Thê Tử Của Táo Thần

Lượt đọc: 66 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
Con Cá Để Ba Ngày

❊ ❊ ❊

Helen luôn cho rằng tất cả những quyết định cô ấy đưa ra đều đúng, thực ra, cô ấy chỉ gặp may mắn mà thôi. Hơn năm mươi năm nay, tôi tận mắt chứng kiến những ý nghĩ ngu ngốc của cô ấy cuối cùng lại biến thành vận may của cô ấy. Giống như bữa trưa hôm qua vậy, cô ấy bảo tôi, "Winnie, ăn thêm chút thịt gà đi." Tôi bảo cô ấy rằng tôi không muốn ăn đồ thừa lại từ đám tang — đã tròn năm ngày rồi. Thế là chúng tôi đến siêu thị Lucky xem có đồ tươi sống nào mua về ăn tối không.

Helen chọn một con cá dẹt từ thùng hàng giá rẻ, cô ấy gọi nó là cá béo, chỉ một đồng sáu mươi chín xu một pao.

Tôi nói, "Cậu đừng có ham rẻ, nhìn mắt cá xem, đều lật trắng lên rồi, con cá này đã để ba ngày rồi đấy."

Thế mà Helen trừng mắt nhìn mắt cá một lúc, bảo rằng cô ấy không thấy có vấn đề gì. Thế là tôi nhặt con cá lên, cảm thấy thân thể nó mềm nhũn trượt qua kẽ tay tôi, một con cá đã chết từ lâu lắm rồi. Helen lại bảo đây là một dấu hiệu — một con cá sống vừa tươi vừa ngon!

Thế là tôi đặc biệt ngửi thử một cái. Tôi bảo cô ấy, vị ngọt trong thịt con cá này đã ngấm qua lớp biểu bì, gặp không khí liền biến thành mùi chua thối. Cô ấy mang cá lại gần mũi ngửi ngửi rồi nói, "Đây là mùi của cá béo tươi ngon."

Cô ấy đã mua con cá để ba ngày này về, dùng cho bữa tối mà tôi ăn ở nhà cô ấy ngày hôm qua. Cô ấy vừa dọn cá lên bàn, chồng cô ấy liền lật đầu cá ra, dùng miệng mút lấy, liên mồm khen ngon. Sau đó con trai họ là Frank cũng nuốt luôn nửa cái đầu cá còn lại vào bụng. Helen chọn một miếng thịt nhỏ gần đuôi cá, đó là phần nạc nhất, chép chép môi nói rằng cô ấy hấp vừa đúng độ lửa, không già không non. Rồi cô ấy nhìn vào bát của tôi, sao không có cá mà chỉ có cơm trắng, thế là lại giơ đũa lên, lần này gắp miếng béo nhất ở gần phần bụng đặt lên bát cơm của tôi.

"Winnie, đừng khách sáo chứ." Cô ấy trách tôi. Thế là tôi đành phải vì khách sáo mà ăn con cá của cô ấy.

Tôi nói cho cậu biết, con cá này suýt làm tôi phát điên, nó vừa ngọt vừa mềm, chỉ có một đồng sáu mươi chín xu một pao. Ban đầu tôi còn tưởng Helen sẽ quay lại siêu thị Lucky đổi một con cá khác về, nhưng tôi nghĩ lại, Helen nào có tinh khôn đến thế. Lúc đó tôi liền nhớ tới một vài chuyện, cho dù Helen không tinh khôn như vậy, cho dù cô ấy sinh ra không nghèo đến thế, cho dù cô ấy từ trước tới nay chưa từng xinh đẹp, vận may của cô ấy vẫn cứ đầy ắp cả mâm, thậm chí còn rỉ ra từ cái miệng của con cá để ba ngày này.

Tôi không giống cô ấy. Tôi sinh ra vốn gặp may, nhưng hết năm này qua năm khác, vận may của tôi — giống như nhan sắc của tôi vậy, đã cạn sạch, rồi lại khắc lên mặt tôi rất nhiều nếp nhăn, thế nên tôi không thể quên được.

Tôi không thể giải thích tất cả những điều này, những thay đổi trong cuộc đời tôi đã xảy ra như thế nào? Nếu tôi muốn kể lại tất cả những gì đã xảy ra, câu chuyện của tôi sẽ không chảy từ đầu đến cuối giống như một dòng sông, mọi chuyện đều liên quan mật thiết với nhau, giống như hồ nước đối với biển cả vậy. Nếu cuộc đời tôi cứ như thế này, chuyện nọ nối tiếp chuyện kia, thì tôi có thể quay đầu nhìn lại, tôi có thể đúc rút những bài học từ cuộc sống của mình: số phận mà tôi phải chịu đựng, những lựa chọn mà tôi đã đưa ra, những sai lầm mà tôi đã phạm phải, nếu vậy, tôi vẫn còn cơ hội thay đổi số phận của mình.

Helen luôn miệng nói với tôi, "Cậu cứ nghĩ mãi đến chuyện quá khứ làm gì? Hối hận vô ích, cậu không thể thay đổi được quá khứ." Cô ấy không nhớ rằng, vì rất nhiều lý do, cô ấy và tôi đã có rất nhiều lần thay đổi quá khứ. Cô ấy thường xuyên thay đổi quá khứ vì tôi, nhưng chính cô ấy cũng không biết bản thân mình đã làm những gì.

Chuyện này giống như con cá béo mà Helen mua vậy, lúc này nó đang bơi vào trong ký ức của tôi. Bởi vì nhiều năm về trước, tôi từng mua một con cá đặc biệt cho chồng tôi, cho Jimmy Louis. À, tôi yêu anh ấy biết bao! Con cá mà tôi nhìn thấy lúc đó, sáng sớm vừa được đánh bắt từ biển lên, thế nên nó vẫn còn đang tức tối, bơi lội trong chiếc chậu sắt lớn. Những chiếc vảy màu cam đỏ trên người nó lấp lánh ánh sáng, khi nó lắc đầu quẫy đuôi bơi vòng tròn trong chậu nước nhỏ, những chiếc vảy trên người nó biến thành màu vàng trắng. Tôi bảo người bán cá đừng dùng báo gói con cá sống này lại, phải dùng giấy trắng sạch. Khi tôi đặt con cá lên xe chuẩn bị mang về nhà, tôi thực sự cảm thấy vô cùng tự hào, tôi cảm thấy nó đang nhảy nhót tưng bừng, tôi tưởng tượng ra mùi vị của con cá này trong miệng Jimmy, chồng tôi sẽ biết đây là một con cá đặc biệt, một con cá may mắn, tôi có tin vui muốn nói với anh ấy.

Tôi nói cho cậu biết, con cá này chưa từng ngừng phản kháng, trước khi tôi mổ nó, mang của nó vẫn phập phồng, thổi ra từng cái bọt từ trong miệng, để cho tôi hiểu rằng đây chính là độc dược của nó. Thậm chí ngay cả sau khi tôi đã lấy ruột của nó ra, nó vẫn nhảy vung lên từ trong chậu, rơi xuống sàn nhà, lăn lộn khắp nơi, cho đến khi tôi dùng búa đập chết nó. Sau khi tôi luộc chín nó, nó vẫn tìm cách phản kháng tôi. Jimmy vừa ăn một miếng, liền bị một chiếc xương cá mắc nghẹn ở cổ họng, chiếc xương ấy cắm rễ ngay trong cổ họng anh ấy, thế nên mỗi lần nuốt xuống, anh ấy đều cảm thấy con cá này cắn mình một cái ở bên trong, giày vò suốt cả một buổi tối.

Sau đó, đến bệnh viện, bác sĩ phẫu thuật lấy chiếc xương cá này ra. Mặc dù Jimmy không thể nói chuyện, nhưng tôi nhìn ra từ gương mặt lo lắng khôn nguôi của anh ấy rằng, anh ấy đang nghĩ đến tiền phẫu thuật gắp xương cá, tiền giường bệnh, tiền thuốc mê. Lúc này tôi mới nhớ ra tin vui của mình, tức là lý do tại sao tôi lại mua một con cá đắt đỏ như vậy, tôi đã tìm được một việc làm, làm mì sợi cho tiệm bánh mì Hang Ah, số tiền kiếm thêm được của tôi đủ để trả tiền viện phí trong một năm. Khi tôi kể những điều này với anh ấy, Jimmy nhắm chặt hai mắt lại, nước mắt trào ra, đôi môi anh cử động, cổ họng bị thương không nói nên lời. Nhưng tôi biết anh ấy muốn nói gì; anh ấy muốn hét lên rằng: "Chúng ta thật may mắn, chúng ta thật may mắn biết bao!"

Cho nên vận may của tôi không giống với Helen, cũng không giống với bất kỳ ai khác, mọi người luôn thích khoe khoang vận rủi của họ biến thành vận may như thế nào. Không, tôi sẽ nói cho cậu biết, vận may của người khác ra sao, vận may của tôi thế nào. Lấy một cô gái mà tôi từng quen ở Thượng Hải trước đây ra làm ví dụ, cô ấy vào cùng một trường tu đạo với tôi, cô ấy cũng giống như tôi, gia đình rất giàu có, và xinh đẹp cũng xấp xỉ tôi. Khi tôi kết hôn với người chồng đầu tiên, cô ấy đã đính hôn với cậu ấm của một gia đình ngân hàng rất giàu có. Thế nhưng qua một mùa hè, mặt cô ấy mọc rất nhiều tàn nhang không cách nào mờ đi được, thế là hôn sự cũng tiêu đời. Tôi rất cảm thấy tiếc cho cô gái này, bởi vì cô ấy đã mất mặt ở cả hai phương diện.

Nhiều năm sau, tôi lại gặp lại cô ấy, lúc đó tôi và Jimmy đã chuyển đến Fresno. Cô ấy kết hôn với một người Mỹ gốc Hoa, người đàn ông đó mở một tiệm tạp hóa nhỏ, bán nước ngọt soda, khoai tây chiên và thuốc lá các loại, giá cả đều bán rất đắt, tôi gặp cô ấy ở quầy thu ngân, lúc đó tôi đang mua một ly kem. Cô ấy hét lên, "Chị ơi, chị ơi, còn nhận ra em không?" Thế nhưng cô ấy chẳng giảm giá cho tôi chút nào. Sau khi tôi trả tiền, cô ấy kể cho tôi nghe chồng cô ấy thật thà ra sao, đối xử với cô ấy tốt thế nào, lúc nói những lời này, cô ấy cố tình đẩy những chiếc vòng ngọc trên cổ tay lên cao, để cho chúng rơi xuống phát ra tiếng kêu đinh đang, giống như tấu nhạc vậy. Cô ấy cười tươi đến mức ngay cả những vết tàn nhang trên mặt cũng giống như lúm đồng tiền hạnh phúc do cô ấy cố ý khắc lên vậy.

Nhưng chỉ một lát sau, cô ấy thu lại nụ cười, nhỏ giọng nói với tôi, "Còn nhớ con trai của gia chủ ngân hàng ở Thượng Hải năm đó chứ?" Sau đó cô ấy kể cho tôi nghe bằng một giọng điệu thực sự rất buồn, nhưng lại hoàn toàn không một chút đau khổ, — đáng lẽ anh ta đã có thể sống một cuộc sống tốt đẹp — khi Đảng Cộng sản tiến vào thành phố, toàn bộ ngân hàng của gia đình này đều bị tịch thu. Sau đó, con trai của họ, chính là cái tên tiểu tử từng từ chối cưới cô ấy, đã nhảy từ trên nóc một tòa nhà bên bến Phố Giang mà họ từng sở hữu xuống, còn người vợ xinh đẹp mà anh ta cưới sau đó, vì sợ hãi nên không dám đến nhận xác của anh ta. "Cũng may là không gả cho anh ta." Người bạn của tôi nói thế.

Tôi chưa từng gặp may mắn như thế bao giờ. Tôi từ chối kết hôn với một người đàn ông tốt, một người đàn ông họ Lâm, để làm người chồng đầu tiên của mình. Tôi lại kết hôn nhầm với một người đàn ông họ Văn. Cả hai người họ đều sinh ra trên cùng một hòn đảo nơi tôi từng sống khi lên sáu tuổi. Đây là một vùng nông thôn lạc hậu, một nơi nhỏ bé bị bao quanh bởi biển cả và sông ngòi, thế nên những tư tưởng mới rất khó xâm nhập vào nơi này.

Gia đình người đàn ông mà đáng lẽ tôi nên gả cho không phải là rất giàu có, nhưng có học thức, ngoại hình cũng rất ưa nhìn. Năm tôi mười sáu tuổi mụ, tôi đã từ chối yêu cầu mai mối của gia đình anh ta. Đó là bởi vì tôi đã nghe lời của bà thím già, bà ta tuyên bố ngay trước mặt mím thím mới, chú thím, các chị em họ của tôi, cùng với những vị khách đến chơi trong bữa tiệc do gia đình người ta khoản đãi:

"Gia đình này, nhà họ Lâm," bà ta vừa nói vừa hừ mũi một tiếng, "Hừ! Muốn thông qua cuộc hôn nhân trèo cao để leo vào nhà chúng ta." Lúc nghe những lời này, tôi đã nhìn thấy cậu thanh niên ấy, một cậu thanh niên mà tôi chưa từng gặp bao giờ, trông giống như một tên ác quỷ cực kỳ xấu xí, ban đêm bò đến bên chân tôi. Sau đó, bà thím già quay đầu lại, hỏi tôi, "Vi Lệ à, cháu có muốn thành thân với gia đình này không?"

Giọng điệu bà ta nói câu này cứ như đang hỏi "Cháu muốn nhảy xuống sông tự tử không?" Đây là câu cửa miệng của bà ta, mỗi khi bà ta cãi nhau với chồng, bà ta lại đe dọa rằng, "Tao thà để đôi chân này nhảy xuống con sông này!" Bà ta hét lên, "Tao thà tự tay treo cổ tự vẫn!" Sau đó bà ta quay sang chú thím, giọng nói của bà ta nghe lại càng rợn người hơn, "Ông muốn tôi chết kiểu gì? Ông nói đi, ông quyết định đi!"

Ngược lại, chú tôi sau đó lại thực sự dùng đôi chân và đôi bàn tay của chính mình để kết liễu cuộc đời mình. Khi Đảng Cộng sản tiến vào vào năm 1949, ông ta sợ đến mức không dám trốn chạy, cũng không dám ở lại. Ông ta mụ mẫm đầu óc dùng đôi chân của chính mình đi đến một cảng biển ở phía bắc hòn đảo, ông ta ngồi xuống đó để suy nghĩ xem mình nên làm gì bây giờ. Hai ngư dân sau đó kể lại rằng, khi một chiếc xe tải chở đầy cua nhỏ lái lên con đường màu đen dẫn đến cảng biển, họ nhìn thấy chú tôi chạy bổ về phía chiếc xe tải, giơ hai tay khua khoắng hét lớn: Quay lại, quay lại.

Thật kỳ lạ, hai ngư dân kia nói, cứ như thể ông ta có phép thần thông quảng đại có thể gọi gió gọi mưa vậy, cứ như thể ông ta thực sự có thể bảo chiếc xe tải đó dừng lại trước khi chèn qua người ông ta vậy. Sau khi ông ta bị chèn chết, bà thím già tin rằng cái cây khô trong sân nhà chúng ta chính là người đàn ông của bà ta, ông ta vẫn lười biếng không muốn nhúc nhích, không muốn giúp bà ta thoát khỏi từng hoàn cảnh tồi tệ này đến hoàn cảnh tồi tệ khác.

Đây chính là gia đình mà tôi từng có, họ đã cho tôi những lời khuyên gì chứ? Nếu không phải mẹ tôi qua đời quá sớm, đời nào tôi thèm nghe lời của bà thím già kia chứ. Biết đâu hồi đó tôi đã gả cho người họ Lâm rồi, biết đâu sau khi kết hôn tôi đã học được cách yêu anh ấy, biết đâu chúng tôi sẽ gặp phải những khó khăn mà người bình thường vẫn gặp phải trong cuộc sống, nhưng sẽ không phải là thứ khó khăn khiến bản thân tôi tự căm ghét chính mình, khiến tôi biến trái tim mình thành kẻ thù như thế này.

Hai mươi năm sau, lần đầu tiên tôi gặp lại người đàn ông họ Lâm này. Lúc đó tôi đã sống ở Mỹ được năm năm, tôi đã là một người phụ nữ trưởng thành, đã kết hôn với Jimmy Louis, đổi tên thành Winnie Louis, Pearl đã hơn bốn tuổi, Samuel cũng sắp lên ba. Mặc dù chúng tôi rất nghèo, nhưng tôi tin rằng mình sống rất phong phú, giống như một vị phu nhân theo đạo từng nói với tôi rằng, "Đối với cậu, rau dưa qua ngày là đủ rồi."

Tôi tin là như vậy thật. Tôi còn muốn gì nữa chứ? Jimmy là mục sư của nhà thờ Fresno, nhà thờ mỗi tuần trả cho anh ấy năm mươi đô la, lại cho chúng tôi một căn nhà nhỏ để ở. Cho nên tôi tin rằng mình không nên đòi hỏi gì thêm nữa. Tôi tin điều này, cho đến một ngày người đàn ông họ Lâm này xuất hiện trong cùng một nhà thờ, cứu mạng tôi.

Tất nhiên, người Trung Quốc mang họ Lâm nhiều vô kể, riêng nhà thờ chúng tôi đã có mấy người họ Lâm rồi, thế nên ngay từ đầu tôi hoàn toàn không ngờ tới, anh ta chính là cậu thanh niên mà tôi từng từ chối kết hôn. Anh ta vừa chuyển đến khu vực này, mọi người đã râm ran bàn tán: "Anh ta là một bác sĩ, trước kia sống ở Tulare, nhà có một bể bơi to lắm. Anh ta cưới con gái của một vị tướng về hưu, cô ấy nói tiếng Trung trôi chảy lắm, mang giọng Bắc Kinh, giống như một diễn viên kịch Kinh Tịch vậy."

Hôm đó đúng là Chủ nhật, anh ta dẫn vợ đến tham quan nhà thờ của chúng tôi, tất cả chúng tôi đều đứng dưới ánh nắng nóng bức buổi sáng, ai nấy đều mang theo lòng tò mò, muốn xem vị bác sĩ này và người vợ xuất thân danh giá của anh ta trông ra sao. Tôi và Jimmy đứng ở bậc thềm thấp nhất, chào đón mọi người. Chồng tôi phát biểu bằng tiếng Anh, đây là tiếng phổ thông pha lẫn đủ loại phương ngữ Trung Quốc hỗn tạp trong nhà thờ chúng tôi. "Rất vui được gặp các vị. Chào mừng các vị ghé thăm lần sau." Anh ấy lặp đi lặp lại mãi một câu nói ấy, những câu nói này tôi đã luyện tập cả một buổi tối nhưng vẫn không nói nổi, thế nên tôi đành phải gật đầu, mỉm cười, ra vẻ ngượng ngùng, Chủ nhật nào cũng thế. Chỉ có điều, Chủ nhật tuần này trời đặc biệt nóng, mà tôi lại không dám cởi áo len ra, bởi vì vai áo bên phải ở bên trong của tôi bị gián cắn thủng một lỗ.

Tôi gật đầu với vị bác sĩ và vợ anh ta. Sau khi họ bước lên bậc thềm, tôi nhìn thấy những người khác trong nhà thờ đều đi đến bên người họ Lâm này, tự giới thiệu: "Gladys Hong", "Mavis Zhou", "George Bao", "Murray Young", "Ellen Wen" — tất cả mọi người đều chỉ nói tên của mình, tôi nghĩ, chắc là do ngượng ngùng thôi, đứng trước một vị bác sĩ lớn như vậy mà đến nói thêm hai chữ cũng không dám.

Lúc tôi đang suy nghĩ những chuyện vụn vặt này, thực ra không thể gọi là suy nghĩ, mà chỉ để cho những lời nói tự chảy ra chảy vào trong đầu, bởi vì lúc đó tôi mơ màng buồn ngủ, tôi cảm thấy cổ họng khô khốc, mặt vừa nóng vừa ngứa. Tôi gãi mặt, vừa hay bị anh ta nhìn thấy, anh ta cũng gãi cổ mình, gật đầu, sau đó cười nói với tôi, từ "cắn người" có nghĩa là ngứa.

Anh ta vừa thốt ra từ này, tôi liền cảm thấy giống như đang ở trong mộng vậy. Kỳ lạ thật đấy, tôi nghĩ, anh ta vậy mà cũng biết tiếng địa phương của hòn đảo nơi tôi từng ở hồi nhỏ. Thế là tôi liền nhớ lại cảnh tượng lần đầu tiên tôi nghe thấy từ này.

Năm tôi sáu tuổi, cha đưa tôi đến hòn đảo nhỏ đó, tôi đã trải qua mùa hè đầu tiên ở đó. Suốt cả ngày lẫn đêm, có một loại côn trùng nhỏ không nhìn thấy được đến cắn lớp da non của tôi, tôi lập tức bị cắn đến mức khổ sở không thể tả: gãi này, gãi này, một khắc cũng không ngừng được, hai đôi tay di chuyển nhanh vun vút lên xuống trên đôi chân, tôi hét lên trước mặt mọi người "yangsele", đây là cách nói theo tiếng phổ thông, có nghĩa là "ngứa chết đi được!"

Những người xung quanh đều cười ồ lên một tiếng lớn. Thím già vỗ vỗ tay tôi, bảo tôi mau đừng nói nữa, "Sao cháu lại có thể nói thế này!" Ngày hôm sau, một người anh họ nói cho tôi biết, người ở đây khi nhắc đến chuyện ngứa thì nói là "cắn người", hoàn toàn khác hẳn ý nghĩa với "ngứa chết đi được". Tôi không biết rốt cuộc có điểm gì khác biệt, cho đến mười năm sau, vào buổi tối ngày tôi kết hôn nhầm người, tôi nghe thấy những người anh em họ của chồng tôi đứng xì xào bàn tán với nhau từng người một: "Ngứa chết đi được! Con mụ ấy thèm đàn ông đến ngứa cả người rồi. Bên dưới của nó đang sốt ruột chờ đàn ông đến cắn đấy."

Hôm đó ở nhà thờ Fresno, khi tôi nghe thấy từ "cắn người" này, tôi nhớ ra, hồi nhỏ mình từng non nớt biết bao. Sau đó tôi quay về từ miền ký ức, cảm thấy mặt mình đang phát sốt, vì phẫn nộ, vì xấu hổ, không biết là loại chuyện gì. Tôi càng hồi tưởng lại quá khứ, tâm hồn và thể xác tôi lại càng trở nên bồn chồn đứng ngồi không yên.

Lúc này, bác sĩ Lâm chạm nhẹ vào cánh tay tôi, hỏi rằng, "Cậu bị ốm à?"

Tôi không thể trả lời anh ta, chỉ nhìn khuôn mặt anh ta: anh ta nhướn mày, sau đó cơ cằm lại giật giật hai cái, thần thái này nói cho tôi biết, anh ta rất muốn nghe câu trả lời của tôi. Đó chính là khuôn mặt của anh ta! — chính là khuôn mặt của nhà họ Lâm, đôi lông mày nhướng lên và cơ cằm co giật hoàn toàn giống y đúc cha anh ta, cũng là đặc điểm chung của tất cả mọi người trong gia tộc bọn họ. Thím già từng nhắc đến, "Khuôn mặt nhà họ Lâm dài như mặt ngựa, lúc nào cũng muốn thò tay vào túi mày móc chút đồ ăn ngon ra."

Nhìn khuôn mặt quen thuộc này, mọi thứ trong lòng tôi đều cuộn trào hỗn độn vào nhau — quá khứ của tôi, cuộc sống hiện tại của tôi, người chồng đầu tiên của tôi, người chồng thứ hai của tôi, Lâm. Tôi thực sự mụ mẫm cả đầu óc rồi. Tôi không biết ai đang hét lên, "Say nắng rồi! Bị ánh nắng độc làm cho ngất xỉu rồi." Tôi cũng không biết tại sao họ lại cởi áo len giúp tôi, đỡ tôi dậy, sau đó khiêng tôi vào trong nhà thờ.

Chồng tôi sau đó kể lại với tôi, lúc đó tôi nằm trong ngực anh ấy người ướt đẫm mồ hôi, anh ấy còn làm lễ rửa tội cho tôi một lần để cứu rỗi linh hồn tôi. Bây giờ, anh ấy vừa khóc vừa cười nói rằng, để cứu mạng em vị bác sĩ kia cũng đã làm lễ rửa tội cho em rồi. Tôi vẫn còn mơ màng mụ mẫm, chỉ lầm bầm một câu để che đậy qua chuyện, "Tôi cảm giác như vừa nhìn thấy ma vậy."

Lúc này tôi mới sực tỉnh ra rằng ở đây không chỉ có hai chúng tôi, Lâm có mặt ở đó, vợ anh ta cũng có mặt, còn có những người khác trong nhà thờ nữa — tất cả mọi người đều đang nhìn tôi kìa! Tâm trí tôi lập tức tỉnh táo lại ngay. Tôi cảm thấy vô cùng xấu hổ, hết thảy mọi người đều nhìn thấy cái thủng lớn do gián cắn trên áo tôi.

Tôi chưa từng kể với Jimmy, tôi vốn dĩ có thể không gả cho người đàn ông khác mà gả cho người họ Lâm này làm người chồng đầu tiên của mình, còn anh là người thứ hai. Tôi chỉ kể cho anh ấy nghe về nguồn gốc của từ "ngứa", từ rất lâu trước đây, tôi và Lâm nói cùng một loại phương ngữ. Cho nên, vào Chủ nhật tuần tiếp theo, Jimmy đã rất tự hào kể với Lâm rằng, tôi và anh ấy đến từ cùng một nơi ở Trung Quốc, đảo Sùng Minh, chúng tôi gọi nơi đó là cửa sông Trường Giang. Tôi muốn rút lại lời nói của chồng mình, muốn giải thích rằng có lẽ tôi nhầm lẫn, là một hòn đảo khác, bởi vì tôi sợ Lâm nói trước mặt mọi người rằng, "Này, chẳng phải cô chính là cô gái kiên quyết không chịu gả đến nhà tôi đấy sao?"

Nhưng Lâm chỉ cười và nói, "Nói như vậy thì hai chúng ta sớm nên quen biết từ lâu rồi chứ nhỉ, em gái?"

Nói không chừng anh ấy chỉ vì phép lịch sự thôi, anh ấy rất lịch sự mà. Nói không chừng, anh ấy cũng không muốn cưới tôi, vợ anh ta rất xinh đẹp. Nói không chừng anh ấy không phải là cậu thanh niên mà tôi định gả cho hồi đó, xét cho cùng, trong gia đình bọn họ đâu chỉ có một mình anh ấy là con trai, vẫn còn những người con trai khác nữa, từ trước tới nay tôi chưa từng phân biệt nổi. Tôi sợ phân biệt rõ ràng, biết điều này thì có ích gì cho tôi chứ?

Cho nên tôi đã không gỏng hỏi tiếp nữa. Thế nhưng kể từ ngày hôm đó, tôi bắt đầu nhìn nhận mọi thứ trong cuộc đời mình theo hai hướng, một hướng là những chuyện đã từng xảy ra, một hướng là những chuyện chưa từng xảy ra.

Đêm khuya thanh vắng, sau khi chồng và các con đều đã chìm vào giấc ngủ, một mình tôi suy ngẫm, tất nhiên, tôi không hề hối hận vì đã kết hôn với Jimmy Louis. Tôi yêu chồng mình, để có thể kết hôn với anh ấy, tôi đã đợi ròng rã suốt năm năm trời. Tôi đến đất nước này sống cùng anh ấy, tôi hoàn toàn tự nguyện. Đây là một thứ tình yêu đích thực, không chỉ là sự cống hiến, vì anh ấy đi chợ nấu cơm, vì anh ấy nuôi dạy con cái. Tôi không nghĩ đến Lâm, không nghĩ đến những bộ quần áo đẹp của vợ anh ấy, cũng không nghĩ đến bể bơi nhà họ. Ai thèm những thứ này chứ? Tôi tự nhủ với bản thân như vậy.

Nhưng khi đêm ngày càng khuya, suy nghĩ của tôi cũng thay đổi, tôi nghĩ thế này: Tôi thực sự hối hận vì đã không gả cho Lâm đấy, bởi vì nếu gả cho anh ta, tôi đã không phải kết hôn với người đàn ông khác, tôi sẽ không trở thành kiểu người vợ cầu xin người Nhật Bản giết chồng mình, cũng sẽ không trở thành kiểu người mẹ dửng dưng vô cảm trước cái chết của các con mình. Trái tim tôi cũng sẽ không độc ác đến mức tìm mọi cách trốn chạy cuộc hôn nhân của mình, vì trốn không thoát mà ngày đêm nghiến răng nghiến lợi. Tôi cũng sẽ không hối hận vì mình để lại cho người chồng thứ hai quá ít, tôi chỉ có sự biết ơn chứ vĩnh viễn không thể hoàn toàn hạnh phúc được.

Sau khi Jimmy qua đời, tôi không thể không nghĩ rằng, nếu tôi gả cho Lâm, tôi sẽ không gặp được Jimmy Louis, sẽ không kết hôn với anh ấy, cũng sẽ không đến tận bây giờ vẫn cứ hoài niệm anh ấy. Mắt và tai tôi sẽ không suốt ngày đi tìm kiếm hình bóng của Jimmy, đi tìm kiếm sự hư vô, da thịt tôi cũng sẽ không khao khát có người chạm vào, tôi cũng sẽ không cảm nhận được nỗi đau thấu xương thấu tủy này. Nếu tôi gả cho Lâm, tôi tuyệt đối sẽ không quen biết Jimmy, như vậy, tôi cũng sẽ không mãi hoài niệm một người mà ngay cả tên của anh ấy tôi cũng không biết.

Bây giờ, ngay lúc này đây, tôi lại nghĩ đến điều này. Nếu tôi gả cho Lâm, tôi và Lâm bây giờ vẫn là vợ chồng, Helen sẽ không biết được những bí mật riêng tư của tôi, tôi cũng sẽ không có lý do gì để mặc cô ấy sai bảo nữa. Tôi biết điều này, bởi vì tối hôm qua lúc đang ăn cá, Helen còn kể cho tôi nghe, một người đàn ông họ Lâm, một kẻ góa vợ, từng sống ở Fresno, vừa mới gia nhập nhà thờ ở San Francisco của chúng tôi.

"Anh ấy là bác sĩ," cô ấy nói, "nhưng anh ta chỉ bỏ một tờ năm đô la vào thùng quyên góp."

Helen nhìn vẻ mặt kinh ngạc của tôi, tưởng rằng cô ấy biết đầu đuôi ngọn ngành, "Đúng vậy, cậu nghĩ tới chưa? Đây là người đàn ông thế nào cơ chứ?"

Tôi không nói với Helen rằng: Đáng lẽ tôi đã có thể gả cho người đàn ông này, một người đàn ông tốt. Tôi không nói, việc tôi không gả cho anh ta là do số phận định sẵn, hay là vì lúc đó tôi không biết rằng mình có thể tự quyết định lấy cuộc đời mình? Tôi không thừa nhận với cô ấy rằng: Có lẽ đây là lỗi của tôi, một lỗi lầm nhỏ nhặt thế này, nói không với người này, nói có với người kia, giống như việc chọn con cá trong chậu nước vậy, chưa nếm thử qua thì làm sao cậu biết con nào ngon, con nào dở cơ chứ?

Cho dù tôi có kể cho cô ấy nghe, cô ấy cũng sẽ không hiểu đâu. Suy nghĩ của chúng tôi quá khác biệt, cái đầu của cô ấy vẫn còn ở lại Trung Quốc, cứ lấy chuyện này mà nói đi, khi cô ấy mua con cá này làm bữa tối, tôi đã nói với cậu ấy rằng, "Này, cậu có biết con cá để ba ngày sẽ thế nào không?"

Cô ấy chẳng thèm nghĩ ngợi mà đáp ngay, "Chúng sẽ bơi về đại dương."

Đã gần bốn mươi năm nay, tôi vẫn nói với mọi người rằng Helen là chị dâu của tôi, nhưng cô ấy không phải.

Tôi còn kể với mọi người rằng cô ấy là vợ của người anh trai tên Khuông đã chết trong chiến loạn của tôi. Đây không phải là sự thật.

Nhưng tôi nói như vậy không phải muốn lừa gạt mọi người, sự thật quá phức tạp, không tài nào kể rõ được. Cho dù tôi có giải thích mọi chuyện rõ mồn một, cũng chẳng có ai hiểu nổi.

Người anh trai chết trong chiến loạn mà tôi nhắc đến, thực ra là anh em cùng cha khác mẹ với tôi — không có quan hệ huyết thống, chỉ có quan hệ thông gia. Anh ta là con trai do người vợ thứ hai của cha tôi sinh ra, mẹ anh ta đã qua đời từ trước khi mẹ tôi gả sang đây, thế nên chúng tôi và phòng bên này tuyệt đối không bao giờ qua lại.

Mà người anh em cùng cha khác mẹ này cũng không hề chết trong chiến loạn, mà đã chết từ trước chiến tranh rồi, anh ta vì mang ba súc vải bán cho Đảng Cộng sản nên đã bị chém đầu ở Trường Sa. Đó là chuyện xảy ra vào năm âm lịch 4638, đúng vào năm con ngựa. Con người năm đó ai nấy đều nhảy nhót tưng bừng, xông xáo ngang ngược. Còn năm dương lịch là năm nào thì tôi không nhớ rõ nữa, có lẽ là 1929, có lẽ là 1930 hoặc 1931 gì đó, dù sao thì, cũng là trước khi tôi gặp Helen.

Nhưng tôi đã nói những điều này rồi, tôi còn phải giải thích thêm rằng, người anh em cùng cha khác mẹ này của tôi thực ra không phải là một người cộng sản. Thực tế thì, anh ta đã biện minh — bắt đầu bằng việc giậm chân phẫn nộ, cuối cùng là quỳ sụp xuống gào khóc trong tuyệt vọng, anh ta hoàn toàn không hề biết rằng vị khách hàng của tối hôm trước chính là người của Đảng Cộng sản, anh ta còn khoác lác rằng mình đã chém đẹp bọn họ một vố, bán đống vải chất lượng kém cho họ với cái giá cao đến mức nực cười. Mặc dù vậy, Quốc Dân Đảng vẫn cứ giết chết anh ta, mục đích là để răn đe thiên hạ.

Thế nhưng cớ sao tôi phải lôi hết những chuyện này ra phơi bày chứ? — nói rằng trong gia tộc tôi có một kẻ lừa gạt khách hàng của mình. Không, ý tôi là, vào cái thời buổi đó rất nhiều người bị giết vì những tội danh vô căn cứ. Ai ai cũng biết nguy hiểm đang kề cận trước mắt, mà người anh em cùng cha khác mẹ này của tôi lại quá ngu ngốc và tham lam.

Ngay cả người vợ cả của anh ta cũng hiểu rõ điều này. Ban đầu, cô ấy còn chẳng muốn đến Trường Sa. Nhưng nếu có ai hỏi tôi bây giờ cô ấy đang ở đâu, tôi cũng chịu chết không trả lời nổi. Sau khi chồng cô ấy chết, cô ấy từng viết thư cho chúng tôi, kể hết tình hình cho chúng tôi nghe. Nhưng kể từ dạo đó trở đi, hoàn toàn bặt vô âm tín, bởi vì nơi cô ấy ở xảy ra một trận hồng thủy, từ thượng nguồn trôi dạt xuống rất nhiều tử thi đã sình phình trướng lên, những người sống ven sông vì muốn tránh xa mùi hôi thối nồng nặc đó lần lượt bỏ trốn khỏi hòn đảo. Cho nên nói không chừng người chị dâu này cũng chết đuối rồi, trôi theo dòng nước trôi tuột ra đại dương; nói không chừng cô ấy đã đổi tên, nói không chừng ngay cả tính cách cũng thay đổi luôn, trở thành một người cộng sản, hiện đang ở một nơi nào đó ở Trung Quốc, dùng một cái tên khác.

Tôi nói đến đây, mọi người có lẽ sẽ cho rằng câu chuyện về người anh em cùng cha khác mẹ của tôi đến đây là chấm dứt. Tôi đành phải nói dối để phụ họa theo: Anh ta chết rồi, người vợ cả của anh ta cũng mất tích luôn. Câu chuyện này chẳng có gì để nói nữa, chẳng có kết cục đoàn viên nào khiến người ta bất ngờ kinh ngạc cả. Nhiều năm nay, kết cục của anh ta quả thực chính là như thế.

À, có một khoảng thời gian, trong gia tộc chúng tôi cứ hay kể một câu chuyện thế này, nói rằng có một con bò đực húc đầu gầm rống hướng về phía vầng trăng non, tưởng rằng cặp sừng của mình mắc vào bầu trời rồi. Ai nấy đều biết đang ám chỉ kẻ nào: Một tên ngốc tìm đủ mọi cách trèo lên trời, cứ ngỡ có thể với tay hái được những ngôi sao xuống, kết quả ngã nhầm xuống đất, đến cả mạng sống cũng mất toi luôn. Chúng tôi không nhắc đến tên Khuông, kẻ nào quen biết với dính líu đến chủ nghĩa Mác đều cực kỳ nguy hiểm, mặc dù Khuông đã chết rồi, anh ta cũng chẳng phải là một tên cộng sản chân chính.

Nhưng sau đó người anh em cùng cha khác mẹ của tôi lại sống lại với rất nhiều thân phận khác nhau. Khi người Nhật Bản chiếm đóng Thượng Hải vào năm 1937, chú tôi giả vờ chào mừng bọn họ đến tiệm vải của nhà mình, "Cháu trai ruột của tôi từng đi du học ở Nhật Bản, hiện đang sống ở Trường Sa, nó còn cưới cả một cô vợ người Nhật nữa cơ đấy."

Sau này, khi Nhật Bản đầu hàng vào năm 1945, Quốc Dân Đảng quay về tiếp quản, người anh em cùng cha khác mẹ của tôi lại sống lại với một thân phận khác. Chú tôi nói: "Thằng cháu Khuông đáng thương của tôi, là một vị anh hùng của Quốc Dân Đảng. Đã hy sinh ở Trường Sa."

Khi Đảng Cộng sản tiếp quản vào năm 1949, câu chuyện thứ nhất lại quay trở lại, chỉ có điều lúc đó chú tôi đã qua đời rồi, thế nên đành do người thím già kia của tôi đứng ra nói rằng người anh em cùng cha khác mẹ của tôi là một đại anh hùng trong hàng ngũ cộng sản, "Nó đem quần áo đẹp tặng cho những học sinh làm công tác ngầm — đương nhiên là một xu cũng không lấy, lại còn mất cả tính mạng của chính mình."

Lúc tôi đến đất nước mới này, tôi cứ tưởng rằng cuối cùng mình đã có thể quên đi người anh em cùng cha khác mẹ không biết đã chết bao nhiêu lần, lại sống lại bao nhiêu lần này rồi. Cứ phải giải thích đi giải thích lại cho rõ ràng rành mạch thực sự quá khó khăn: Ai là cái gì của ai; người anh em cùng cha khác mẹ nào là do phòng nào sinh ra; chuyện này xảy ra tính theo năm dương lịch, hay tính theo năm âm lịch; người chị dâu đó sau này ra sao; cớ sao chúng ta cứ phải thay đổi quan điểm về người Nhật Bản, Quốc Dân Đảng và Đảng Cộng sản.

Làm sao tôi có thể giải thích rõ ràng một đoạn quá khứ như thế với các quan chức Sở Di trú được chứ, bọn họ tài nào hiểu nổi! Bọn họ chỉ biết một loại chính quyền duy nhất. Bọn họ cứ hết lần này đến lần khác đưa ra cho tôi đủ loại câu hỏi gây khó dễ: "Tại sao trong tờ khai này cô ghi sinh năm 1918, lại ghi sinh năm 1919?" "Tại sao cô không có giấy chứng nhận kết hôn, cũng không có giấy chứng nhận ly hôn?" "Cô từng mắc bệnh ký sinh trùng ở Trung Quốc hay đất nước nào khác chưa?"

Lúc tôi đến đất nước này, tôi tự nhủ với bản thân rằng, tôi có thể dùng một cách thức mới mẻ để suy nghĩ. Bây giờ tôi có thể quên đi bi kịch của mình, ném tất cả những bí mật của tôi ra phía sau một cánh cửa vĩnh viễn không bao giờ mở ra nữa, vĩnh viễn không bị người Mỹ nhìn thấy. Tôi cứ ngỡ quá khứ của mình đã được phong ấn vĩnh viễn rồi.

Tôi nghĩ, ở đây sẽ chẳng có ai tìm ra được tôi cả. Tôi có thể giấu nhẹm đi những sai lầm của mình, sự hối hận của mình, tất cả những nỗi đau đớn của mình, tôi có thể thay đổi số phận của mình.

À, tôi không phải là người duy nhất có thể vứt bỏ hết thảy quá khứ để thích nghi với môi trường mới. Những người đến nhà thờ chúng tôi, người bạn học đầy tàn nhang kia của tôi, Lâm và vợ anh ta, thậm chí bao gồm cả Helen — tất cả bọn họ đều vứt bỏ lại phía sau một vài thứ: những khoản nợ cũ chưa trả hết, những sự khởi đầu tồi tệ, người mẹ già yếu, người cha đau ốm, người vợ cả và đàn con đông đúc, sự mê tín và số phận theo lịch âm của người Trung Quốc.

Tôi thậm chí còn sợ hãi cuộc sống trong quá khứ của mình sẽ tóm lấy tôi. Nhưng sau đó Trung Quốc tắt đèn, đóng cửa lại, bảo mọi người rằng hãy giữ yên lặng. Tất cả những con người ở nơi đó đều trở nên giống như ma quỷ vậy, chúng tôi không nhìn thấy họ, cũng chẳng nghe thấy họ. Thế là tôi cứ tưởng lần này thì mình thực sự có thể quên đi tất cả mọi thứ rồi, sẽ chẳng có ai có thể ngoắc cho ký ức của tôi sống lại được nữa.

Thế nhưng đúng vào lúc này, Helen muốn từ Đài Loan sang đây. Tôi chỉ đành để cô ấy đến. Cô ấy bảo với tôi rằng, rất nhiều năm trước tôi vẫn còn nợ cô ấy một ân tình, bây giờ tôi phải trả lại cho cô ấy. Cho nên, vào năm 1953, tôi đã nói với các quan chức Sở Di trú Mỹ rằng, Helen là chị của tôi, do một trong năm người vợ của cha tôi sinh ra. Cô ấy mới chân ướt chân ráo sang đây, tôi không thể nói với những người bạn trong nhà thờ rằng cha tôi có năm người vợ được, bản thân tôi là vợ mục sư cơ mà, làm sao tôi có thể thốt ra những lời đó được chứ?

Cho nên tôi chỉ đành nói Helen là chị dâu nhiều năm trước của tôi, từng gả cho anh trai tôi, một đại anh hùng của Quốc Dân Đảng, đã hy sinh trong chiến loạn. Thật tồi tệ.

Tôi không thể nói ra sự thật, lý do tại sao Helen lại sang đây, tại sao tôi lại buộc phải tài trợ cho cô ấy, nói ra chỉ tổ khiến mọi chuyện càng lúc càng phức tạp thêm mà thôi.

Tôi đã kể câu chuyện Helen kết hôn với anh trai tôi không dưới mấy chục lần, kể đến mức ngay cả bản thân Helen cũng tin là thật. Cô ấy kể với những người hỏi thăm về quá khứ của mình rằng: "Ồ, tôi từng có một đám cưới theo kiểu phương Tây vô cùng hoành tráng, Winnie chính là phù dâu của tôi. Tiếc quá đi mất, chồng tôi lại qua đời khi tuổi đời còn quá trẻ." Cô ấy nói những câu này với giọng điệu cứ như thể bản thân đã có được tư cách công dân Mỹ từ tám đời nay rồi vậy, chẳng ai có thể trục xuất cô ấy về nước nổi.

Helen cũng kể câu chuyện của tôi không biết bao nhiêu lần, kể đến mức có lúc ngay cả bản thân tôi cũng tin là thật. Nào là Jimmy là người chồng đầu tiên cũng là duy nhất của tôi này; nào là cô ấy là người mai mối giới thiệu chúng tôi quen nhau ở Thượng Hải này; nào là cô ấy là người làm chứng cho đám cưới của tôi, chúng tôi từng tổ chức một đám cưới theo kiểu Trung Quốc vô cùng hoành tráng này.

Bây giờ nếu tôi nói Helen không phải là chị dâu của tôi, sẽ chẳng có ai tin sất. Cô ấy và tôi không có quan hệ huyết thống, đến cả quan hệ thông gia cũng chẳng có nốt. Cô ấy không phải là người bạn do tự tay tôi chọn lựa. Có những lúc, tôi cảm thấy không thoải mái ngay cả khi cô ấy ở bên cạnh. Tôi không đồng tình với quan điểm của cô ấy, tôi không thích tính cách của cô ấy. Nhưng nói không chừng chúng tôi còn thân thiết hơn cả chị em ruột thịt, chúng tôi bị trói buộc bởi một khoản nợ chung, bị liên kết lại với nhau bởi cùng một số phận. Tôi giữ bí mật cho cô ấy, cô ấy giữ bí mật cho tôi, giữa chúng tôi tồn tại một thứ sự trung thành mà ngôn ngữ của đất nước này không tài nào nói rõ hay diễn tả hết được.

Cho nên, hôm đó sau khi ăn xong bữa tối có món cá, lúc Helen ở trong nhà bếp nói với tôi rằng, cô ấy đã quyết định phơi bày tất cả bí mật của tôi ra ánh sáng, cậu có thể tưởng tượng ra tôi phẫn nộ đến mức nào rồi đấy.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Đàm Ân Mỹ

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.