Để xem nào, mình bắt đầu thế nào đây? Mình sẽ không đi dạo cùng anh ấy nữa; mình sẽ lẩn tránh và đi đường vòng để chúng ta không thể chạm mặt. Mình vốn chẳng tin lắm vào sự trùng hợp kỳ lạ là lần nào anh ấy cũng về nhà ăn cơm đúng lúc mình sang dạy học cho mấy đứa nhỏ nhà Roth. Thực tế là mình thích gặp anh ấy, mình rất vui khi được đi cùng anh ấy và ra điều ta đây, dám cá là vậy, đúng là một con ngỗng ngốc nghếch kiêu ngạo. Thôi được, mình sẽ không làm thế nữa, và điều đó sẽ tha cho Fan một nỗi khổ. Tội nghiệp cô bé, chắc suốt thời gian qua mình đã làm cô ấy lo lắng biết bao mà chẳng hề hay biết. Con bé không còn đượcân cần như trước nữa; nhưng khi nó đâm ra cay nghiệt, mình lại tưởng đó là bệnh đau dạ dày. Ôi chao! Ước gì rắc rối kia cũng có thể chữa khỏi dễ dàng như thế này.”
Đến đây, con mèo tỏ vẻ thân thiện muốn tha thứ và quên đi tất cả, và Polly bế nó lên, cất tiếng nói to: “Puttel, khi nào cô chủ mắng mày, hãy cứ xem đó là bệnh đau dạ dày và đừng giữ lòng hờn giận nhé, vì đó là một căn bệnh rất khổ sở đấy, cục cưng ạ.”
Rồi, quay trở lại với những suy nghĩ của mình, cô lại lan man tiếp: “Nếu anh ấy không hiểu ý ngầm đó, mình sẽ đưa ra một dấu hiệu mạnh mẽ hơn, vì mình quyết không để mọi sự đi đến hồi kết, dù mình không thể chối cãi rằng sự kiêu căng độc ác của mình đang cám dỗ mạnh mẽ việc thử ‘bắn một con chim’ chỉ vì sự kích thích và sự oai vệ của nó. Polly, tôi thấy xấu hổ thay cho cô đấy! Người mẹ kính yêu của cô mà nghe thấy những lời lẽ như thế từ cô thì sẽ nói gì nào? Mình sẽ viết thư kể hết mọi nỗi lo lắng cho mẹ, chỉ có điều làm thế chẳng ích gì mà chỉ chuốc thêm phiền muộn cho mẹ thôi. Mình không có quyền tiết lộ bí mật của Fan, và mình cũng thấy xấu hổ không dám kể bí mật của mình. Không, mình sẽ để mẹ được bình yên và tự mình chiến đấu lấy. Mình thực sự nghĩ rằng Fan sẽ là người rất hợp với anh ấy trong tương lai. Anh ấy đã quen biết cô ấy cả đời và có ảnh hưởng tốt đối với cô ấy. Tình yêu sẽ làm được rất nhiều điều để biến cô ấy thành một con người đúng nghĩa; thật tiếc nếu để vuột mất cơ hội chỉ vì anh ấy vô tình gặp mình. Mình cứ nghĩ cô ấy sẽ ghét mình chứ; nhưng mình sẽ chứng minh cho cô ấy thấy là cô ấy không cần phải làm thế, và sẽ làm mọi thứ có thể để giúp cô ấy; vì cô ấy đã đối xử quá tốt với mình, không gì có thể khiến mình quên điều đó. Đây là một nhiệm vụ tế nhị và nguy hiểm, nhưng chắc mình xoay sở được; dù sao thì mình cũng sẽ thử, và sẽ không có gì phải tự trách mình nếu mọi chuyện diễn ra ‘trái ý’.”
Điều mà Polly suy nghĩ khi ngả người ra sau ghế, nhắm nghi mắt và mang vẻ mặt tuyệt vọng, vốn chẳng dính dáng gì đến chúng ta, dù chúng ta có thể cảm thấy mong muốn được biết điều gì đã khiến một giọt nước mắt cứ chầm chậm rưới dưới hàng mi từng chút một rồi lăn xuống lớp lông màu xám của chú mèo Puttel. Phải chăng đó là sự tiếc nuối vì chiến tích mà cô từ bỏ, là sự đồng cảm dành cho người bạn của mình, hay là một sự trào dâng cảm xúc không kìm nã được khi cô đọc một đoạn văn buồn bã hoặc dịu dàng nào đó của cuốn tiểu thuyết nhỏ mà cô cất giấu sâu kín trong trái tim mình?
Vào thứ Hai, Polly bắt đầu “nhiệm vụ tế nhị và nguy hiểm”. Thay vì đến chỗ học trò theo lối công viên và những con phố dễ chịu liền kề, cô đi đường vòng qua những con phố phía sau, và nhờ thế tránh được Mr. Sydney — người, như thường lệ, hôm đó về nhà ăn tỏ ra rất sớm và trông có vẻ thất vọng vì đi mãi chẳng thấy bóng dáng gương chiếc mặt tươi tắn sau chiếc mũ mộc mạc đâu cả. Polly duy trì điều này suốt một tuần, và bằng cách cẩn thận tránh xa ngôi nhà của gia đình Shaw trong những giờ khách khứa thường ghé thăm, cô chẳng hề gặp mặt Mr. Sydney — người dĩ nhiên là không hề ghé thăm cô ở nhà Miss Mills. Minnie tuần đó không được khỏe nên không học buổi nào, thế là Uncle Syd bị tước mất tia hy vọng cuối cùng, và trông cứ như thể khẩu phần ánh nắng mặt trời của anh vừa bị cắt đứt đột ngột.
Giờ đây, vì Polly hoàn toàn không phải là một sinh vật hoàn hảo, tôi xin thẳng thắn thú nhận rằng sự cám dỗ cũ đã tấn công cô không chỉ một lần trong tuần đó; bởi vì khi sự hào hứng ban đầu của cuộc cải cách lẩn trốn đã lắng xuống, cô lại thấy nhớ những buổi gặp gỡ nhỏ dễ chịu từng mang lại một hương vị lãng mạn nhất định cho những ngày làm việc tẻ nhạt, vất vả của mình. Cô rất quý Mr. Sydney, bởi vì anh luôn tử tế và thân thiện kể từ những ngày đầu khi anh đối xử với cô bé nhỏ nhắn bằng sự lịch thiệp mà khi trưởng thành cô vẫn luôn ghi nhớ với lòng biết ơn. Tôi không nghĩ chính sự giàu có, tài năng hay địa vị của anh là điều thu hút Polly nhất, dù những điều đó chắc chắn có sức ảnh hưởng lớn hơn cô tưởng tượng. Chính là cái vẻ không thể diễn tả được mà phụ nữ rất nhanh nhạy nhận ra và cảm nhận ở những người đàn ông may mắn có được những người mẹ khôn ngoan và nhân hậu. Điều này có sức hấp dẫn đặc biệt đối với Polly, vì cô sớm nhận ra rằng khía cạnh này trong tính cách của anh không phải lúc nào cũng thể hiện với tất cả mọi người. Với hầu hết các cô gái, anh cũng giống như những thanh niên khác trong nhóm của mình, ngoại trừ có lẽ là một vẻ duyên dáng trong phong thái vốn tự nhiên như sự tôn trọng của anh dành cho phái đẹp nói chung. Nhưng với Fanny và Polly, anh lại bộc lộ những đức tính và phẩm chất gia đình — những điều hấp dẫn những người phụ nữ truyền thống hơn bất kỳ sự sắc sảo lạnh lùng hay sự từng trải đời thường nào.
Polly đã gặp anh khá nhiều lần trong những chuyến ghé thăm nhà Shaw — nơi anh rất thân thiết nhờ tình bạn giữa bà Madam và mẹ anh; nhưng cô chưa bao giờ coi anh là một người tình tiềm năng cho cả Fanny lẫn chính mình, bởi anh lớn hơn họ sáu, tám tuổi, và đôi khi vẫn ra vẻ một người thầy đáng kính giống như những ngày đầu. Gần đây điều này đã thay đổi, đặc biệt là đối với Polly, và điều đó khiến cô cảm thấy hãnh diện hơn cả những gì cô dám thú nhận với chính mình. Cô biết anh ngưỡng mộ tài năng duy nhất của cô, tôn trọng sự độc lập của cô và thích tận hưởng bầu bạn cùng cô; nhưng khi có gì đó nồng nàn hơn và đáng chiều chuộng hơn sự ngưỡng mộ, tôn trọng hay niềm vui len lỏi vào phong thái của anh, cô không thể không nhận ra rằng một trong những món quà tốt đẹp của cuộc đời này đang ngày càng nằm trong tầm với của mình, và cô bắt đầu tự hỏi liệu mình có thể thành tâm đón nhận món quà ấy và đền đáp người trao tặng hay không.
Ban đầu cô cố nghĩ rằng mình có thể, ngặt nỗi trái tim con người lại vô cùng “trái tính trái nết” đến mức chẳng chịu tuân theo lý trí, ý chí hay thậm chí là lòng biết ơn. Polly cảm thấy một tình bạn vô cùng thắm thiết dành cho Mr. Sydney, nhưng không một chút tình yêu nào — thứ vốn là đồng tiền duy nhất để trả xứng đáng cho tình yêu. Sau đó cô lại nảy ra ý nghĩ rằng mình nên chấp nhận mảnh may mắn này vì lợi ích của gia đình và quên đi bản thân. Nhưng cái ý niệm sai lầm về sự hy sinh bản thân ấy không làm cô thỏa mãn, bởi cô không phải là một tiểu thư thời thượng được huấn luyện để tin rằng nhiệm vụ đầu tiên của mình là tìm “một tấm chồng xứng đáng” và mặc kệ hậu quả, dẫu điều đó có đẩy cô đến chỗ bất hạnh suốt đời đi nữa. Tín điều của Polly rất đơn giản: “Nếu mình không yêu anh ấy, mình không nên kết hôn với anh ấy, nhất là khi mình lại yêu người khác, dẫu cho mọi thứ có chống lại mình đi chăng nữa.” Nếu cô từng đọc nhiều tiểu thuyết Pháp như một vài cô gái trẻ khác, cô có thể đã coi việc kết hôn trong hoàn cảnh đó là một điều thú vị và chịu đựng nỗi thống khổ thầm kín để trở thành một nạn nhân lãng mạn. Nhưng sự giáo dục của Polly vốn đã bị xao lãng, và sau kha khá sự do dự tự nhiên, cô đã làm điều mà hầu hết phụ nữ thường làm trong các trường hợp tương tự: nghĩ rằng mình cứ “chờ xem sao đã”.
Việc phát hiện ra bí mật của Fanny dường như cho cô thấy phải làm gì, bởi nếu quyết định “chờ xem sao” đang làm người bạn của cô đau khổ thì nó phải được thay đổi càng sớm càng tốt. Điều này chấm dứt sự do dự của Polly, và sau đêm đó, cô không bao giờ cho phép bản thân chìm đắm trong sự cám dỗ ngọt ngào từng xuất hiện dưới một vỏ bọc vô cùng hấp dẫn đối với một thiếu nữ có chút máu phóng túng của Eva thuở ban đầu trong con người mình. Thế là ngày qua ngày, cô lê bước qua những con phố phía sau tẻ nhạt, khao khát công viên ngập nắng, gương mặt luôn rạng rỡ mỗi khi nhìn thấy cô đến, và nhất là cơ hội được gặp... ừm, dù sao thì đó cũng chẳng phải Trix.
Khi thứ Bảy đến, Polly lên đường như thường lệ để thăm Becky và Bess, nhưng không thể cưỡng lại việc dừng chân ở nhà Shaw để gửi một bưu phẩm nhỏ cho Fan, dù đó đang là giờ khách khứa qua lại. Khi cô bước vào, định bụng sẽ chạy lên trên lầu chào một câu nếu tình cờ Fanny ở một mình, hai chiếc mũ trên bàn ở tiền sảnh đã chặn bước cô lại.
“Ai ở đây thế, Katy?”
“Chỉ có Mr. Sydney và Master Tom thôi ạ. Miss Polly không ở lại chơi một lát sao?”
“Sáng nay thì không, tôi đang hơi vội.” Và Polly chuồn thẳng như thể có cả tá học trò đang nhao nhao đòi gặp mặt. Nhưng khi cánh cửa khép lại sau lưng, cô cảm thấy trống vắng đến độ khóe mắt cay cay, và khi Nep — chú chó giống Newfoundland to lớn của Tom — lúp xúp chạy theo sau, cô dừng lại ôm lấy cái đầu xù xì của nó, thì thầm khi nhìn vào đôi mắt nâu nhân từ ngập tràn sự đồng cảm gần như mang tính con người: “Thôi, về đi chú cưng, không được theo tao đâu. Ôi Nep, thật khó biết bao khi muốn đẩy tình yêu ra xa lúc mình rất cần nó mà lại không được phép đón nhận.” Một lời nói ngớ ngẩn dành cho một chú chó, nhưng bạn thấy đấy, Polly chỉ là một cô gái đa cảm đang cố gắng làm tròn bổn phận của mình.
“Vì anh ấy đang ở cùng Fanny, chắc mình có thể mạo muội đi dạo bất cứ đâu mình thích. Hôm nay là một ngày tuyệt đẹp, tất cả lũ trẻ đều sẽ ra ngoài, và ngắm nhìn chúng lúc nào cũng làm tôi thấy khá hơn,” Polly nghĩ thung dung bước vào con phố rộng rãi ngập nắng, nơi giới thượng lưu phía Tây thường đi dạo vào giờ đó.
Bọn trẻ ra đường rất đông đúc, trông vui tươi, mong manh và ngọt ngào chẳng kém gì những đóa hoa tuyết điểm, lan dạ hương và thủy tiên mọc trên những triền đất vừa tan tuyết. Nhưng chẳng hiểu sao bọn trẻ lại không mang lại cho Polly hiệu quả tốt đẹp như cô mong đợi, dẫu chúng có mỉm cười với cô từ những chiếc xe đẩy và hôn gió bằng những bàn tay bụ bẫm khi cô đi qua — bởi Polly có gương mặt kiểu mà trẻ con rất yêu mến. Một sinh vật bé xíu mặc đồ nhung xanh đang liếc nhìn đầy tuyệt vọng theo một cậu chủ nhỏ xíu đang đi dạo cùng một cô bé chập chững mặc đồ trắng, trong khi một tiểu quý tộc khác diện đôi bít tất màu tím lộng lẫy đang cố gắng an ninh cho nàng tiểu thư bị bỏ rơi.
“Nắm lấy tay Master Charley đi nào, Miss Mamie, và đi cho ngoan vào, giống như Willy với Flossy ấy,” người vú em bảo.
“Không, không, con muốn đi với Willy cơ, mà nó không cho con đi. Đi ra đi, Tarley, tao không thèm chơi với mày đâu,” cô bé đội mũ xanh thét lên, ném chiếc bịt tai bằng lông chồn xuống đất và nức nở vào chiếc khăn tay bé như hạt mè, có viền ren chỉ không thể làm dịu đi nỗi đau đớn của con bé như cách nó có thể làm với một người lớn tuổi hơn.
“Willy thích Flossy hơn, thế nên đừng khóc nữa và đi ngay mau lên, đứa trẻ hư này.”
Khi cô bé Dido đáng thương bị người vú em vô tâm xách giật đi, và cậu nhóc bít tất tím chưng hửng cố gắng biện hộ trong vô vọng, Polly tự lẩm bẩm với một nụ cười và tiếng thở dài: “Câu chuyện muôn thuở bắt đầu từ khi nào mà sớm thế!”
Dường như tiết trời mùa xuân đã đánh thức mọi thứ dịu dàng ngoài thảm cỏ xanh non và những bông bồ công anh đầu mùa; bởi vì khi đi dọc con phố, Polly liên tục nhìn thấy những khía cạnh khác nhau của câu chuyện ngọt ngào thuở nào mà cô đang cố gắng lãng quên.
Ở một góc phố, một cậu học sinh mắt đen đang chia tay cô học trò má hồng, tay ôm cuộn giấy nhạc mà cậu miễn cưỡng trao lại.
“Đừng có quên đấy nhé,” cậu bé nói, ngượng ngùng nhìn vào đôi mắt sáng rực đang nhảy múa vì vui thích khi cô bé đỏ mặt mỉm cười và trách móc: “Ừ thì đương nhiên là tớ không quên rồi!”
“Mối tình non trẻ ấy vẫn đang trôi chảy suôn sẻ; mong là nó sẽ kéo dài cho đến tận cùng,” Polly chân thành nói khi ngắm nhìn cậu thiếu niên rảo bước đi, huýt sáo vang dội như thể những cảm xúc hân hoan của cậu buộc phải tìm cách thoát ra, bằng không sẽ làm bung mấy chiếc khuy trên chiếc áo khoác ngắn; trong khi cô bé nhảy nhót trên bậc thềm nhà mình, hệt như đang luyện tập cho điệu nhảy vui mừng mà cậu bé đã hứa sẽ không quên.
Cách đó không xa, Polly lướt qua một cặp đôi mới đính hôn mà cô quen biết, tay trong tay bước đi lần đầu tiên, cả hai đều mang vẻ kiêu hãnh xen lẫn ngượng ngùng vốn là điều vô cùng thú vị khi được chiêm ngưỡng trên gương mặt của những sinh vật đang tạm thời được tôn vinh ấy.
“Trông họ hạnh phúc làm sao; ôi trời!” Polly thốt lên, rồi lê bước đi, tự hỏi liệu mai sau tới phiên mình thì có được như thế không và thầm lo sợ điều đó là bất khả thi.
Thoáng thấy một người phụ nữ trông rất phúc hậu bước qua cánh cửa, được chào đón bởi bầy con xinh xắn lao vào lòng mẹ cùng những bọc quà với tiếng kêu thích thú, Polly thấy lòng ấm lại; và chỉ một phút sau, khi cô lướt qua một cặp vợ chồng già tóc bạc phơ đang thong thả sánh bước dưới nắng vàng, cô lại càng cảm thấy dễ chịu hơn, và vui mừng khi thấy một cái kết có hậu như thế cho câu chuyện tình mà cô vừa đọc dọc suốt con phố.
Như thể vị thần nghịch ngợm muốn đặt Polly vào thế yếu, hoặc có lẽ để cho cô thêm một cơ hội nữa, đúng ngay khoảnh khắc ấy, Mr. Sydney xuất hiện bên cạnh cô. Anh đến bằng cách nào thì Polly chẳng bao giờ hiểu nổi, nhưng anh cứ thế đứng đó, mặt hơi ửng đỏ và thở dốc, nhưng trông vui mừng khôn tả khi gặp lại cô đến mức cô chẳng đành lòng tỏ ra lạnh lùng xa cách như dự tính ban đầu khi chạm trán.
“Trời ấm lắm phải không?” anh nói khi đã bắt tay và bước đều nhịp theo cô, hệt như ngày nào.
“Anh thấy vậy mà.” Và Polly cười khúc khích, đôi mắt bỗng lóe lên một tia sáng rực. Cô thực sự chẳng thể kìm được, việc gặp lại anh quá đỗi dễ chịu, nhất là lúc cô đang cảm thấy cô đơn xiết bao.
“Em bỏ dạy nhà Roth rồi à?” Sydney hỏi, chuyển chủ đề.
“Không.”
“Em vẫn đến đó như thường lệ chứ?”
“Vâng.”
“Chà, đúng là một điều bí ẩn với anh khi không hiểu làm thế nào em đến được đó.”
“Cũng bí ẩn hệt như cách anh đột ngột xuất hiện ở đây vậy.”
“Anh thấy em từ cửa sổ nhà Shaw và mạo muội chạy theo em qua con phố phía sau,” anh vừa cười vừa nói.
“Đó chính là cách em đến nhà Roth đấy,” Polly đáp. Cô không định nói ra, nhưng sự bộc trực của anh quá đỗi dễ mến khiến cô quên mất bản thân.
“Nó chẳng hề dễ chịu hay ngắn bằng đi đường công viên.”
“Em biết chứ, nhưng con người ta đôi khi cũng thấy chán những lối đi quen thuộc và thích thử những lối đi mới.”
Polly nói câu đó không hoàn toàn tự nhiên, và Sydney liếc nhìn cô một cách sắc sảo khi hỏi: “Cả những người bạn cũ, em cũng chán luôn sao, Miss Polly?”
“Không hẳn; nhưng...” Và cô khựng lại ở đó, vì nỗi sợ mang tiếng vô ơn hay nhẫn tâm khiến cô gần như hy vọng anh sẽ không hiểu ra dụng ý mà cô đã cẩn thận chuẩn bị cho anh.
Có một khoảng lặng vô cùng đáng sợ, rồi Polly phá vỡ nó bằng câu hỏi cụt lủn: “Fan thế nào rồi anh?”
“Vẫn bốc đồng như mọi khi. Em có biết là anh hơi thất vọng về Fanny không, vì con bé có chịu lớn theo tuổi tác đâu cơ chứ,” Sydney nói, như thể anh chấp nhận sự đổi hướng câu chuyện và lấy làm mừng vì điều đó.
“À, anh chưa bao giờ thấy lúc cô ấy tuyệt vời nhất đâu. Cô ấy cứ làm ra vẻ bốc đồng trước mặt mọi người để che giấu con người thật của mình. Nhưng em hiểu cô ấy hơn; và em đảm bảo với anh là cô ấy có tiến bộ đấy chứ; cô ấy cố sửa chữa những khuyết điểm của mình, dù miệng không thừa nhận, và sẽ có ngày làm anh ngạc nhiên bởi sự sâu sắc, hiểu biết và nhân hậu mà cô ấy có được.”
Lần này Polly nói bằng tất cả sự chân thành, và Sydney nhìn cô như thể người bảo vệ cho Fanny còn làm anh vừa lòng hơn cả bản thân lời bênh vực đó.
“Anh rất vui khi nghe điều đó, và sẵn sàng tin lời em. Ai cũng cho em thấy mặt tốt của họ cả, anh nghĩ thế, và đó là lý do vì sao em thấy thế giới này là một nơi dễ chịu đến vậy.”
“Ôi, nhưng em đâu có thấy thế! Nó thường hiện lên như một nơi rất khắc nghiệt và ảm đạm, còn em thì cứ than vãn về những nỗi truân chuyên của mình như một con quạ vô ơn.”
“Chúng ta có thể làm cho những nỗi truân chuyên ấy nhẹ nhàng hơn với em được không?”
Giọng nói cất lên câu hỏi ấy quá đỗi dịu dàng đến mức Polly không dám ngẩng đầu lên, bởi cô biết đôi mắt kia đang thầm thì những gì.
“Cảm ơn anh, không cần đâu. Em nghĩ mình không phải chịu đựng nhiều khổ ải hơn mức cần thiết cho bản thân đâu, và chúng ta thường hay phạm sai lầm khi cứ cố né tránh rắc rối.”
“Hoặc né tránh con người,” Sydney bồi thêm một câu với giọng điệu làm gương mặt Polly đỏ bừng lên tận chân tóc.
“Công viên trông đáng yêu làm sao,” cô nói trong cơn bối rối tột cùng.
“Ừ, đó là lối đi dạo dễ chịu nhất mà chúng ta có; em không nghĩ thế sao?” anh chàng láu lỉnh hỏi, giăng ra một cái bẫy mà Polly lập tức sập vào.
“Vâng, quả thực là thế! Lúc nào cũng thật sảng khoái đối với em khi được ngắm một chút khung cảnh đồng quê, có thể nói là thế, nhất là vào mùa này.”
Ôi, Polly, Polly, sao lại thốt ra một câu ngốc nghếch đến thế, khi mà bạn vừa cho anh ấy hiểu rằng bạn đã chán cái công viên này cơ mà! Vốn không phải là một kẻ ngốc nghếch hay tự phụ, Sydney đã chắp nối mọi việc lại với nhau, và tính toán đến các chi tiết vụn vặt khác, đến lúc này anh đã đi đến kết luận rằng Polly cũng nghe được những lời bàn tán giống như anh — những lời ghép đôi tên tuổi họ lại với nhau —, rằng cô không thích điều đó và đã cố tỏ cho thấy mình không thích theo cách này. Anh nhạy bén nhận ra dụng ý hơn cô tưởng, và vì vừa kiêu hãnh vừa hào hiệp, anh quyết định giải quyết dứt điểm mọi chuyện ngay lập tức, vì lợi ích của Polly cũng như chính mình. Thế nên, khi cô vừa thốt ra lời nhận xét xuất sắc cuối cùng ấy, anh điềm tĩnh nói, ánh mắt dán chặt vào gương mặt cô: “Anh cũng nghĩ vậy; ơ kìa, anh sắp rời khỏi thành phố có việc trong vài tuần, thế nên em có thể tận hưởng ‘chút khung cảnh đồng quê’ của mình mà không bị anh làm phiền nữa rồi.”
“Làm phiền ư? Ôi, không đâu!” Polly tha thiết kêu lên; rồi khựng lại giữa chừng, chẳng biết phải nói gì để chữa thẹn cho mình. Cô tưởng mình mang đầy tính điệu đà của một cô đào lẳng lơ, và tôi chắc chắn rằng nếu có thời gian và được đào tạo, cô sẽ trở thành một tiểu thư nguy hiểm lắm đây, nhưng giờ thì bản tính cô quá đỗi trong sáng và bộc trực đến mức chẳng thể nói nổi một lời nói dối vô hại cho khéo léo. Sydney thừa biết điều đó, và dù vậy, anh vẫn tận dụng nó bằng cách đột ngột hỏi: “Thành thật mà nói, nếu anh không có mặt ở đây để đám ngồi lê đôi mách bàn tán, chẳng phải em sẽ đi lối cũ và tận hưởng nó thích thú như xưa chứ?”
“Vâng,” Polly buột miệng đáp trước khi kịp ngăn mình lại, và chỉ muốn tự cắn đứt lưỡi vì tội quá ư vô phép. Một khoảng lặng kinh hoàng nữa sắp sửa bao trùm, nhưng đúng lúc đó, một người cưỡi ngựa phi ngang qua với nụ cười và cái gật đầu chào, khiến Polly thốt lên: “Ôi, kìa anh Tom!” với giọng điệu và ánh mắt dập tắt ngay những lời đang chực chờ trên đôi môi Sydney, đồng thời khiến anh đưa tay ra với một ánh mắt làm tim Polly lẫy lừng rồi đau nhói vì thương hại suốt một thời gian dài sau đó, dẫu anh chỉ nói mỗi câu: “Tạm biệt, Polly.”
Anh đã đi mất trước khi cô kịp làm gì ngoài việc ngẩng lên nhìn anh với gương mặt đầy ăn năn, và cô tiếp tục bước đi, cảm nhận rằng người tình đầu tiên và có lẽ là duy nhất mà cô từng có đã đọc được câu trả lời của mình và chấp nhận nó trong thinh lặng. Cô không biết anh còn đọc được gì khác nữa, và tự an ủi bản thân rằng chắc anh không quá quan tâm đến cô, bằng chứng là anh đã chấp nhận sự cự tuyệt đầu tiên một cách nhanh chóng đến thế.
Polly không quay trở lại lối đi dạo yêu thích của mình cho đến khi nghe Minnie báo tin rằng “Uncle” đã thực sự rời khỏi thành phố, và lúc đó cô mới nhận ra rằng chính sự bầu bạn và trò chuyện thân thiện của anh mới là thứ làm cho con đường trở nên thú vị đến vậy xét cho cùng. Cô thở dài trước sự trớ trêu của vạn vật nói chung và than vãn một chút về những nỗi truân chuyên của riêng mình, nhưng nhìn chung thì vượt qua nỗi mất mát tốt hơn cô tưởng, bởi chẳng mấy chốc cô lại có những nỗi buồn của người khác để an ủi, và thứ công việc ấy giúp ích cho một con người nhiều hơn là những dòng nước mắt hối tiếc hay hàng giờ lót dạ trong những lời lãng mạn vẩn vơ.
Cô tránh mặt Fanny một hoặc hai ngày nhưng chẳng thu được kết quả gì, bởi vì cô nàng đó, khi hay tin Sydney đột ngột rời đi, đã không thể đứng ngồi yên cho đến khi khám phá ra nguyên nhân và đường hoàng bước vào phòng Polly vào một buổi chiều khi chập tối là thời điểm lý tưởng cho những tâm sự thân tình.
“Dạo này cậu đang làm gì thế hả?” Fanny hỏi, tựa lưng vào khung cửa khi ánh sáng đang tắt dần nhanh chóng.
“Cứ lúc lắc qua lúc lắc lại như mọi khi thôi. Cậu thì có tin gì mới không?” Polly đáp, cảm thấy sắp có chuyện lớn xảy ra và thỉnh cầu cho nó mau qua quắt đi cho rồi.
“Chẳng có gì đặc biệt. Trix đối xử với Tom tàn nhẫn quá chừng, thế mà anh ấy vẫn chịu đựng như một con cừu non. Tớ bảo anh ấy hãy hủy đính hôn đi cho đỡ khổ sở; nhưng anh ấy không chịu, vì cô ta từng bị phụ bạc một lần và anh ấy nghĩ làm thế thì đê tiện lắm.”
“Biết đâu cô ta lại phụ bạc anh ấy.”
“Tớ cá là cô ta sẽ làm thế, nếu có mối nào khá hơn xuất hiện. Nhưng Trix cũng bắt đầu có tuổi rồi, và tớ chẳng ngạc nhiên nếu cô ta ép anh ấy giữ lời hứa chỉ vì tính bướng bỉnh, nếu chẳng vì lý do gì khác.”
“Tội nghiệp Tom, đúng là một số phận bi thảm!” Polly nói với thứ được cho là một tiếng rên rỉ buồn cười; nhưng nghe bi thảm đến nỗi cô thấy nó chẳng trót lọt chút nào, bèn vội vàng che giấu thất bại bằng một tiếng cười: “Nếu cậu gọi Trix là có tuổi ở tuổi hai mươi ba, thì tất cả chúng ta sẽ ra sao khi chạm mốc hai mươi lăm?” “Hoàn toàn tiêu đời và bị vứt xó. Tớ đã cảm thấy thế rồi đây, vì tớ chẳng nhận được một nửa sự quan tâm như trước nữa, và tối nọ tớ nghe thấy Maud với Grace thắc mắc tại sao mấy mụ già đó ‘không chịu ở nhà cho lành để nhường cơ hội cho chúng nó’.”
“Maudie thế nào rồi?”
“Khá ổn, nhưng nó làm tớ lo lắng vì cái sở thích và quan niệm kỳ quặc của nó. Nó thích vào bếp lúi húi, ghét học hành, và ngay trước mặt nhà Vincent còn tuyên bố rằng nó nghĩ làm một cô bé ăn mày đi xin ăn khắp nơi với cái giỏ trên tay sẽ cực kỳ thú vị vì tha hồ tò mò xem người ta cho gì.”
“Hôm nọ Minnie bảo ước gì nó biến thành một con bồ câu để được lội tõm trong mấy vũng nước mà chẳng phải bận tâm chuyện giày cao su.”
“Nhân tiện, khi nào chú của con bé về thế?” Fanny hỏi, người đã không thể chờ đợi lâu hơn nữa và vui mừng chớp lấy cơ hội mà Polly vừa bày ra.
“Tớ chịu, nào có biết.”
“Cả tớ cũng chẳng thèm quan tâm, đồ máu lạnh.”
“Ơ kìa Fan, ý cậu là sao?”
“Tớ không mù đâu nhé, cậu bạn thân ạ, Tom cũng vậy, và khi một thanh niên cắt đứt một cuộc viếng thăm một cách đột ngột, rồi lao đi đuổi theo một tiểu thư, rồi bị bắt gặp đang nắm tay cô ấy ở góc khuất nhất của công viên, rồi bỗng nhiên xách va li đi du lịch, thì chúng tớ thừa biết ý nghĩa của nó là gì, dẫu cậu có vờ không biết đi chăng nữa.”
“Ai đã bịa ra cái ý tưởng tuyệt vời đó thế nhỉ, tớ rất muốn biết đấy,” Polly vặn lại khi Fanny dừng lời để thở.
“Thôi đừng làm vẻ ra điều nữa, Polly, nói cho tớ nghe xem nào, giống như một người bạn thân đi, anh ấy cầu hôn cậu chưa?”
“Chưa, chưa hề.”
“Cậu không nghĩ là anh ấy có ý đó sao?”
“Tớ không nghĩ là anh ấy sẽ thốt ra nửa lời với tớ đâu.”
“Chà, tớ ngạc nhiên thật đấy!” Và Fanny thở dài nhẹ nhõm như thể một gánh nặng vừa được trút khỏi tâm trí. Rồi cô nói tiếp với một giọng điệu hoàn toàn khác: “Nhưng cậu không yêu anh ấy sao, Polly?”
“Không.”
“Thật chứ?”
“Thật mà, Fan.”
Cả hai im lặng trong một phút, nhưng trái tim của một trong hai người thì đang đập rộn ràng vì vui sướng và bóng tối che giấu đi một gương mặt vô cùng hạnh phúc.
“Cậu không nghĩ là anh ấy thực lòng quan tâm đến cậu sao, cưng?” Fanny hỏi ngay sau đó. “Tớ không có ý tọc mạch đâu, nhưng thực sự tớ nghĩ là anh ấy có.”
“Đó không phải là việc của tớ để nói, nhưng nếu có chuyện đó thật thì đó chỉ là một cảm xúc thoáng qua và anh ấy sẽ sớm quên thôi.”
“Kể cho tớ nghe đầu đuôi đi mà; tớ tò mò lắm, và tớ biết có chuyện gì vừa xảy ra rồi, tớ nghe thấy qua giọng của cậu đấy, ngặt nỗi tớ chẳng nhìn thấy mặt cậu trong bóng tối này.”
“Cậu có nhớ lần chúng mình trò chuyện sau khi đọc một câu chuyện của Miss Edgeworth về việc không nên để những người theo đuổi mình tiến đến màn ngỏ lời nếu mình không yêu họ không?”
“Có chứ.”
“Và các cậu bảo thế là không đúng mực, còn tớ thì bảo dù sao thế cũng là thành thật. Ừ thì, tớ luôn tự nhủ sẽ thử làm thế nếu có cơ hội, và tớ đã làm thật. Nhắc lại nhé, tớ không nói là Mr. Sydney yêu tớ, vì anh ấy chưa từng nói thế, và giờ thì sẽ chẳng bao giờ nói nữa, nhưng tớ đã tưởng tượng rằng anh ấy hơi thích mình và có thể sẽ lún sâu hơn nếu tớ không cho anh ấy thấy làm vậy chẳng ích gì.”
“Và cậu đã làm thế thật á?” Fanny kêu lên đầy phấn khích.
“Tớ chỉ đưa ra một dấu hiệu nhỏ và anh ấy hiểu ngay. Dù gì thì anh ấy cũng có ý định đi từ trước đó rồi, thế nên đừng nghĩ là trái tim anh ấy tan vỡ hay bận tâm đến những lời bàn tán nhảm nhí của người ta. Tớ không thích việc anh ấy cứ hay gặp tớ và đã bày tỏ điều đó bằng cách đi con đường khác. Anh ấy đã hiểu, và vì là một quý tử lịch thiệp, anh ấy không làm rùm beng lên. Tớ dám cá là anh ấy nghĩ tớ là một con ngỗng kiêu ngạo và cười vào mặt tớ vì công sức bỏ ra, giống như Churchill trong ‘Helen’ vậy.”
“Không đâu, anh ấy sẽ không làm thế đâu; anh ấy sẽ thích và tôn trọng cậu vì đã dám làm thế. Nhưng Polly, đó sẽ là một vĩ nghiệp lớn đối với cậu đấy.”
“Tớ không thể bán mình để đổi lấy một cơ ngơi.”
“Ôi Chúa ơi! Ý nghĩ quái quỷ gì thế này!”
“Thì đó là cách nói trắng ra của một nửa những cuộc hôn nhân môn đăng hộ đối của các cậu chứ gì nữa. Tớ là kẻ ‘lập dị’ mà, cậu biết đấy, và thà làm một cô nàng độc thân độc lập dạy đàn suốt quãng đời còn lại thì hơn.”
“À, nhưng cậu sẽ không thế đâu. Cậu sinh ra là để có một tổ ấm hạnh phúc của riêng mình, và tớ hy vọng cậu sẽ đạt được điều đó, Polly thân mến,” Fanny nồng nhiệt nói, cảm thấy biết ơn Polly sâu sắc đến mức cô khó lòng kìm nén được việc muốn thổ lộ hết bí mật của mình ngay lập tức.
“Tớ hy vọng là thế; nhưng tớ nghi ngờ lắm,” Polly đáp với một giọng điệu khiến Fanny tự hỏi liệu cô bạn này có biết nỗi đau tim là gì hay không.
“Có gì đó đang làm phiền cậu phải không Polly, chuyện gì thế? Hãy tâm sự với tớ đi, giống như tớ vẫn làm với cậu vậy,” Fanny dịu dàng nói, bởi mọi sự lạnh lùng mà cô từng cố che giấu trước mặt Polly đều đã tan chảy dưới ánh nắng ấm áp bất ngờ chiếu rọi vào đời cô.
“Cậu lúc nào cũng thế thật sao?” bạn cô hỏi, chồm người về phía trước với một khao khát không thể kìm nén là lấy lại tình cảm và sự tin tưởng thuở nào — thứ quá đỗi quý giá không thể đánh đổi lấy một chút phấn khích ngắn ngủi hay cái danh hão huyền của việc “bắn được một con chim”, mượn theo cách nói tao nhã của Trix. Fanny lúc bấy giờ đã hiểu thấu tâm can, liền lao vào vòng tay Polly và nghẹn ngào thốt lên giữa vô vàn giọt nước mắt biết ơn: “Ôi cậu của tớ! Cậu yêu của tớ ơi! Cậu đã làm tất cả vì tớ phải không?”
Và Polly ôm chặt lấy cô bạn, cất lên giọng nói dịu dàng quen thuộc: “Tớ không định để một người tình chia rẽ đôi bạn thân này đâu, nếu tớ còn có thể cứu vãn được.”