Cô Gái Kiểu Cũ

Lượt đọc: 47 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1
Polly Đến Nơi

❊ ❊ ❊

“Đến giờ ra ga rồi đấy, Tom.”

“Thế thì đi thôi.”

“Ôi, em có đi đâu; trời ẩm ướt thế này tóc tai hỏng hết. Đi ra ngoài vào một ngày thế này thì tóc xoăn thành thẳng tuột mất; mà em lại muốn trông thật bảnh bao khi Polly đến cơ.”

“Anh không định bắt em ra ga đón một cô bé xa lạ một mình đấy chứ?” Tom tròn xoe mắt tỏ vẻ hoảng hốt như thể cô em gái vừa đề nghị cậu hộ tống một người phụ nữ hoang dã ở tận nước Úc vậy.

“Tất nhiên là em định thế rồi. Ra đón con bé là việc của anh chứ còn gì nữa; và nếu anh không phải là một tên gấu cục cằn, thì anh phải thích thú mới đúng chứ.”

“Ừ, thế thì quá đáng thật đấy! Anh cứ tưởng mình phải đi, nhưng em bảo là em cũng đi cơ mà. Còn lâu anh mới thèm bận tâm đến bạn bè của em thêm lần nào nữa nhé! Không đời nào!” Nói rồi Tom vùng vằng đứng dậy khỏi chiếc ghế sô-fa với vẻ mặt đầy quyết tâm phẫn nộ, dẫu cho hiệu ứng oai phong ấy bị giảm đi đôi phần bởi mái tóc rối bù cùng bộ quần áo xộc xệch nói chung.

“Thôi nào, đừng có cáu kỉnh thế; lát nữa Polly về rồi, chị sẽ xin mẹ cho cái tay Ned Miller khó ưa mà em cứ quý mến ấy đến chơi với em nhé,” Fanny dịu dàng dỗ dành, hy vọng sẽ xoa dịu được nỗi bực bội của cậu em trai.

Tom vừa lắc người một cái để chỉnh lại trang phục vừa hầm hừ hỏi: “Con bé đấy ở lại bao lâu?”

“Có lẽ là một hoặc hai tháng. Con bé dễ thương lắm; và chị sẽ cho nó ở lại bao lâu tùy thích chừng nào nó còn vui vẻ.”

“Thế thì nó chẳng ở được lâu đâu, nếu mà em còn can thiệp được,” Tom lầm bầm, vốn coi con gái là một sinh thể vô tích sự vào bậc nhất trên đời. Lũ con trai tuổi mười bốn thường hay nghĩ thế, và có lẽ đó lại là một sự sắp đặt khôn ngoan; bởi vì một khi chúng đã thích lộn nhào, thì vài ba năm sau, khi trở thành “những tên nô lệ ngoan ngoãn của lũ con gái phiền phức ấy,” chúng sẽ có dịp tha hồ tự lộn nhào theo đúng nghĩa bóng.

“Này! Làm sao mà em nhận ra sinh vật ấy được chứ? Em chưa gặp nó bao giờ, và nó cũng có biết mặt em đâu. Fan, chị cũng phải đi cùng em thôi,” cậu vừa nói vừa khựng lại giữa đường ra cửa, bị bất chợt ám ảnh bởi ý nghĩ rợn ngợp rằng mình có thể sẽ phải chào nhầm mấy cô bé xa lạ trước khi tìm đúng người.

“Em tìm dễ dàng ấy mà; chắc là con bé đang đứng ngóng quanh đấy để đợi chúng ta. Chị dám cá là nó sẽ nhận ra anh, dù không có chị ở đấy đi nữa, vì chị đã tả kỹ về anh cho nó nghe rồi.”

“Đoán là nó chẳng nhận ra được đâu,” vừa nói Tom vừa đưa tay vuốt vội mái tóc xoăn và liếc nhanh vào chiếc gương, thầm chắc mẩm rằng cô chị gái đã chẳng mảy may miêu tả đúng sự thật về cậu. Lũ con gái chẳng bao giờ chịu công bằng với bọn con trai cả, chuyện đó thì “bọn mình” thừa biết.

“Đi mau lên đi, kẻo muộn bây giờ; rồi đến lúc đó Polly sẽ nghĩ về chị thế nào đây?” Fanny kêu lên, kèm theo cái húc tay đầy sốT ruột vốn là thứ cực kỳ khiêu khích đối với lòng tự trọng của phái mạnh.

“Nó sẽ nghĩ là chị quan tâm đến mớ tóc xoăn của mình hơn là bạn bè, và nghĩ thế thì cũng chẳng sai tẹo nào đâu.”

Cảm thấy câu nói của mình vừa sắc sảo lại vừa gọn gàng, Tom thong thả bước đi, hoàn toàn thừa biết là đã muộn nhưng nhất quyết không chịu lật đật khi còn đang bị nhìn thấy, dẫu rằng lát nữa cậu sẽ phải chạy hộc hơi để bù lại khoảng thời gian này.

“Nếu em là Tổng thống, em sẽ ra luật nhốt tất cả bọn con trai lại cho đến khi chúng lớn; vì chúng thực sự là lũ nhóc phiền toái nhất trên đời,” Fanny lẩm bet khi dõi theo bóng dáng lững thững của cậu em trai đang thong thả đi xuống phố. Tuy nhiên, có lẽ cô đã phải thay đổi suy nghĩ nếu chịu đi theo sau cậu, bởi vì ngay khi vừa rẽ qua góc phố, toàn bộ dáng vẻ của Tom liền thay đổi hẳn; đôi tay rút khỏi túi quần, cậu ngừng huýt sáo, cài khuy áo khoác, kéo sụp chiếc mũ xuống và bước đi với những sải chân cực kỳ nhanh.

Đoàn tàu vừa cập bến khi cậu tới nhà ga, thở hổn hển như một con ngựa đua và đỏ lựng cả mặt vì gió thổi và vì chạy.

“Chắc con bé sẽ đội một cái mũ gắn chỏm lông và đủ thứ lỉnh kỉnh rườm rà hệt như mọi đứa khác cho mà xem; thế thì làm sao mà mình nhận ra nó cơ chứ? Thật tệ hại hết chỗ nói khi con Fan bắt mình phải đi một mình!” Tom thầm nghĩ khi đứng nhìn dòng người đang túa ra khỏi sảnh nhà ga, cảm thấy khá ngợp trước một rừng các tiểu thư đang đi qua. Vì chẳng có ai ra điều đang tìm kiếm ai, cậu không bắt chuyện với ai cả mà chỉ trừng mắt nhìn từng tốp người mới đến với vẻ mặt của một kẻ tử vì đạo.

“Đích thị là nó rồi,” cậu tự lẩm bẩm khi thoáng thấy một cô bé ăn diện lộng lẫy đang đứng khoanh tay, trên đầu đội một chiếc mũ vô cùng nhỏ xíu vắt vẻo ngay chỏm của một búi tóc giả “chig-non” to đùng, theo cách phát âm của Tom. “Chắc là mình phải nói chuyện với nó thôi, đành liều vậy;” và tự lên dây cót tinh thần cho nhiệm vụ trước mắt, Tom chậm rãi tiến về phía vị tiểu thư có dáng điệu lồng lộng gió ấy, trông cô nàng cứ như bị gió thổi cho quần áo tơi tả cả ra với vô số dải lụa, đường viền nhún, đăng-ten, lọn tóc và lông chim bay phần phật.

“Này, làm ơn cho hỏi, có phải cô tên là Polly Milton không?” Tom ngoan ngoãn cất lời, khựng lại trước vị khách lạ lùng đang đứng giữa gió lộng.

“Không phải đâu,” cô thiếu nữ lạnh lùng đáp lại bằng một cái nhìn trừng trừng khiến cậu chết đứng như Từ Hải.

“Thế quái nào mà con bé lại biến đi đâu mất rồi nhỉ?” Tom gầm gừ, quay đầu bỏ đi với một bụng đầy tức tối. Tiếng bước chân dồn dập ở phía sau lưng khiến cậu kịp quay người lại và nhìn thấy một cô bé có khuôn mặt tươi tắn đang chạy dọc theo sân ga dài, trông có vẻ khá hào hứng với điều đó. Khi cô bé mỉm cười và vẫy vẫy chiếc túi xách về phía mình, cậu liền dừng chân chờ đợi, tự lẩm bẩm trong đầu: “Hừm! Không biết đây có phải là Polly không nhỉ?”

Cô bé tiến đến gần, đưa tay ra với đôi mắt xanh ngập tràn vẻ ngượng ngùng lại vừa tinh nghịch, rồi cất giọng hỏi: “Đây là Tom phải không ạ?”

“Vâng. Sao bạn biết hay vậy?” Và Tom vượt qua thử thách bắt tay một cách tự nhiên đến ngỡ ngàng, chẳng mảy nghĩ ngợi gì nữa.

“À, Fan đã kể là bạn có mái tóc xoăn, chiếc mũi ngộ nghĩnh, lúc nào cũng huýt sáo và đội một chiếc mũ xám kéo sụp xuống tận mắt; thế nên mình nhận ra bạn ngay lập tức.” Và Polly gật đầu chào cậu với thái độ cực kỳ thân thiện, khi đã lịch sự kiềm chế không gọi mái tóc là “màu đỏ,” chiếc mũi là “mũi hếch,” và chiếc mũ là “đồ cổ,” toàn bộ những chi tiết ấy đã được Fanny khắc ghi cẩn thận vào trí nhớ của cô bé.

“Hành lý của bạn đâu?” Tom hỏi, khi được nhắc nhở về bổn phận của mình bằng hành động cô bé đưa chiếc túi xách sang cho cậu — món đồ mà từ nãy đến giờ cậu chẳng thèm ngỏ ý cầm giúp.

“Bố dặn mình không được đợi ai cả, kẻo sẽ lỡ mất chuyến xe hack; thế nên mình đưa thẻ nhận hành lý cho một bác kia rồi, và bác ấy đang mang hòm đồ lại kìa;” rồi Polly bước đi theo món hành lý khiêm tốn duy nhất của mình, theo sau là Tom, người đang cảm thấy hơi chột dạ vì sự vô tâm trong phép lịch sự tối thiểu của bản thân.

“Con bé chẳng ra dáng tiểu thư điệu đà tẹo nào cả, ơn Chúa! Con Fan cũng chẳng thèm bảo với mình là nó xinh xắn cơ chứ. Trông không giống mấy đứa con gái thành phố chút nào, mà cử chỉ cũng chẳng giống nốt,” cậu thầm nghĩ vừa lê bước ở phía sau, vừa thiện cảm ngắm nhìn những lọn tóc nâu cứ nhún nhảy ở phía trước.

Ngay khi cỗ xe ngựa lăn bánh, Polly liền nảymình một cái nho nhỏ trên chiếc ghế đệm có lò xo và cười vang như một đứa trẻ được quà. “Mình rất thích đi trên những chiếc xe hack tẻ đẹp thế này, ngắm nhìn mọi thứ thật xinh xắn và có những phút giây vui vẻ, còn bạn thì sao?” cô bé nói, rồi lập tức thu mình lại ngay phút chót như thể chợt nhớ ra rằng mình đang đi thăm họ hàng.

“Bình thường,” Tom đáp trống không chẳng thèm suy nghĩ, bởi vì thực tế việc bị nhốt chung với cô bé xa lạ bỗng chốc đè nặng lên tâm trí cậu.

“Fan thế nào rồi? Sao cậu ấy không cùng ra đón?” Polly hỏi, cố giữ vẻ mặt nghiêm nghị trong khi đôi mắt vẫn cứ long lanh nhảy múa bất chấp chủ nhân.

“Sợ hỏng mớ tóc xoăn chứ sao;” và Tom mỉm cười, vì sự phản bội trắng trợn này đã giúp cậu tìm lại được cảm giác làm chủ chính mình.

“Cả tôi và bạn đều không ngại thời tiết ẩm ướt nhỉ. Cảm ơn bạn rất nhiều vì đã ra đón và chăm sóc tôi nhé.”

Lời nói của Polly thật tử tế, và Tom cảm nhận rõ điều đó; bởi vì mái tóc đỏ hoe của cậu là một điểm nhạy cảm, và việc đứng cạnh những lọn tóc nâu xinh xắn của Polly dường như làm dịu bớt đi ánh sắc đồng của nó. Hơn nữa, ngoài việc xách chiếc túi đi vài bước, cậu chẳng làm được gì cho cô bé cả thế mà con bé vẫn nói lời cảm ơn. Cậu cảm thấy biết ơn vô cùng, và trong một phút cao hứng, cậu liền chìa ra một nắm đậu phộng, bởi vì trong túi quần của cậu lúc nào cũng sẵn có món quà vặt hấp dẫn này, và người ta có thể lần ra dấu vết của cậu ở bất cứ đâu nhờ vào lớp vỏ đậu hột rơi rớt lại dọc đường.

Vừa làm xong điều đó, cậu chợt nhớ ra rằng Fanny coi những thứ đó là thô tục, và cảm thấy mình đã làm nhục cả gia đình. Thế là cậu liền thụt đầu ra ngoài cửa sổ, giữ nguyên tư thế ấy lâu đến mức Polly phải lên tiếng hỏi xem có chuyện gì không.

“Phì! Ai thèm quan tâm đến một đứa nhà quê nhãi ranh như nó chứ,” Tom nam tính tự nhủ trong lòng; và thế là tâm hồn quậy phá liền trỗi dậy chiếm lĩnh lấy cậu.

“Ông ta hơi say xỉn rồi; nhưng chắc là vẫn đủ sức cầm cương,” cậu thiếu nhi mang tâm địa xấu xa này cất lời với vẻ bình thản đến độ cam chịu.

“Ô kìa! Ông ấy say rượu thật hả? Ôi trời ơi, xuống xe thôi! Ngựa có chứng không đấy? Đoạn đường này dốc quá; anh có nghĩ là an toàn không thế?” tội nghiệp Polly kêu lên, vội thò chiếc mũ hải ly nhỏ xíu ra khỏi khung cửa sổ đang hé mở bên phía mình đến mức làm nó cong vẹo cả đi.

“Có khối người ở quanh đây để cứu chúng ta nếu có chuyện gì xảy ra; nhưng có lẽ sẽ an toàn hơn nếu em ra ngoài ngồi cùng với bác ấy nhỉ;” và gương mặt Tom bừng sáng lên trước sự cứu rỗi quá đỗi xuất sắc và bất ngờ này.

“Ôi, đi đi, nếu anh không sợ! Mẹ sẽ lo lắng lắm nếu có chuyện bất trắc xảy ra với em ở nơi xa xôi thế này!” Polly hoảng hốt kêu lên, vô cùng lo lắng.

“Em đừng lo. Anh sẽ trị lão già ấy và cả bầy ngựa nữa cho mà xem;” vừa mở cửa, Tom vừa tót lên mui xe biến mất tiêu, để mặc cô bé Polly tội nghiệp ngồi run lẩy bẩy bên trong, trong khi cậu ta thì thảnh thơi tận hưởng sự tự do và đậu phộng bên ngoài cùng bác đánh xe già điềm đạm.

Fanny bay sà xuống để chào đón “người thương Polly” của mình, khi Tom dẫn cô bé vào nhà kèm theo lời tuyên bố đầy lịch lãm: “Anh đón nó về rồi đây!” hệt như một tay thợ săn dũng mãnh mang chiến lợi phẩm của mình về nhà. Polly ngay lập tức bị kéo thốc lên lầu; và sau khi nhảy một điệu double-shuffle trên tấm thảm chùi chân, Tom liền lui xuống phòng ăn để bồi bổ lại thể lực đã kiệt quệ của mình bằng nửa tá bánh quy.

“Cậu không mệt lử đi à? Có muốn nằm nghỉ một chút không?” Fanny ngồi bên mép giường trong phòng của Polly, huyên thiên trò chuyện không ngớt trong lúc săm soi từng món đồ trên người bạn.

“Tớ không mệt tí nào cả. Lúc đi tớ thấy rất vui và chẳng gặp rắc rối gì sất, ngoại trừ bác đánh xe say rượu; nhưng may là Tom đã ra ngoài và bắt bác ấy vào khuôn phép, thế nên tớ cũng không sợ lắm,” Polly ngây thơ đáp, vừa cởi bỏ chiếc áo khoác tiện dụng cùng chiếc mũ trơn chẳng có lấy một cọng lông chim.

“Đồ ngốc! Lão ta có say xỉn gì đâu; và Tom chỉ làm thế để chuồn ra ngoài chơi thôi. Nó vốn ghét con gái cay đắng,” Fanny ra chiều hiểu biết nói.

“Thế á? Ơ, tớ lại tưởng bạn ấy rất dễ thương và tốt bụng cơ đấy!” Polly tròn xoe đôi mắt ngạc nhiên thốt lên.

“Nó là một thằng nhóc khủng khiếp đấy, cậu ạ; và nếu cậu còn dính dáng gì đến nó, nó sẽ hành hạ cho cậu chết khiếp. Bọn con trai đứa nào cũng đáng sợ; nhưng nó là đứa tồi tệ nhất mà tớ từng thấy.”

Fanny theo học một ngôi trường thời thượng, nơi các tiểu thư bận rộn tối mặt với tiếng Pháp, tiếng Đức và tiếng Ý đến mức chẳng còn chút thời gian nào để học tiếng Anh cho tử tế. Cảm thấy niềm tin vào cậu thiếu niên ấy bị lung lay dữ dội, Polly thầm quyết định sẽ tránh xa cậu ra, và bèn chuyển chủ đề bằng cách đưa mắt ngắm nhìn căn phòng lớn đẹp đẽ xung quanh rồi thốt lên: “Tuyệt thật đấy! Tớ chưa bao giờ được ngủ trên chiếc giường có rèm che thế này, hay có một chiếc bàn trang điểm đẹp đẽ nhường này.”

“Tớ rất vui vì cậu thích nó; nhưng ơn Chúa, đừng bao giờ nói những câu như thế trước mặt mấy cô bạn khác nhé!” Fanny đáp, thầm ước gì Polly chịu đeo hoa tai hệt như tất cả mọi người.

“Tại sao lại không chứ?” cô bé nhà quê ngây thơ hỏi cô bé thành phố, tự hỏi việc thích những món đồ xinh đẹp của người khác thì có gì là xấu, và cứ thế thắc mắc. “À, họ sẽ cười vào bất cứ thứ gì dù là kỳ quặc nhất, và điều đó chẳng dễ chịu chút nào đâu.” Fanny không nói từ “nhà quê,” nhưng ý cô chính là thế, và Polly cảm thấy không được tự nhiên cho lắm. Thế là cô bé bèn giũ phẳng chiếc tạp dề bằng lụa đen nhỏ xinh của mình với vẻ mặt đăm chiêu, và tự nhủ từ nay sẽ không bao giờ đả động gì đến quê nhà của mình nữa nếu có thể tránh được.

“Tớ hay ốm vặt lắm, mẹ bảo khi nào cậu ở đây thì không cần phải đến trường đều đặn đâu, chỉ cần tới đó hai ba lần một tuần để duy trì môn âm nhạc và tiếng Pháp thôi. Cậu cũng có thể đi cùng nếu thích; bố tớ cho phép đấy. Đi đi, vui lắm đấy!” Fanny hồ hởi nói, khiến bạn mình bất ngờ ngạc nhiên bởi sự gắn bó thái quá đến khó hiểu với trường lớp.

“Tớ sẽ sợ lắm, nhỡ tất cả các bạn đều ăn diện lộng lẫy và hiểu biết nhiều như cậu,” Polly bắt đầu cảm thấy rụt rè khi nghĩ đến viễn cảnh đó.

“Trời ạ, đồ ngốc này! Cậu chẳng phải bận tâm mấy chuyện đó đâu. Tớ sẽ lo cho cậu, diện cho cậu mấy món đồ xịn để cậu trông không bị lạc lõng.”

“Tớ lạc lõng lắm à?” Polly hỏi, bị ấn tượng mạnh bởi từ ấy và thầm mong nó không mang ý nghĩa gì quá tồi tệ.

“Cậu là một cô bé đáng yêu, và xinh xắn hơn rất nhiều so với mùa hè năm ngoái, chỉ có điều là cậu được nuôi dạy khác với chúng tớ; thế nên cách cư xử của cậu không giống với tụi tớ, cậu thấy đấy,” Fanny bắt đầu giải thích, dường như việc này khó khăn hơn cô tưởng.

“Khác ở điểm nào cơ?” Polly lại hỏi, bởi cô vốn thích hiểu rõ ngọn ngành mọi chuyện.

“À, trước hết là cậu ăn mặc giống một đứa trẻ con.”

“Tớ vốn là trẻ con mà; sao lại không được mặc thế chứ?” và Polly bối rối cúi xuống nhìn chiếc áo đầm bằng vải len dạ xanh giản dị, đôi bốt dày dặn cùng mái tóc ngắn củn của mình.

“Cậu đã mười bốn tuổi rồi; và ở độ tuổi này, tụi tớ đều tự coi mình là thiếu nữ cả đấy,” Fanny tiếp lời, đầy kiêu hãnh đưa mắt ngắm nghía búi tóc đồ sộ trên đỉnh đầu, viền tóc xoăn lơ thơ trước trán cùng một lọn tóc bồng bềnh xõa dài sau lưng; đồng thời ngắm nghía bộ trang phục sắc đỏ đen rực rỡ với chiếc thắt lưng to bản, khung váy phồng nhỏ xíu, những chiếc cúc sáng loáng, đăng-ten, hoa vải và đủ thứ diêm dúa không sao kể hết. Trên cổ cô bé đeo một chiếc mặt dây chuyền, đôi hoa tai lúc lắc bên tai, đồng hồ và dây chuyền cài ở thắt lưng, cùng vài chiếc nhẫn đeo trên đôi bàn tay thực sự sẽ sạch sẽ và đẹp hơn rất nhiều nếu được rửa bằng xà phòng và nước.

Ánh mắt Polly liếc từ hình dáng nhỏ bé này sang hình dáng nhỏ bé khác, và cô bé thầm nghĩ rằng chính Fanny mới là kẻ trông kỳ quặc nhất trong hai người; bởi vì Polly sống ở một thị trấn miền quê yên bình và biết rất ít về những mốt thời trang chốn thị thành. Cô thực sự ấn tượng trước sự sang trọng xung quanh mình, vì trước đây cô chưa từng có dịp đến thăm nhà Fanny, hai người vốn chỉ làm quen khi Fanny đến chơi nhà một người bạn sống gần nhà Polly. Nhưng cô bé không để cho sự tương phản giữa mình và Fan làm bản thân bận lòng; chỉ một thoáng sau, cô đã tươi cười và mãn nguyện nói: “Mẹ thích tớ ăn mặc giản dị, và tớ cũng chẳng thấy phiền gì cả. Tớ chẳng biết phải làm thế nào nếu cứ phải diện đồ lồng lộn như cậu đâu. Lúc ngồi xuống, có bao giờ cậu quên vén thắt lưng hay chỉnh lại mấy cái vòng phồng đó không thế?”

Chưa để Fanny kịp trả lời, tiếng thét từ dưới tầng vang lên khiến cả hai giật mình lắng nghe. “Chỉ là con Maud thôi; nó cứ mè nheo suốt cả ngày,” Fanny vừa mở lời thì cũng là lúc cánh cửa bỗng bật mở tung, và một cô bé chừng sáu, bảy tuổi gào khóc xông vào. Con bé khựng lại khi nhìn thấy Polly, trừng mắt nhìn một phút, rồi tiếp tục bài gào thét ngay chỗ vừa bỏ dở, lao thẳng vào lòng Fanny và phẫn nộ kêu lên: “Anh Tom đang cười nhạo em! Bắt anh ấy thôi ngay đi!”

“Em đã làm gì để chọc tức nó thế? Đừng có gào lên thế chứ, làm con bé Polly sợ đấy!” Fan vừa trách vừa lay mạnh người tiểu thiên thần rắc rối để bắt khai ra sự tình.

“Em chỉ bảo là tối qua tụi mình được ăn kem lạnh ở bữa tiệc, thế là anh ấy cười!”

“Kem chứ, đồ ngốc này!” và Fanny lại hùa theo cái thói hư tật xấu của Tom.

“Em mặc kệ! kem lạnh cơ mà; với lại em còn đem hơ ấm nó vào lò sưởi, rồi thế là ngon tuyệt; chỉ có điều là Willy Bliss đã làm đổ nó lên chiếc váy Gabrielle mới tinh của em!” và Maud lại tiếp tục tru tréo thảm thiết về vô vàn tai ương dồn dập đổ xuống đời mình.

“Mau đến chỗ Katy đi! Hôm nay trông em cáu kỉnh hệt như một chú gấu con ấy!” Fanny vừa nói vừa đẩy con bé ra.

“Chị Katy chẳng thèm chơi trò giải trí với em; và em bắt buộc phải được giải trí, bởi vì em đang cáu bẳn; mẹ bảo em thế cơ mà!” Maud nức nở, rõ ràng đang vướng vào ảo tưởng rằng tính hay cáu kỉnh là một thứ bệnh hoạn thú vị nào đó.

“Xuống dưới nhà ăn tối đi; việc đó sẽ giải trí cho em đấy;” Fanny đứng phắt dậy, rũ sạch váy áo hệt như một chú chim trước khi cất cánh bay lên.

Polly thầm cầu mong “thằng nhóc khủng khiếp” ấy sẽ không xuất hiện; nhưng oái oăm thay, cậu ta có mặt ở đó và cứ trừng trừng nhìn cô suốt cả bữa ăn với một vẻ mặt vô cùng khó chịu. Quý ông Shaw, một người đàn ông có vẻ bề ngoài bận rộn, cất lời: “Cháu khỏe chứ, con bé ngoan? Mong là cháu sẽ thấy vui vẻ ở đây;” rồi dường như quên bẵng đi sự hiện diện của cô bé. Quý bà Shaw, một người phụ nữ nhợt nhạt và dễ hoảng sợ, ân cần chào đón vị khách nhỏ tuổi và chu đáo đảm bảo rằng cô không thiếu thứ gì. Cụ bà Shaw, một cụ già trầm tính với chiếc mũ đội đầu uy nghi, vừa nhìn thấy Polly liền thốt lên: “Lạy Chúa tôi! Trông y hệt mẹ nó — một người phụ nữ ngọt ngào — dạo này cô ấy thế nào rồi hả cháu?” và cứ thế nheo mắt soi mói nhìn vị khách mới qua cặp tròng kính, cho đến khi bị kẹp giữa cụ bà và Tom, tội nghiệp Polly mất sạch cả cảm giác ngon miệng.

Fanny huyên thuyên trò chuyện không ngừng như một con ác là, còn Maud thì cứ ngọ nguậy không yên, cho đến khi Tom đề nghị úp chiếc lồng đậy thức ăn lớn lên người con bé, tạo ra một trận lôi đình dữ dội đến mức tiểu thư ương ngạnh này phải bị chị Katy gánh chịu đủ đường bế thốc đi trong tiếng khóc ré lên. Nhìn chung đó là một bữa ăn chẳng mấy dễ chịu chút nào, và Polly cảm thấy vô cùng nhẹ nhõm khi nó kết thúc. Mọi người đều tản ra để làm việc riêng của mình, và sau khi hoàn thành nghĩa vụ tiếp đón khách khứa trong nhà, Fan bị gọi ra chỗ thợ may, để mặc Polly tự tìm cách giải trí trong phòng khách lớn.

Polly mừng rỡ vì được ở một mình trong giây lát; và sau khi ngắm nghía tất cả những món đồ xinh xắn xung quanh, cô bắt đầu bước qua bước lại trên tấm thảm hoa mềm mại, vừa nhẩm hát một mình trong lúc ánh ban mai tắt dần và căn phòng chỉ còn được lấp đầy bởi ánh lửa bập bùng đỏ rực. Bỗng cụ bà chậm rãi bước vào, ngồi xuống chiếc ghế bành và cất lời: “Đó là một giai điệu xưa cũ tuyệt vời; hãy hát nó cho ta nghe đi, cháu yêu. Lâu lắm rồi ta không được nghe lại bài này.” Polly không thích hát trước mặt người lạ, bởi vì cô chưa từng qua trường lớp đào tạo nào ngoại trừ những gì người mẹ bận rộn của cô có thể truyền dạy; nhưng cô được dạy dỗ phải dành sự tôn trọng tuyệt đối cho người lớn tuổi, và chẳng có lý do gì để từ chối, cô liền tiến thẳng đến cây đàn piano và làm theo đúng lời được dặn.

“Đó mới chính là thứ âm nhạc khiến người ta nghe mãi không chán. Hát thêm bài nữa đi cháu,” cụ bà dịu dàng nói khi cô vừa dứt khúc nhạc.

Được khích lệ bởi lời khen ngợi ấy, Polly cất cao giọng hát bằng một chất giọng trong trẻo tươi tắn, đi thẳng vào trái tim người nghe và ngự trị ở đó. Kho tàng âm nhạc của Polly toàn là những giai điệu cổ kính ngọt ngào mà người ta nghe hoài chẳng thấy chán; và những bài hát cô yêu thích là các khúc dân ca Scotland như “Yellow-Haired Laddie,” “Jock o’ Hazeldean,” “Down among the Heather,” và “Birks of Aberfeldie.” Càng hát cô càng thả hồn vào đó nhiều hơn; và khi cô kết thúc bằng khúc “A Health to King Charlie,” cả căn phòng vang lên âm thanh rộn rã được tạo ra từ cây đàn piano lớn và cô thiếu nữ nhỏ nhắn.

“Chúa tôi, bản nhạc nghe sung quá! Xin làm ơn hát lại lần nữa đi,” giọng Tom bỗng vang lên; và cái đầu đỏ quạch của Tom ló dạng thoắt ẩn thoắt hiện phía trên phần tựa lưng cao của chiếc ghế mà cậu ta dùng làm chỗ ẩn nấp.

Điều đó khiến Polly giật mình thon thót, bởi vì cô cứ đinh ninh chẳng có ai nghe mình hát ngoài cụ bà đang thiu thiu ngủ bên lò sưởi. “Tớ không hát nữa đâu; tớ mệt rồi,” cô nói, rồi bỏ đi sang chỗ cụ bà ở căn phòng bên kia. Cái đầu đỏ rực biến mất nhanh như một tia sao băng, bởi vì giọng điệu vừa rồi của Polly kiên quyết lạnh lùng đến thế là cùng.

Cụ bà đưa tay ra, kéo Polly lại gần đầu gối mình và nhìn sâu vào khuôn mặt cô bằng đôi mắt hiền từ đến mức Polly quên bẵng đi chiếc mũ uy nghi để nở nụ cười đầy tin tưởng với bà; bởi vì cô nhận ra rằng những khúc ca giản dị của mình đã làm vui lòng người nghe, và điều đó khiến cô cảm thấy ấm áp trong lòng.

“Cháu đừng bận tâm khi thấy ta cứ nhìn chằm chằm nhé, đứa ngoan của ta,” cụ bà dịu dàng nói, khẽ véo má hồng hào của cô. “Lâu lắm rồi ta chẳng được gặp đứa trẻ nào, ngắm nhìn cháu làm đôi mắt già nua này thấy thật nhẹ nhõm.”

Polly thấy câu nói đó thật lạ lùng, và không kìm được bèn thốt lên: “Chẳng phải Fan và Maud cũng là những đứa trẻ sao ạ?”

“Ôi trời ơi, không đời nào! Không phải những đứa trẻ theo cách gọi của ta. Fan đã ra dáng thiếu nữ được hai năm nay rồi, còn Maud chỉ là một đứa trẻ được chiều chuộng hư hỏng mà thôi. Mẹ cháu quả là một người phụ nữ cực kỳ khôn ngoan, con bé ạ.”

“Thật là một cụ già kỳ cục hết chỗ nói!” Polly thầm nghĩ; nhưng cô vẫn cung kính đáp “Vâng ạ” và lặng lẽ nhìn đống lửa cháy bập bùng.

“Cháu không hiểu ý ta phải không?” cụ bà hỏi, vẫn giữ cằm cô trong tay.

“Dạ thưa không ạ; cháu chưa hiểu lắm.”

“Được rồi, cháu yêu, ta sẽ kể cho cháu nghe. Thời của ta, những đứa trẻ mười bốn, mười lăm tuổi không hề ăn diện theo mốt tối tân; không la cà đến những buổi tiệc tùng bắt chước người lớn tối đa có thể; không sống những cuộc đời ăn không ngồi rồi, hời hợt, thiếu lành mạnh để rồi trở nên thờ ơ, chán chường với đời khi mới tròn hai mươi tuổi. Tụi ta chỉ là những đứa trẻ cho đến tận năm mười tám tuổi; làm lụng và học tập, ăn mặc và vui chơi hệt như những đứa trẻ thực thụ; tôn kính cha mẹ; và quãng đời của tụi ta trên cõi đời này dường như kéo dài hơn nhiều so với bây giờ, theo như ta thấy.”

Cụ bà dường như quên bẵng đi sự hiện diện của Polly ở cuối câu nói; bà cứ ngồi đó vỗ về bàn tay tròn trịa đang nằm gọn trong tay mình, ngẩng đầu nhìn bức chân dung đã phai màu của một ông cụ mặc áo sơ mi xếp ly cầu kỳ và để tóc đuôi sam.

“Đó là cha của cụ phải không ạ?”

“Đúng vậy, cháu yêu; người cha đáng kính của ta. Ta vẫn thường tự tay là những đường diềm áo cho ông cho đến tận ngày ông qua đời; và đồng tiền đầu tiên ta kiếm được là năm đô-la do ông treo giải thưởng cho bất cứ ai trong số sáu cô con gái vá được đường kim mũi chỉ đẹp nhất trên đôi tất lụa của ông.”

“Chắc là cụ tự hào lắm nhỉ!” Polly kêu lên, tì cằm lên đầu gối cụ với vẻ mặt đầy thích thú.

“Đúng thế, và tất cả chúng ta đều học làm bánh mì, học nấu ăn, mặc những chiếc váy chintz nhỏ xinh, tươi vui và khỏe mạnh như những chú mèo con. Tất cả đều sống đến tuổi làm mẹ và làm cha; và ta là người cuối cùng, sang tuổi bảy mươi vào sinh nhật tới đây, cháu yêu ạ, mà vẫn chưa thấy mòn mỏi gì đâu; dẫu cho ái nữ Shaw mới bốn tuổi đã thành bệnh binh rồi.”

“Đó chính là cách con được nuôi dạy, và có lẽ đó là lý do vì sao Fan gọi con là kẻ cổ hủ. Xin cụ hãy kể thêm về cha của cụ đi ạ; con thích nghe lắm,” Polly nói.

“Hãy gọi là ‘cha’. Tụi ta không bao giờ gọi ông là ‘papa’ cả; và nếu có một đứa anh em trai nào dám gọi ông là ‘thống đốc’ theo cái cách lũ con trai hay gọi bây giờ, ta thực sự nghĩ ông sẽ tống cổ nó đi với đúng một xu dính túi.”

Cụ bà cất cao giọng khi nói điều này và gật đầu ra chiều ẩn ý; nhưng một tiếng ngáy khẽ khàng phát ra từ căn phòng bên kia dường như ngầm bảo với bà rằng việc bắn súng về hướng đó chỉ phí hoài đạn dược mà thôi.

Chưa kịp để cụ tiếp lời, Fanny đã bước vào với tin vui động trời rằng Clara Bird vừa mời cả hai đến rạp hát cùng cô ấy ngay trong tối hôm nay, và sẽ qua đón họ lúc bảy giờ. Polly phấn khích tột độ trước màn lao đầu đột ngột vào chốn ăn chơi xa hoa chốn thành thị này, cô bay lượn như một con bướm lạc lối và chẳng mải quan tâm điều gì xảy ra nữa cho đến khi thấy mình ngồi trước tấm màn nhung xanh khổng lồ trong rạp hát rực rỡ ánh đèn. Cụ ông Bird ngồi bên một phía, Fanny ngồi bên phía còn lại, và cả hai đều để mặc cô tự nhiên, điều đó khiến cô vô cùng biết ơn, bởi vì toàn bộ sự chú ý của cô đã bị hút hồn vào khung cảnh hoành tráng xung quanh đến mức chẳng thể cất lời.

Polly chưa từng đi xem kịch mấy lần; và những vở kịch hiếm hoi cô từng xem đều là những câu chuyện cổ tích quen thuộc tuyệt vời, được chuyển thể thành kịch cho phù hợp với khán giả nhỏ tuổi, vừa sinh động, tươi sáng lại tràn ngập những tiếng cười ngây thơ vô hại khiến người xem vui thích chứ không đỏ mặt ngượng ngùng. Đêm hôm ấy, cô được mục sở thị một trong những vở diễn hoành tráng mới nổi đang làm mưa làm gió gần đây, được công chiếu suốt hàng trăm đêm diễn, làm choáng ngợp, kích thích và làm suy đồi tâm hồn khán giả bởi mọi thứ quyến rũ nhất mà trí thông minh Pháp quốc có thể phát minh ra và sự xa hoa vô độ của Mỹ quốc có thể thực hiện. Khỏi cần bận tâm tên của nó là gì, vở diễn vô cùng lộng lẫy, vô cùng thô tục và vô cùng thời thượng; thế nên dĩ nhiên nó được ngợi ca hết lời và ai nấy đều đổ xô đi xem. Lúc đầu, Polly tưởng mình lạc vào xứ sở thần tiên, chỉ nhìn thấy những sinh thể lấp lánh đang nhảy múa và cất tiếng hát trong một thế giới tràn ngập ánh sáng và vẻ đẹp; nhưng chẳng mấy chốc, cô bắt đầu lắng nghe lời bài hát và những đoạn đối thoại, và thế là ảo ảnh tan biến ngay lập tức; bởi vì những ảo ảnh kiều diễm ấy lại cất cao ca khúc da đen, nói tiếng lóng, và hoàn toàn là một vết nhơ đối với những vị yêu tinh cổ điển đáng yêu mà cô hằng biết và yêu quý.

Cô bé của chúng ta quá đỗi ngây thơ để có thể hiểu hết một nửa số câu trò đùa cợt, và thường ngẩn ngơ tự hỏi mọi người đang cười cái gì thế; nhưng khi sự mê hoặc ban đầu lắng xuống, Polly bắt đầu cảm thấy bất an, chắc mẩm rằng mẹ sẽ chẳng đời nào thích cô có mặt ở đây, và thầm ước gì mình đừng đến thì hơn. Mọi thứ dường như ngày càng trở nên tồi tệ hơn khi vở kịch tiếp diễn, bởi vì vị khán giả nhỏ tuổi của chúng ta đang nhanh chóng được khai trí bởi những lời bàn tán xì xầm khắp xung quanh cũng như bởi chính đôi mắt tinh anh và bản năng thiếu nữ của cô. Khi hai mươi bốn cô gái ăn mặc hệt như những tay nái ngựa phi nước đại lên sân khấu, tay quật roi phành phạch, dậm gót đôi bốt cao và nháy mắt đưa tình với khán giả, Polly không hề thấy nó buồn cười tẹo nào mà ngược lại tỏ rõ vẻ ghê tởm, thấy thật nhẹ nhõm khi bọn họ lùi vào trong cánh gà; thế nhưng khi một tốp khác xuất hiện trong bộ trang phục gồm những đôi cánh bằng vải tu-luy và một mảng tua rua vàng chóe quấn quanh vòng eo, tội nghiệp Polly nhà quê không biết phải xoay xở thế nào; vì cô vừa cảm thấy hoảng sợ lại vừa phẫn nộ, chỉ biết dán mắt vào tờ chương trình kịch trong khi đôi má cứ nóng bừng lên từng phút.

“Sao mà mặt cậu đỏ tía tai lên thế kia?” Fanny hỏi khi những nữ thần rừng phấn son lòe loẹt kia biến mất.

“Tớ thấy xấu hổ thay cho mấy cô đó quá,” Polly thì thầm, thở dài một hơi đầy nhẹ nhõm.

“Đồ ngốc nghếch này, ở bên Paris người ta toàn diễn thế, và những điệu nhảy đẹp tuyệt vời đấy chứ. Ban đầu cậu sẽ thấy hơi kỳ cục; nhưng rồi sẽ quen thôi, giống như tớ này.”

“Tớ sẽ không bao giờ bén mảng đến đây lần thứ hai đâu,” Polly kiên quyết tuyên bố; bởi vì bản tính ngây thơ của cô chống lại cái màn trình diễn vốn chỉ mang lại cho cô nhiều cay đắng hơn là niềm vui. Cô nào có hay biết việc “lại quen ngay thôi” như lời Fanny nói dễ dàng đến mức nào; và thật may mắn cho cô vì sự cám dỗ ấy không xuất hiện thường xuyên. Cô không tài nào diễn tả nổi cảm xúc trong lòng; nhưng cô mừng rỡ biết bao khi vở kịch hạ màn và họ an toàn trở về nhà, nơi người bà nhân hậu đang chờ sẵn để giúp họ thoải mái bước lên giường chăn êm nệm ấm.

“Các cháu có một buổi tối vui vẻ chứ?” bà hỏi, nhìn chăm chú vào đôi má ửng hồng vì sốt và đôi mắt đang háo hức của Polly.

“Cháu không muốn tỏ ra mất lịch sự đâu, nhưng thực sự là không ạ,” Polly đáp. “Có vài phân đoạn tuyệt vời thật đấy, nhưng phần lớn thời gian cháu chỉ muốn chuiμπ xuống gầm ghế. Mọi người có vẻ thích thú lắm, nhưng cháu thấy nó chẳng đàng hoàng chút nào.”

Khi Polly trút hết nỗi lòng và nhấn mạnh quan điểm của mình bằng một cú dậm chân quyết đoán của chiếc bốt vừa cởi ra, Fanny liền cười vang và xoay vòng quanh phòng hệt như Mademoiselle Therese, rồi nói: “Polly bị sốc nặng đấy, thưa bà. Mắt con bé to tròn như cái đĩa, mặt đỏ như dải băng thắt lưng của con, và có lúc con tưởng con bé sắp khóc đến nơi rồi cơ. Mấy thứ đó đúng là hơi kỳ quặc thật; nhưng tất nhiên là nó đàng hoàng chứ, nếu không thì toàn bộ hội bạn của chúng con đã chẳng kéo nhau đi xem. Con vừa nghe bà Smythe Perkins nói rằng: ‘Vô cùng cuốn hút; hệt như ở Paris thân yêu vậy’; mà bà ấy từng sống ở nước ngoài; nên chắc chắn là bà ấy biết rõ cái gì ra cái gì rồi.”

“Con mặc kệ bà ấy từng sống ở đâu. Con thừa biết việc trẻ con đi xem những thứ đó là không đàng hoàng, nếu không thì con đã chẳng thấy xấu hổ đến thế!” Polly kiên quyết kêu lên, tuy bối rối nhưng chẳng hề bị thuyết phục, ngay cả khi người đưa ra lời lẽ ấy là bà Smythe Perkins.

“Bà nghĩ cháu đúng, cháu yêu ạ; nhưng cháu lớn lên ở miền quê, và vẫn chưa nhận ra rằng sự đoan trang đã lỗi mốt từ lâu rồi.” Và với một nụ hôn chúc ngủ ngon, bà để Polly chìm vào giấc ngủ với những cơn ác mộng kinh hoàng về cảnh nhảy múa trong trang phục nái ngựa trên một sân khấu lớn; trong khi Tom thì gõ chiếc trống cái to đùng trong dàn nhạc; và tất cả khán giả đều mang khuôn mặt của cha mẹ cô, đang buồn bã nhìn cô với đôi mắt to tròn như cái đĩa và khuôn mặt đỏ lựng như dải băng của Fanny.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.