“Mình thèm đi chơi quá đi mất,” Polly tự lẩm bẩm khi mở cửa sổ vào một buổi sáng nọ, nơi ánh nắng rực rỡ và bầu không khí se lạnh buổi sớm khiến dòng máu trong người cô như rộn lên, đôi mắt lấp lánh tuổi trẻ, sức sống và niềm vui tràn trề. “Chắc chắn mình phải trốn đi đâu đó để xả hơi một bận mới được. Cứ giữ cái nề nếp này hoài thì chịu sao thấu. Giờ thì nên làm gì đây ta?” Vừa rải vụn bánh cho bầy bồ câu vẫn thường ghé đến ăn mỗi ngày, Polly vừa vắt óc tìm kiếm một cách thật thú vị để tự thưởng cho mình, bởi cô đã nén giấu sự hào hứng trong lòng lâu đến mức chúng sắp sủi bọt đến nơi rồi.
“Mình sẽ đi xem ô-pê-ra,” cô bỗng cao hứng tuyên bố với bầy bồ câu. “Biết là tốn kém đấy, nhưng chương trình tuyệt cú mèo, mà mình lại mê âm nhạc thế cơ chứ. Đúng rồi, mình sẽ cố mua hai chiếc vé rẻ nhất có thể, gửi một mảnh giấy cho Will – tội nghiệp thằng bé, nó cũng cần giải khuây như mình vậy – rồi hai đứa sẽ chọn một góc nào đó tận hưởng buổi tối thật vui vẻ, y như cách Charles Lamb và cô em gái từng làm xưa kia.”
Nói đoạn, Pollyập sầm cửa sổ lại khiến đám thực khách nhỏ bé giật mình hoảng hốt, rồi bắt đầu quay cuồng đi lại với vẻ đầy phấn khích, vừa hát hum hum vừa tự nói chuyện một mình như thể chẳng tài nào đứng yên được. Cô khởi hành đến buổi học đầu tiên sớm hơn mọi khi để tranh thủ ghé mua vé. Trong lúc nhét tờ năm đô-la vào ví, cô thầm cầu mong giá vé đừng quá đắt, bởi cô biết tâm trạng mình lúc này chẳng tài nào cưỡng lại được cám dỗ. Thế nhưng, cô đã chẳng phải bận tâm đấu tranh tư tưởng làm gì, vì khi đến nơi, quầy bán vé đã nghẽn cứng bởi những vị khách chen chúc mua cho bằng được, và những gương mặt thất vọng quay đi đã dập tắt mọi hy vọng của Polly.
“Thôi kệ, chả sao cả, mình sẽ đi đâu đó khác, đằng nào thì hôm nay cũng phải quẩy cho tới bến,” cô quả quyết nói, vì nỗi thất vọng hình như chỉ càng làm cơn thèm chơi bời của cô bùng lên dữ dội hơn. Khổ nỗi, các bảng quảng cáo kịch nghệ chẳng có gì hấp dẫn nổi cô, đành ngậm ngùi đến chỗ làm với túi tiền nóng ran và đủ thứ ý tưởng điên rồ lởn vởn trong đầu. Trở về vào giờ trưa, thay vì về nhà ăn cơm, cô ghé vào quán gọi một phần kem, tự cố gắng tỏ ra thật vui vẻ và rộn ràng dẫu chỉ có một mình. Dĩ nhiên là chẳng mấy thành công, và sau một hồi lượn lờ qua các cửa hàng tranh, cô đến dạy đàn cho Maud với cảm giác nặng nề khi phải kìm nén những khao khát của bản thân để trở lại thành một cô giáo dạy nhạc đứng đắn, khuôn phép.
May thay, cô chẳng phải chịu đựng sự giằng xé ấy quá lâu, bởi câu đầu tiên Fanny thốt lên khi gặp cô là: “Cậu đi được chứ?”
“Đi đâu cơ?”
“Cậu không nhận được thư tớ gửi à?”
“Tớ có về nhà ăn trưa đâu.”
“Tom rủ chúng mình tối nay đi xem ô-pê-ra và…” Fan chưa kịp nói hết câu thì Polly đã ré lên vì sung sướng và chắp hai tay lại.
“Đi chứ? Đương nhiên là tớ đi rồi. Cả ngày nay tớ thèm đi phát điên lên được, sáng nay tính mua vé mà không được, cứ bực bội mãi vì chuyện đó, và giờ thì... ôi, tuyệt làm sao!” Polly nhảy cẫng lên vì quá đỗi phấn khích, niềm vui vỡ òa khiến cô chẳng thể nào kìm ném nổi.
“Thế thì cậu cứ sang ăn trà chiều với bọn tớ, rồi mình cùng sửa soạn, rồi thong thả đi cùng Tom – hôm nay ông tướng đang ở tâm trạng cưng chiều hết nấc đấy.”
“Tớ phải chạy tót về nhà lấy đồ đã,” Polly nói, đồng thời quyết định ngay tắp lự là sẽ tậu cho bằng được đôi găng tay đẹp nhất thành phố.
“Cậu cứ diện chiếc áo choàng trắng của tớ và bất cứ phụ kiện nào cậu thích. Tommy vốn thích mấy cô nàng đi cùng phải thật nở mày nở mặt cơ mà,” Fanny nói rồi lui về phòng để ngủ một giấc làm đẹp.
Polly lập tức đổi ý, không mượn chiếc mũ đẹp nhất của Becky như dự tính ban đầu nữa mà quyết định sắm hẳn một cái mới. Trong tâm trạng phấn khích tột độ lúc bấy giờ, chẳng có khoản chi tiêu phung phí nào là quá đáng để tôn vinh sự kiện trọng đại này. Tôi e rằng buổi học của Maud hôm đó đã diễn ra không được suôn sẻ cho lắm, bởi trong đầu Polly lúc này chỉ toàn là mũ mão, găng tay, áo choàng đi ô-pê-ra và quạt giấy, khiến cô bé cứ đàn sai nhịp lỡ phách theo ý thích của mình. Vừa tan học, Polly liền ba chân bốn cẳng chạy đi mua không chỉ đôi găng tay da cừu mà còn cả một khung mũ, một mảnh voan lưới và một bông hồng lụa màu hồng nhạt – thứ đã khiến cô thèm thuồng suốt bao tuần nay qua ô cửa kính của một tiệm nọ. Xong xuôi, cô cắm cổ chạy về nhà, trổ hết mọi ngón nghề và tốc độ của một thợ làm mũ thực thụ.
“Mình đang vung tay quá trán mất thôi, nhưng cơn hứng đã lên thì đành chịu, chắc tuần tới mình phải ăn bánh mì uống nước lọc để bù lại quá. Dù sao thì mình cũng phải trông thật xinh đẹp, vì Tom hiếm khi rủ mình đi chơi nên cậu ấy phải thấy tự hào khi dẫn mình theo chứ. Chỉ một lần này thôi, mình muốn được sống như bao cô gái khác, được vui chơi thỏa thích mà chẳng cần bận tâm đến đúng với sai. Thêm một chiếc nơ hồng để buộc vào đây nữa là xong, kịp lúc để là lại chiếc cổ áo đẹp nhất,” cô lẩm bẩm, vừa dốc ngược mấy chiếc hộp để tìm cho ra chiếc nơ cần thiết trong cái bầu không khí cuống cuồng đầy thích thú mà các thiếu nữ thường trải qua trong những dịp như thế.
Theo ý kiến riêng của tôi, chính những chút loay hoay và chật vật mà mấy đứa con gái nghèo chúng tôi phải trải qua từ trước lại mang đến một hương vị đặc biệt khó tả cho cuộc vui khi nó thực sự bắt đầu. Điều đó giải thích vì sao Polly lại ngập tràn trong tâm trạng ngây ngất đến vậy khi mà sau khi tự tay làm xong chiếc mũ, giặt ủi bộ đồ đẹp nhất, đánh bóng đôi giày bốt và khâu lại chiếc quạt, cuối cùng cô cũng khoác lên mình “chiếc váy lụa đen nhỏ” hệt như nàng Consuelo, rồi kẹp mấy món phụ kiện nhỏ xinh vào túi giấy và rảo bước đến nhà họ Shaw, cố kiềm chế để không nhảy chân sáo trên đường vì trái tim trong ngực cứ chộn rộn niềm vui.
Maud đang chơi một bản nhạc nhảy redowa trên phòng khách, và Polly vừa bước vào phòng đã nhún nhảy với cái vẻ thèm khát được khiêu vũ đến độ Tom – lúc ấy cũng có mặt ở đó – không tài nào cưỡng lại được, liền chộp lấy eo cô và xoay một vòng thật điêu luyện cho đến khi đôi tay Maud mỏi nhừ mới thôi.
“Tuyệt quá! Ôi Tom, cảm ơn cậu nhiều lắm vì đã rủ tớ tối nay. Tớ đang thấy phấn khích y như được tham gia một bữa tiệc tùng linh đình vậy,” Polly thốt lên khi dừng lại, chiếc mũ lủng lẳng trên cổ còn mái tóc thì xù lên như thể vừa đứng trước một trận cuồng phong.
“Tớ cũng thấy thế nên mới nghĩ hay là tụi mình làm một bữa tiệc nhỏ ấm cúng trong nhà cho vui,” Tom nói, vẻ mặt vô cùng thỏa mãn trước sự phấn khích của cô.
“Trix đau à?” Polly hỏi.
“Cậu ấy sang New York một tuần rồi.”
“À, vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm đây mà.”
“Chính xác. Nào, làm thêm một bận nữa đi.”
Thế nhưng, trước khi hai người kịp bắt đầu, cảnh tượng kinh hoàng của một chú chó nhỏ đang lon ton chạy ra khỏi phòng với một gói giấy ngậm trong miệng đã khiến Polly chắp tay thét lên tuyệt vọng: “Mũ của tôi! Ôi, cái mũ của tôi!”
“Đâu? Gì? Cái gì cơ?” Tom ngơ ngác nhìn quanh.
“Con Snip ngậm mất rồi! Cứu với! Cứu mau!”
“Để đấy cho tớ!” Và Tom lao theo với sự hăng hái vượt cả sự cẩn trọng.
Con Snip rõ ràng xem đây là một trò chơi được thiết kế riêng cho nó nên vô cùng khoái chí, cứ thế cắm cổ chạy khắp nhà, lắc lấy lắc để bọc quà quý giá như thể đang vờn một con chuột, mặc cho cậu chủ vừa đuổi theo vừa huýt sáo, khi thì ra lệnh lúc lại dỗ dành trong vô vọng. Polly cuống cuồng chạy theo sau trong nỗi lo lắng tột cùng, còn Maud thì cười đến mức bà Shaw phải sai người xuống xem dưới đó có ai bị lên cơn cuồng phong hysteria hay không. Cuối cùng, một tiếng ẳng thảm thiết vang lên từ tầng dưới đã báo hiệu tên trộm đã bị tóm gọn, và Tom xuất hiện, một tay xách gáy con Snip, tay kia cầm chiếc mũ rách bươm mà Polly hết mực nâng niu.
“Con ranh con này định gặm nát nó thì tớ tóm được. Tớ sợ nó nuốt mất một chiếc găng tay của cậu rồi, tìm hoãi không thấy, còn chiếc này thì cũng tơi tả hết cả đây này,” Tom nói, vừa gỡ chiếc găng tay da cừu ra khỏi cái miệng vẫn còn đang ngoạm chặt một cách lì lợm của con Snip.
“Đáng đời mình lắm,” Polly rên rỉ. “Lẽ ra tớ chẳng việc gì phải tồ tẹt đi mua đôi mới, nhưng tại tớ cứ muốn lộng lẫy hơn thường ngày, và đây là cái giá phải trả cho sự phung phí điên rồ này đây.”
“Còn gì nữa không?” Tom hỏi.
“Mỗi cái cổ tay áo với cổ áo đẹp nhất thôi. Chắc cậu tìm thấy chúng dưới thùng đựng than ấy,” Polly nói với vẻ mặt bình thản của sự tuyệt vọng.
“Lúc chạy qua phòng ăn tớ có thấy mấy món trắng trắng rơi dưới sàn. Maud lên lấy xuống đi, tụi mình sửa sang lại chút là ổn,” Tom vừa nói vừa tống cổ thủ phạm vào kho chứa giày, nơi chú ta ngoan ngoãn cuộn tròn lại và đánh một giấc.
“Chúng chẳng suyuy xuyển gì đâu nhé,” Maud hào hứng tuyên bố khi mang kho báu bị mất tích trở lại.
“Cái mũ của tớ cũng thế, ơn trời là vậy,” Polly nói, tay nâng niu kiểm tra lại món đồ với sự quan tâm tỉ mỉ khiến đôi mắt Tom lấp lánh ý cười.
“Tớ cũng thấy thế, vì trông nó có vẻ là một món đồ nhỏ xinh cực kỳ ‘sành điệu’ đấy chứ,” cậu tán thưởng. Tom có một điểm yếu là rất thích hoa hồng phớt, và có lẽ Polly thừa biết điều đó.
“Tớ sợ nó hơi sặc sỡ quá,” Polly ngập ngừng nhìn lại.
“Đâu có. Trông cứ như đồ cô dâu ấy chứ. Chắc chắn là hợp với cậu rồi. Đội lên xem nào.”
“Có chết tớ cũng không đội lúc tóc tai đang bù xù thế này đâu. Đừng có nhìn tớ cho đến khi tớ chỉn chu hẳn hoi, và cấm không được kể với ai chuyện tớ vừa làm trò khỉ gì nhé. Chắc tối nay tớ bị điên thật rồi,” Polly vừa nói vừa thu gom đống phụ kiện vừa được cứu nguy, chuẩn bị đi tìm Fan.
“Sự điên rồ này hợp với cậu lắm đấy, Polly. Thử phát huy xem sao nhé,” Tom vừa đáp vừa dõi theo bóng cô đang cười vang bước đi, trông còn xinh xắn bội phần trong mớ tóc tai rối bù. “Cứ cho con bé diện lên xem, nó mà lồng lộn lên thì khối kẻ phải điên đảo vì nhan sắc ấy chứ,” Tom thì thầm nói thêm với Maud khi chìu tay ôm lấy eo cô nàng bước vào phòng khách.
Polly nghe thấy hết và lập tức hạ quyết tâm sẽ “lồng lộn và điên đảo” hết mức trong khả năng cho phép, “chỉ vì đêm nay thôi,” cô tự nhủ khi nghếch đầu nhìn qua lan can, lấy làm mãn nguyện khi thấy màn khiêu vũ và cuộc rượt đuổi vừa rồi đã làm bay đi cái dáng vẻ “vừa nguyên hộp” cứng nhắc trên bộ đồ lịch thiệp của Tom.
Tôi vô cùng lấy làm tiếc nếu phải làm tổn thương thị giác và thính giác của những độc giả vốn có ác cảm với những biểu hiện lệch chuẩn tiếng Anh thuần túy thông qua các từ ngữ như trên; thế nhưng, vì đã trót liều lĩnh nhận viết một câu chuyện nhỏ về giới trẻ Mỹ, dành cho giới trẻ Mỹ, tôi cảm thấy có trách nhiệm phải miêu tả những vị “thượng đế” kính mến của mình một cách chân thực nhất trong khả năng hạn hẹp của bản thân. Bằng không, tôi chắc chắn sẽ phải hứng chịu những lời chê bai cay đắng kiểu như: “Ừ thì tôi dám cá là nó rất mực đoan trang nền nếp đấy, nhưng chẳng giống bọn tôi tẹo nào cả,” và đừng hòng mong mỏi đạt được cái vinh dự nhìn thấy bìa cuốn “Một cô gái kiểu cũ” trở thành cuốn bám bụi bẩn nhất trong thư viện.
Mấy người bạn cùng nhau thưởng thức một “tách trà” ấm cúng trên lầu – mà Polly xem là đỉnh cao của sự xa hoa – rồi mỗi người cầm một chiếc gương lên bắt đầu tỉ mẩn tô son trát phấn cho thỏa chí. Sự nghiêm túc mà Polly dành cho việc trang điểm tối hôm đó quả là một cảnh tượng thú vị để chiêm ngưỡng. Đang trong cơn liều lĩnh, cô thả mái tóc xinh xắn ra khỏi những bím tóc thường ngày, buông lơi những lọn xoăn tự nhiên với tất cả vẻ bồng bềnh nâu óng, nhất là mấy lọn tóc xoăn tít tinh nghịch rủ quanh trán và thái dương. Việc ủi ngay ngắn lại chiếc cổ áo và cổ tay áo vừa được giải cứu là một công việc chiếm trọn tâm trí cô. Tương tự là việc dán một miếng băng cá nhân nhỏ xíu ngay bên trái chiếc má lúm đồng tiền nơi cằm – một kiểu làm điệu kỳ cục mà đời nào Polly chịu trưng diện nếu như không có một vết xước gần như vô hình làm cái cớ. Chiếc áo choàng viền lông trắng, cùng với mấy món trang sức phô trương trên mũ trùm đầu, được khoác lên người với vẻ trang nghiêm vừa phải, uyển chuyển xoay qua xoay lại trước gương khi chủ nhân của nó đang luyện dáng đi đúng chuẩn Boston: khủyu tay đẩy về sau, vai ngả về trước, một bước chùng và một bước trượt, thỉnh thoảng đổi điệu bằng một cú nhảy chân sáo nhẹ nhàng. Thế nhưng, đến khoảnh khắc chiếc mũ được đội lên đầu, Polly dường như nín thở cho đến khi nó an vị vững chãi, và bông hồng phớt nở rộ phía trên làn tóc mượt mà tạo nên thứ mà Fanny gọi là “hiệu ứng làm ngây ngất lòng người”. Ở giai đoạn thành công mỹ mãn này, Polly thấy không thể nào cưỡng lại việc mượn thêm một đôi vòng tay bằng vàng và chiếc quạt trắng đính gương nhỏ ở chính giữa của Fanny.
“Tớ có thể nhét chúng vào túi nếu thấy bản thân diện đồ hơi quá đà,” Polly vừa nói vừa bấm khóa đôi vòng tay, nhưng chỉ cần quạt nhẹ một hai cái là cô biết ngay rằng mình sẽ chẳng đời nào chịu tháo chúng ra cho đến khi buổi tối kết thúc bởi vẻ lấp lánh của chúng quá đỗi mê hoặc.
Fanny cũng cho cô mượn thêm một đôi găng tay ba khuy, hoàn thiện nốt sự viên mãn trong lòng cô, và khi Tom cất lời chào bằng vẻ trầm trồ: “Ôi chao chúa đất quỷ thần ơi! Trời ạ, Polly, cậu lộng lẫy quá đấy!”, cô cảm thấy “cuộc vui” của mình thực sự bắt đầu rồi đây.
“Trông Polly có giống một cô dâu xinh đẹp không cơ chứ?” Maud vừa xoay vòng quanh hai cô nàng vừa lẩm bẩm, tự hỏi không biết sau này lớn lên đi xem ô-pê-ra mình nên sắm áo choàng màu xanh hay màu trắng.
“Chuẩn luôn chứ lị! Cho phép anh được gửi lời chúc mừng nhé, phu nhân Sydney,” Tom vừa nói vừa cúi gập người chào theo kiểu đón tiếp hôn lễ, đồng thời liếc Fanny bằng ánh mắt ranh mãnh.
“Câm ngay! Cậu cả gan thật đấy hả?” Polly thét lên, mặt đỏ lựng hơn cả bông hồng trên mũ.
“Nếu tối nay chúng ta định đi xem ô-pê-ra thì có lẽ nên xuất phát thôi, xe ngựa đợi nãy giờ rồi đấy,” Fan điềm đạm lên tiếng, rồi kiêu sa lướt ra khỏi phòng với một dáng vẻ cao ngạo hiếm thấy.
“Cậu không thích thế à, Polly?” Tom vừa đi xuống cầu thang vừa thì thầm hỏi.
“Thích lắm chứ.”
“Quỷ tha ma bắt, thật á?”
“Tớ mê âm nhạc thế cơ mà, sao lại không thích cho được?”
“Tớ đang nói về lão Syd cơ.”
“À, tớ thì không.”
“Cậu nên nhắm lão ta đi là vừa.”
“Để tớ suy nghĩ lại xem sao.”
“Ôi trời, Polly ơi, rồi cậu sẽ ra cái thể thống gì đây?”
“Chắc là ngã nhào xuống đường mất thôi,” Polly đáp khi trượt chân hụt một bước trên bậc thềm. Tom đành ngắt quãng tràng cười để dìu cô an toàn lên chiếc xe ngựa mà Fanny đã ngồi sẵn bên trong.
“Đúng là giàu sang phú quý đây rồi!” Polly tự nhủ khi xe bánh lăn bánh chuyển động, cảm thấy bản thân hệt như nàng Lọ Lem khi chiếc xe bí ngô đưa nàng đến buổi vũ hội đầu tiên, chỉ có điều Polly có tới hai vị hoàng tử để mà để ý, còn nàng Lọ Lem tội nghiệp vào dịp ấy thậm chí còn chẳng có nổi một người. Fanny có vẻ không hứng thú trò chuyện lắm, còn Tom thì cứ huyên thuyên những câu chuyện cười nhảm nhí đến mức Polly phải bảo rằng cô sẽ đình chỉ tai không thèm nghe nữa và quay sang ngâm nga vài đoạn giai điệu ô-pê-ra. Mặc dầu vậy, cô vẫn nghe lọt tai từng chữ một, và tự nhủ sẽ sớm bắt tên này trả giá cho sự hỗn xược của hắn bằng cách cho hắn thấy những gì hắn vừa bỏ lỡ.
Ghế ngồi của họ nằm ở khu vực ban công, và vừa mới ổn định chỗ ngồi xong thì, theo một trong những sự trùng hợp kỳ diệu vẫn thường xảy ra thời trẻ, ông Sydney và Frank Moore – người bạn cũ của Fanny – liền xuất hiện và ngồi ngay ở hàng ghế phía sau họ.
“Ôi cái đồ tiểu nhân! Cậu cố ý phải không?” Polly vừa quay người chào hỏi những người hàng xóm vừa thì thầm khi bắt gặp vẻ mặt láu cá của Tom.
“Tớ xin thề là không nhé. Đó là định luật hấp dẫn, cậu không nhận ra à?”
“Nếu Fan thích thế thì tớ mặc kệ.”
“Trông cậu ấy có vẻ cam chịu đấy chứ.”
Quả thực là thế, bởi cô nàng đang cười nói rôm rả vô cùng vui vẻ với Frank, trong khi Sydney thì đang kín đáo quan sát Polly như thể ông không tài nào hiểu nổi vì sao cái kén xám xịt ban nãy lại có thể lột xác thành một chú bướm trắng xinh đẹp đến thế. Ai nấy đều rõ một điều rằng trang phục đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong cuộc đời của hầu hết phụ nữ, và ngay cả những người lý trí nhất đôi khi cũng phải thừa nhận rằng họ hạnh phúc biết bao khi được mặc một chiếc váy tôn dáng, mái tóc bới gọn gàng, hay chiếc mũ làm nổi bật những đường nét đẹp nhất trên gương mặt và giúp tâm trạng họ phấn chấn hơn. Người ta từng kể rằng một vĩ nhân nọ đã phải lòng người vợ hiền của mình ngay từ cái nhìn đầu tiên khi thấy nàng mặc một chiếc váy muslin trắng với chiếc khăn choàng xanh vắt trên chiếc ghế phía sau. Chiếc váy đã thu hút ánh nhìn của ông, rồi khi dừng lại để ngắm nghía nó, cuộc trò chuyện thông minh của người mặc đã chinh phục trí tuệ ông, và theo thời gian, sự ngọt ngào của người phụ nữ ấy đã chiếm trọn trái tim ông. Tôi nghĩ rằng không phải những bộ cánh đắt đỏ nhất mới là thứ tạo nên sát thương lớn nhất, mà là trang phục nào thể hiện được trọn vẹn nhất gu thẩm mỹ và cá tính riêng của mỗi người. Những người khôn ngoan đều hiểu điều này, và có lẽ tất cả chúng ta đều bị chi phối bởi nó nhiều hơn mức bản thân nhận thức được. Polly không hẳn là quá khôn ngoan, nhưng cô cảm thấy ai nấy xung quanh đều tìm thấy ở cô một sức hút gì đó đặc biệt hơn mọi khi, và cô thầm quy sự săn đón của Tom, sự quan tâm của Sydney cùng ánh mắt ngưỡng mộ không giấu giếm của Frank cho chiếc mũ mới – hoặc đúng hơn là sự kết hợp tuyệt vời giữa vải cashmere, lụa và lông thiên nga – thứ mà, hệt như chiếc áo choàng của lòng bác ái, dường như đã che đi vô số khuyết điểm trong mắt người đời và nâng tầm cô giáo dạy nhạc nhỏ bé lên hàng tiểu thư đài các.
Thỉnh thoảng Polly cũng hay chế giễu kiểu cách này, nhưng tối nay thì cô hoan hỉ đón nhận nó mà không một lời phàn nàn – thực ra là cô tận hưởng nó thì đúng hơn – cô để đôi vòng tay lấp lánh trước mắt bao người, và cảm thấy thật tuyệt vời khi thấy mình trở nên xinh đẹp trong mắt họ. Tuy nhiên, cô đã quên mất một điều: chính tinh thần phấn chấn của bản thân mới là điểm nhấn tuyệt vời nhất cho một khung cảnh mà ai cũng thích ngắm nhìn – một thiếu nữ vui tươi đang tận hưởng niềm vui trọn vẹn bằng cả trái tim. Âm nhạc và ánh sáng, trang phục và bầu không khí đã kích thích Polly và khiến nhiều điều trở nên khả thi mà bình thường cô chẳng bao giờ dám nghĩ tới hay thốt ra. Cô không hề có ý định tán tỉnh ai cả, nhưng không hiểu sao “nó cứ tự nhiên lúng liếng thế” và cô chẳng thể cưỡng lại được, bởi một khi đã trớ trớn bước vào thì thật khó để dừng lại, nhất là khi có Tom cứ ở bên hùa theo kích bác, còn Sydney thì cứ nhìn cô với ánh mắt đầy vẻ quan tâm mới mẻ ấy. Trò tán tỉnh của Polly chỉ là một phiên bản vô cùng nhẹ nhàng đến mức Trix & Co. có lẽ sẽ chẳng thèm công nhận, thế nhưng nó lại cực kỳ hiệu quả đối với một tay mơ, và đêm đó Polly đã ngộ ra sự ma mị của trò chơi này nằm ở đâu, bởi cô cảm thấy như vừa vớ được một năng lực mới toe và đang tập tành sử dụng nó, dẫu biết rằng nó vô cùng nguy hiểm nhưng sức hút chí mạng lại nằm chính ở điểm đó.
Ban đầu Tom chẳng hiểu nổi cô nàng đang giở trò gì, dù cậu thấy sự thay đổi ấy vô cùng hợp mắt và cuối cùng đi đến kết luận rằng Polly đã nghe theo lời khuyên của mình và đang “giăng bẫy để chài lão Syd,” theo cách nói hoa mỹ của cậu. Sydney, vốn là một người đàn ông khiêm nhường, chẳng hề nghĩ ngợi xa xôi đến thế, mà chỉ đơn thuần cảm thấy cô bé Polly nay đã trưởng thành và trở thành một phụ nữ vô cùng quyến rũ. Ông đã quen biết cô kể từ lần viếng thăm đầu tiên và vẫn luôn quý mến đứa trẻ này; mùa đông năm nay, ông đã theo dõi sự thành công trong các kế hoạch của cô và làm hết sức có thể để giúp đỡ, thế nhưng chưa bao giờ ông nghĩ đến chuyện đem lòng yêu Polly cho đến tận đêm hôm đó. Rối trí, ông bắt đầu cảm thấy mình đã đánh giá thấp cô bạn nhỏ; rằng cô là một cô gái rạng rỡ và đáng yêu làm sao, thật tiếc nếu cô không được mãi mãi vui tươi, xinh đẹp và tận hưởng cuộc sống; rằng cô sẽ là một người vợ tuyệt vời cho bất kỳ ai, và có lẽ cũng đã đến lúc nghĩ đến chuyện “ổn định gia thất” như lời cô em gái thường nhắc nhở. Những suy nghĩ đó cứ đến rồi đi trong lúc ông ngắm nhìn bóng dáng màu trắng phía trước, cảm nhận sự mê hoặc của âm nhạc, và thấy mọi người xung quanh sao mà phơi phới, rạng ngời đến thế. Ông đã nghe vở ô-pê-ra này không biết bao nhiêu lần, nhưng chưa bao giờ thấy nó hay đến thế, có lẽ bởi vì chưa bao giờ ông có dịp ngồi gần đến thế với một gương mặt thiếu nữ trong trẻo, nơi những xúc cảm đan xen sinh ra từ âm nhạc và mối tình lãng mạn trên sân khấu hiện lên sống động đến mức không tài nào không đọc thấu chúng. Polly không hề hay biết đó là lý do vì sao ông lại thường xuyên cúi người xuống để thì thầm với cô, bằng một biểu cảm mà cô không hiểu nổi nhưng dù sao thì cũng vô cùng thích thú.
“Đừng có nhắm mắt lại thế chứ, Polly. Đôi mắt cậu tối nay nghịch ngợm lắm đấy, tớ rất thích nhìn chúng,” Tom nói, sau một phút ngẩn ngơ tự hỏi không biết cô có biết hàng mi của mình vừa dài vừa cong đến nhường nào không.
“Tớ có muốn ra vẻ ra điều gì đâu, nhưng âm nhạc truyền tải câu chuyện đạt hơn nhiều so với diễn xuất nên tớ chẳng buồn ngó lên sân khấu phân nửa thời gian ấy chứ,” Polly đáp, thầm mong Tom không nhìn thấy những giọt nước mắt mà cô vừa khéo léo kìm nén.
“Còn tớ thì thích diễn xuất hơn. Âm nhạc thì hay thật đấy, tớ biết, nhưng cứ thấy sao ấy khi đám người cứ chạy quanh rồi tuôn ra những bí mật động trời bằng cái giọng oang oang. Tớ chẳng tài nào quen được.”
“Đó là vì cậu nhiều thực tế hơn lãng mạn đấy thôi. Tớ thì chẳng bận tâm đến mấy chuyện vô lý đó, và chỉ ao ước được chạy lên sân khấu để an ủi cô gái tội nghiệp có trái tim tan vỡ kia kìa,” Polly thở dài nói khi tấm màn hạ xuống khép lại một khung cảnh đầy bi thương.
“Cái quái gì chứ, thằng cha đó đúng là một tên ngốc đần độn khi không nhận ra nàng đang say đắm mình. Ở đời thực thì tụi này không đến nỗi ngu ngơ như thế đâu,” Tom nhận xét với vẻ tự tin thái quá về những vấn đề mà cậu chẳng biết tẹo nào, và cứ thế tuôn ra bằng một sự bộc trực hết chỗ nói.
Một nụ cười kỳ lạ thoáng qua trên môi Polly, cô nâng ống nhòm lên để che đi ánh mắt rồi đáp: “Tớ nghĩ đôi khi các cậu cũng ngốc chẳng kém đâu, chỉ là phụ nữ được dạy cách phải đeo mặt chắc để che đậy, chắc là vì thế.”
“Tớ không đồng tình. Thời buổi này mấy ai còn đeo mặt nạ nữa đâu; ước gì thỉnh thoảng còn vài chiếc để nhìn cho thú vị,” Tom vừa nói vừa nhớ đến mấy cô nàng phúng phính nài nỉ cậu đừng bỏ rơi họ héo úa trên cành cây mẹ.
“Tớ thì không nghĩ thế, nhưng tớ đoán là nó tinh vi hơn khối kẻ tưởng tượng đấy.”
“Cậu thì biết gì về trái tim tan vỡ với mấy kiếp hồng nhan bạc mệnh cơ chứ?” Sydney mỉm cười trước giọng điệu đượm buồn của cô gái.
Polly ngước lên nhìn ông, gương mặt rạng rỡ và lúm đồng tiền lại ẩn hiện khi cô bật cười đáp: “Cũng chẳng biết nhiều lắm đâu; thời của tớ còn chưa tới mà.”
“Tớ không thể tưởng tượng nổi cảnh cậu cứ tha thẩn khắp nơi với mái tóc xõa tung, than khóc vì một kẻ phụ tình vô tâm đâu,” Tom nói.
“Tớ cũng thế. Kiểu đó không phải phong cách của tớ.”
“Không; tiểu thư Polly sẽ để nỗi sầu muộn gặm nhấm đôi má hồng hào rồi vẫn tiếp tục mỉm cười theo kiểu trong tiểu thuyết, hoặc đi tu hành làm nữ tu để chăm sóc gã người yêu vô tình mắc bệnh đậu mùa hay một căn bệnh truyền nhiễm nào đó, rồi chết một cách thanh thản, để lại hắn ta chìm đắm trong sự cắn rứt và muộn màng.”
Polly ném cho Sydney một cái nhìn đầy phẫn nộ khi ông cất giọng mỉa mai chậm rãi khiến cô vô cùng chướng tai, bởi cô cực kỳ ghét bị coi là tuýp người sướt mướt, ủy mị.
“Kiểu đó cũng không phải phong cách của tớ nốt,” cô kiên quyết đáp. “Tớ sẽ cố gắng sống sót qua nó, và nếu không được, tớ sẽ cố để trở nên tốt đẹp hơn nhờ nó. Sự thất vọng chẳng việc gì phải biến một người phụ nữ thành kẻ ngốc.”
“Cũng chẳng biến thành mộtà cô nàng ế chồng nếu cô ấy vừa xinh vừa tốt. Hãy nhớ lấy điều đó, và đừng đem tội lỗi của một tên ngốc trút lên đầu phần còn lại của nhân loại,” Tom bật cười trước sự nghiêm túc của cô.
“Tớ nghĩ tiểu thư Polly không có lấy một chút khả năng nào để rơi vào cả hai vế đó đâu,” Sydney nói thêm với một ánh mắt cho thấy sự giấu giếm vừa qua vẫn chưa thể làm tổn hại đến đôi má hồng hào của Polly tẹo nào.
“Kìa Clara Bird kìa. Tớ mới gặp chị ấy có một lần kể từ khi kết hôn. Trông chị ấy xinh làm sao!” Và Polly lại nép mình sau chiếc ống nhòm to tướng, thỉnh cầu kết thúc câu chuyện có vẻ mang tính cá nhân quá mức này.
“Này nhé, đó là một cô gái đã thử một phương pháp chữa trị khác cho mối tình đơn phương đấy, khác hẳn những cách cậu vừa nhắc đến. Người ta đồn rằng chị ấy từng thích anh trai của Belle. Nhưng anh ta không đáp lại mà bỏ sang Ấn Độ để phá hoại sức khỏe, thế nên Clara đành cưới một gã lớn hơn mình tới hai mươi tuổi và tự an ủi bản thân bằng cách trở thành người phụ nữ ăn mặc đẹp nhất thành phố.”
“Thảo nào,” Polly lẩm bẩm khi cái khoảnh khắc thì thầm dài lê thê của Tom kết thúc.
“Cái gì cơ?”
“Ánh mắt mệt mỏi của chị ấy chứ sao.”
“Tớ có thấy gì đâu,” Tom nói sau một hồi săm soi qua ống nhòm.
“Cậu mà thấy được mới lạ.”
“Tớ hiểu ý cậu rồi. Thời buổi này khối phụ nữ mang ánh mắt đó đấy,” Sydney nói từ phía sau vai Polly.
“Chị ta chán ngấy cái gì cơ chứ? Lão già chồng á?” Tom hỏi.
“Chán cả chính mình nữa,” Polly bổ sung.
“Cậu đọc tiểu thuyết tiếng Pháp rồi phải không, chắc chắn là thế rồi. Mấy nhân vật nữ chính trong đó toàn giở cái thói này ra thôi,” Tom ré lên.
“Tớ chưa đọc cuốn nào hết, nhưng rõ ràng là cậu đọc rồi đấy, chàng trai trẻ ạ, và tốt hơn hết là nên ngừng lại đi.”
“Tớ có thèm đọc mấy thứ đó đâu; đọc chỉ để giữ vốn tiếng Pháp thôi chứ bộ. Mà sao bà cụ non đây lại rành rẽ thế hở?”
“Quan sát đấy, thưa ngài. Tớ thích ngắm nhìn nét mặt người ta, và hiếm khi thấy một gương mặt trưởng thành nào trông thực sự hạnh phúc hoàn toàn.”
“Chuẩn không cần chỉnh luôn Polly ạ; nghĩ lại thì đúng là chẳng mấy khi thấy thật. Tớ chỉ biết có mỗi một người lúc nào cũng ra vẻ thế, và kìa, nó đang lù lù ra đấy.”
“Đâu cơ?” Polly hứng thú hỏi.
“Nhìn thẳng đằng trước mặt mà xem.”
Polly ngoan ngoãn nhìn theo, nhưng tất cả những gì cô thấy chỉ là gương mặt chính mình trong chiếc gương nhỏ gắn trên chiếc quạt mà Tom đang giơ lên và lén nhìn qua với đôi mắt ngập tràn ý cười.
“Trông tớ hạnh phúc lắm à? Thế thì mừng quá,” Và Polly cẩn thận tự ngắm nghía lại mình.
Cả hai anh chàng đều cho rằng đó chỉ là thói vanh vách của con gái và mỉm cười trước sự ngây ngô ấy, nhưng Polly thực ra đang tìm kiếm thứ gì đó sâu sắc hơn cả vẻ bề ngoài và lấy làm mừng khi không tìm thấy nó.
“Triển vọng có vẻ tươi sáng phết nhỉ, hả Polly?”
“Mũ của tớ vẫn thẳng thớm, thế là đủ lắm rồi. Cậu đã từng thấy bức chân dung nào của Beau Brummel chưa?” Polly nhanh nhảu hỏi.
“Chưa.”
“Ờ, thì hắn đang ở ngay trước mặt cậu đấy.” Và xoay ngược chiếc quạt lại, cô trưng ra hình ảnh phản chiếu của chính hắn.
“Còn bức chân dung nào trong phòng triển lãm của cậu nữa không?” Sydney hỏi với giọng điệu như thể rất thích thú tham gia vào tràng trò đùa nhảm nhí này.
“Còn một bức nữa.”
“Cậu gọi nó là gì?”
“Chân dung một quý ông.” Và chiếc gương nhỏ phản chiếu một gương mặt đang vô cùng đắc ý trong vòng hai giây.
“Xin cảm ơn. Thật may là tớ không làm ô danh tên tuổi của mình,” Sydney nói, cúi nhìn đôi mắt xanh biếc đang thầm cảm ơn ông vì vô số những cử chỉ tử tế nhỏ nhặt mà phụ nữ không bao giờ quên.
“Khá lắm Polly, cậu tiến bộ nhanh đấy,” Tom thì thầm, vỗ nhẹ lên đôi găng tay da cừu màu vàng đầy tán thưởng.
“Im đi! Ôi chao, sao mà nóng thế không biết!” Và Polly lườm hắn một cái khiến tâm hồn Tom ngập tràn hân hoan.
“Ra ngoài ăn kem đi, tụi mình vẫn còn thời gian đấy.”
“Fan đang chăm chú thế kia, tớ không nỡ làm phiền chị ấy đâu,” Polly đáp, ngỡ rằng bạn mình đang tận hưởng buổi tối tuyệt vời này y như cô – một sự nhầm lẫn tai hại, bởi thực chất Fan đang cố tỏ ra bất cần đời và dẫu rất thèm quay lại nhập bọn với họ, cô nàng nhất quyết không chịu làm thế trừ khi có kẻ nào đó thể hiện dấu hiệu vắng bóng cô. Tom thì chẳng thèm để tâm, còn Fanny thì cứ tiếp tục huyên thuyên, trong lòng bực bội vì nỗi thất vọng và thắc mắc không hiểu sao Polly lại có thể vô tư và ích kỷ đến thế.
Nhìn những nét kiêu kỳ nho nhỏ mà Polly bày ra quả là một sự thú vị tuyệt vời, bởi cô cảm thấy bản thân lúc này hệt như một ai đó khác và đang diễn một vở kịch. Cô ngả người ra sau như thể đang bị ngột ngạt bởi cái nóng, để mặc cho Sydney quạt mát và đền đáp lại bằng một bông hoa rút ra từ bó hoa cầm tay – những hành động khiến Tom vô cùng thích thú dẫu cho chúng cũng chọc tức cậu đôi chút khi bị đối xử hệt như một người bạn cũ chẳng mấy quan trọng.
“Cứ tiến tới đi Polly; tớ ban phép lành cho cậu đấy,” cậu thì thầm khi tấm màn nhung kéo lên lần nữa.
“Chỉ là một phần của trò chơi thôi, thế nên cái đồ hỗn hào kia cấm được cười nhé,” cô thì thầm đáp lại bằng một giọng điệu chưa từng dùng với Sydney bao giờ.
Tom không mấy thích thú trước sự phân biệt đối xử đó, và từ “đồ hỗn hào” đã làm tổn hại đến phẩm giá của cậu, bởi cậu đã gần hai mươi mốt tuổi và Polly phải dành cho cậu sự tôn trọng nhiều hơn thế. Cùng lúc đó, Sydney lại đang ước gì mình được ở vị trí của Tom – trẻ trung, bảnh bao, và là một người bạn thân thiết đến mức Polly sẵn sàng mắng mỏ, thuyết giảng theo cái cách dễ thương mà cô dành cho Tom; trong khi Polly thì quên bẵng đi cả hai người ngay khi tiếng nhạc cất lên, để mặc họ có dư dả thời gian ngắm nhìn cô và ngẫm nghĩ về bản thân mình.
Trong lúc đứng chờ lối ra khi mọi thứ đã kết thúc, Polly nghe thấy Fan thì thầm với Tom: “Cậu nghĩ Trix sẽ nói gì về chuyện này đây?”
“Chuyện gì cơ?”
“Thì cái thái độ cách cư xử của cậu tối nay chứ sao.”
“Chịu, mà tớ cũng chẳng thèm quan tâm; chỉ là Polly thôi mà.”
“Chính vấn đề nằm ở đó đấy. Chị ấy không tài nào chịu nổi con bé P. đó.”
“Ừm, nhưng tớ thì chịu được; và tớ chẳng thấy lý do gì mình không được phép vui chơi như Trix cả.”
“Cậu cứ vui chơi quá đà đi rồi biết mặt. Polly bắt đầu 'bật chế độ' rồi đấy.”
“Tớ lấy làm mừng, và lão Syd cũng thế.”
“Tớ chỉ nói tốt cho cậu thôi.”
“Đừng có bận tâm đến tớ; ở chỗ khác tớ nghe giảng đạo đủ mệt rồi, nuốt không trôi nữa đâu. Nào, Polly.”
Cô nhận lấy cánh tay cậu chìa ra, nhưng trái tim thì nhói đau và đầy giận dữ, bởi câu nói “Chỉ là Polly thôi mà” đã cứa vào cô sâu sắc. “Cứ như thể mình chẳng phải ai cả, không hề có cảm xúc, và sinh ra chỉ để làm trò vui hay sai vặt cho thiên hạ vậy! Cả Fan và Tom đều nhầm to rồi, để rồi xem Polly này có thực sự 'bật chế độ' hay không,” cô phẫn uất nghĩ. “Tại sao mình lại không được phép vui vẻ như những người khác chứ? Hơn nữa, cũng chỉ là Tom thôi mà,” cô bổ sung bằng một nụ cười chua chát khi nghĩ đến Trix.
“Cậu mệt rồi à, Polly?” Tom cúi xuống nhìn thẳng vào mặt cô hỏi.
“Ừ, mệt vì chẳng là ai cả.”
“Ớ, cậu không phải là không ai cả đâu, cậu là Polly cơ mà, có cố gắng đến mấy cũng chẳng thay đổi được đâu,” Tom ấm áp đáp, vì thực sự cậu rất quý Polly, và khoảnh khắc ấy cảm giác đó càng dâng trào mạnh mẽ.
“Dù sao thì tớ cũng rất mừng vì cậu nghĩ thế. Được người ta quý mến thật là dễ chịu biết bao.” Và cô ngước lên, gương mặt bừng sáng trở lại.
“Tớ vẫn luôn quý cậu mà, bộ cậu không biết à, kể từ chuyến viếng thăm đầu tiên cơ.”
“Nhưng cậu vẫn trêu chọc tớ một cách tàn nhẫn đấy thôi.”
“Thì đúng thế, nhưng giờ tớ có thế nữa đâu.”
Polly không đáp, và Tom bèn hỏi với vẻ lo lắng hơn mức cần thiết: “Có phải thế không, Polly?”
“Không phải theo cái cách đó đâu, Tom,” cô trả lời bằng một giọng nghe có vẻ không tự nhiên cho lắm.
“Được rồi, tớ sẽ không bao giờ thế nữa.”
“Ừ, cậu sẽ thế thôi, chẳng tránh được đâu.” Và ánh mắt Polly lướt qua Sydney – người đang đi phía trước cùng Fan.
Tom bật cười, siết chặt Polly hơn khi dòng người chen lấn, vừa nói với vẻ chiều chuộng giả lả: “Cô nàng này không thích bị trêu chọc về mấy anh người yêu à? Được rồi, tớ sẽ không chọc nữa nếu có thể. Tội nghiệp chưa, có phải cái mũ xinh xắn bị đập bẹp dí và cơn giận hờn nổi lên cùng lúc không nào?”
Polly không nhịn được cười, và mặc cho đám đông chen chúc, cô vẫn tận hưởng quãng đường đi chậm chạp từ ghế ngồi ra xe ngựa, bởi Tom chăm sóc cô chu đáo đến mức cô thấy hơi tiếc khi mọi thứ kết thúc.
Về đến nhà, họ cùng nhau thưởng thức một bữa ăn nhẹ vui vẻ, và Polly đã trổ tài biểu diễn một vở ô-pê-ra nhại lại khiến khán giả cười ngất, bởi tinh thần cô đã phấn chấn trở lại và cô quyết định tận hưởng nốt giọt vui cuối cùng trước khi quay về với cuộc sống tẻ nhạt thường nhật.
“Tớ đã có một buổi tối tuyệt cú mèo, cảm ơn các cậu nhiều lắm nhé,” cô nói trong lúc hai bên trao nhau lời “chúc ngủ ngon”.
“Tớ cũng vậy. Ngày mai lại đi tiếp nhé,” Tom nói, níu lấy bàn tay mà cậu vừa phụ gỡ chiếc găng tay cứng đầu ra.
“Đừng hòng có lần sau nhé, xin tạ từ. Vui quá trớn thế này sớm muộn gì cũng hỏng người mất thôi,” Polly lắc đầu đáp.
“Tớ không tin đâu. Chúc ngủ ngon nhé, ‘nàng thơ Milton ngọt ngào’ như cách gọi của lão Syd. Ngủ ngon như thiên thần và đừng có mơ thấy – tớ quên mất, không được phép trêu chọc nhỉ.” Và Tom cúi chào theo kiểu kịch nghệ rồi chuồn thẳng.
“Thế là mọi chuyện đã chấm hết,” Polly tự nhủ khi thiếp đi sau một đêm trằn trọc thao thức. Thế nhưng mọi chuyện chưa dừng lại ở đó, và trò vui của Polly đã ngốn một cái giá đắt hơn cả tiền mua găng tay hay mũ mão, bởi một khi đã nếm thử trái cấm, cô buộc phải gánh chịu hình phạt. Cô chỉ cốt muốn có một đêm vui vẻ, và chuyện đó chẳng có gì là xấu cả, ngặt một nỗi cô đã trót mềm lòng trước vô vàn cám dỗ nhỏ nhặt bủa vây các thiếu nữ xinh đẹp để rồi gây ra rắc rối cho người khác nhiều hơn cho chính mình. Tình bạn của Fanny trở nên nguội lạnh sau đêm đó; Tom cứ ước gì Trix được một nửa sự vừa vặn như Polly, và ông Sydney bắt đầu xây những lâu đài cát chẳng có lấy một chiếc móng vững bền.