Thê Tử Của Táo Thần

Lượt đọc: 66 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 17
Cổng Tứ Đầu

❊ ❊ ❊

Lại qua một năm nữa, Văn Phúc vẫn không thay đổi chút nào. Còn tôi thì thay đổi từng chút một. Trong mắt Hồ Lan và những người khác, tôi vẫn là con người cũ. Nhưng đó chỉ là vì tôi đã che giấu tình cảm thật sự của mình. Tôi giả vờ bận rộn chăm sóc con cái, không có tâm trí đâu mà lo chuyện bao đồng.

Suốt mùa hè năm 1941, tôi thích ngồi ở sân sau, đặt Đạm Nhược lên đùi, hai mẹ con cứ thế chờ đợi sấm chớp kéo đến. Tôi bảo thằng bé, "Nghe này—— Bùm—— kêu rồi kìa. Chờ chút, chờ chút—— Oà! Đẹp quá chừng!" Mới mười tháng tuổi, nó đã biết vỗ tay rồi.

Mùa hè năm đó, buổi sáng trời luôn rất nóng, nhưng chưa đến mức không chịu nổi. Thường thì đến buổi chiều, sấm bắt đầu gầm rền, tiếp đó là mưa rơi, làm bốc lên từng đợt mùi đất dễ chịu, thế là tôi liền gọi người hầu nhanh chóng chạy ra thu quần áo phơi ngoài sân.

Nghe có vẻ như cuộc sống của tôi đã trở nên nhẹ nhàng hơn, mọi thứ đều tĩnh lặng và lười biếng, giống như đang trải qua một kỳ nghỉ hè vui vẻ. Nhưng đây chẳng qua là khoảng thời gian tốt đẹp mà tôi và Đạm Nhược ở bên nhau. Tôi dùng tâm trạng tốt này để quên đi tất cả mọi chuyện khác.

Đạm Nhược rất ngoan ngoãn, rất thông minh. Có lẽ người làm mẹ nào khi nhắc đến con mình cũng đều nói như vậy. Nhưng chỉ cần tưởng tượng mà xem: khi Đạm Nhược chưa tròn một tuổi, tôi hỏi nó, "Mẹ ở đâu?" Nó chỉ tay về phía tôi, mỉm cười: "Đạm Nhược ở đâu?" Nó vỗ vỗ vào cái bụng nhỏ của mình, mỉm cười: "Bố ở đâu?" Nó chỉ tay về phía Văn Phúc, nhưng không cười.

Đạm Nhược tin tưởng tôi, bất kể tôi nói gì, nó cũng tin. Nếu nó tỉnh dậy vì đói và khóc, tôi bước vào phòng nó, nói, "Đừng khóc, đừng khóc. Mẹ xuống lầu lấy cho con chút đồ ăn đây." Khi tôi quay lại phòng nó, nó đã đứng dậy từ chiếc nôi rồi, nhưng không khóc.

Thế nên anh thấy đấy, tôi biết khi lớn lên Đạm Nhược sẽ trở thành một người tốt, một người lương thiện, đáng tin cậy và quan tâm đến người khác. Nó không giống Văn Phúc, điểm nào cũng không giống. Văn Phúc có là bố nó đi chăng nữa thì cũng chẳng sao cả.

Sau khi đuổi Mẫn đi, Văn Phúc lại quay về giường của tôi. Nhưng đồng thời anh ta cũng ngủ với đủ loại đàn bà: nữ phục vụ đến từ vùng quê, kỹ nữ trên đường phố, thậm chí cả giáo viên tiểu học. Tôi cho rằng trong mắt anh ta tất cả chúng tôi đều giống nhau, giống như một chiếc ghế có thể ngồi, một đôi đũa có thể gắp thức ăn, ngày nào cũng không thể thiếu. Chỉ cần tôi nói một lời trái ý anh ta, —— hoặc phản đối bất cứ thứ gì anh ta thích—— thì thế nào cũng xảy ra một trận cãi vã lớn, và luôn là vào giờ ăn tối. Tôi cố gắng ngậm miệng không nói để được yên chuyện. Nhưng trong lòng tôi đang cãi nhau với chính mình, hoàn toàn không hề bình yên. Cho nên cuối cùng, tôi vẫn không kìm được mà phải nói vài câu.

Có lần, chỉ vì một từ vô cùng nhỏ nhặt. Văn Phúc muốn đầu bếp làm món sườn cừu nấu bắp cải ngọt mà anh ta thích. Nhưng mùa hè năm ấy, bắp cải rất kém chất lượng, có mùi nước cống. Khi Văn Phúc hỏi tôi có thích món này không, tôi liền nói thật: "Không ngon." Tối hôm sau, anh ta liền dặn đầu bếp làm cho tôi đúng món đó, ngoài ra không có món nào khác.

Anh ta cười, lại hỏi tôi, "Bây giờ em thích nó rồi chứ?" Tôi vẫn trả lời giống như tối hôm trước. Ngày lại ngày, vẫn là câu hỏi cũ, câu trả lời cũ, ngày hôm sau vẫn là món ăn đó. Tôi đà phải nuốt chửng món bắp cải khó nuốt ấy, không còn cách nào khác. Nhưng tôi không bỏ cuộc. Tôi chờ xem Văn Phúc tự chơi chán cái trò bắp cải này. Hai tuần sau đã chứng minh, dạ dày của tôi còn kiên cường hơn cả tính khí của anh ta.

Cố chấp kiên trì ăn món bắp cải hỏng như vậy, thoạt nhìn có vẻ hơi ngốc nghếch. Tôi hoàn toàn có thể nói dối rằng, "Món tối nay ngon thật đấy." Nhưng nếu tôi không phản kháng, chẳng phải bằng thừa nhận rằng cả cuộc đời tôi coi như tiêu đời rồi sao?

Cho nên mối quan hệ giữa chúng tôi ngày càng trở nên tồi tệ hơn. Nhưng tôi nhớ rằng, khi ấy cả đất nước đều đang trên đà trượt dốc. Tôi nghe mọi người nói thế trên bàn ăn, những phi công đánh mạt chược suốt đêm cũng nói thế. Họ nhắc đến chiến tranh như một thứ bệnh truyền nhiễm, lan truyền cái thứ virus khiến con người ta lừa dối, lừa gạt và căm thù lẫn nhau.

Theo tôi thấy, tình trạng này bắt đầu từ năm ngoái. Khi ấy tuyến đường huyết mạch Miến Điện đột ngột bị đóng cửa, những chiếc xe tải chở đầy vật tư quân sự không thể chạy vào được. Mọi người la ó, không có dầu thì không quân lái máy bay thế nào? Không có súng thì quân đội bảo vệ chúng ta ra sao? Ai nấy đều cảm thấy cô lập và bất lực. Chúng tôi cũng rất phẫn nộ, bởi vì kẻ đóng cửa con đường không phải là người Nhật, mà là người Anh, chính họ đang kiểm soát nó. Họ đóng cửa con đường là vì không thể hạ quyết tâm nên ủng hộ chính phủ nào —— Trung Quốc hay Nhật Bản, Nhật Bản hay Trung Quốc. Họ đã kéo dài ba tháng mới đưa ra quyết định. Khi họ cuối cùng nói rằng, chúng tôi ủng hộ các bạn, Trung Quốc. Thì còn ai tin tưởng họ nữa? Dĩ nhiên chúng tôi giả vờ hoan nghênh sự hối cải của họ. Chúng tôi còn sự lựa chọn nào khác chứ? Chỉ cầu xin họ đừng đóng cửa con đường đó nữa.

Người Mỹ cũng tồi tệ không kém. Có một hôm, họ khoác lác rằng họ là những người bạn tốt của chúng ta—— những đối tác Trung Quốc của chúng ta, họ nói thế. Tướng Trần Nạp Đức đã quay lại vào mùa hè năm đó, nói rằng ông ấy sẽ mang rất nhiều máy bay đến để ủng hộ chúng ta. Nhưng ngay ngày hôm sau chúng tôi đã nghe tin, các công ty Mỹ đang làm một mẻ làm ăn lớn với người Nhật, bán dầu mỏ và sắt thép cho họ—— chính là những thứ đang thả bom trên lãnh thổ Trung Quốc. Bạn nghe thấy những điều này thì trong lòng sẽ nghĩ thế nào? Biết bao nhiêu phi công của chúng ta đang hy sinh, rất nhiều người là bạn của chúng ta đấy. Một nửa số người của Phi đội ba đã tử trận, sau đó Phi đội sáu và Phi đội bảy gần như chết sạch—— toàn là những thanh niên trai tráng đấy! Buổi tối, các phi công lại kể chuyện về từng phi công vừa mới tử trận, người nào cũng là những tấm gương xuất sắc. À, chúng tôi khóc đến đau đớn làm sao, trong nỗi đau thương lại lẫn lộn cả sự phẫn nộ.

Nhưng đây vẫn chưa phải là điều tồi tệ nhất. Tồi tệ nhất là các nhà lãnh đạo Trung Quốc của chúng ta cũng cúi đầu trước người Nhật. Nhân vật số hai của Quốc Dân Đảng, chính là đã làm như vậy. Ông ta nói Trung Quốc nên từ bỏ kháng chiến, ủng hộ chính phủ mới lên cầm quyền của Nhật Bản. Điều này chẳng khác nào bảo chúng ta đào mồ tổ tiên, vém xương cốt ra cho chó ăn. Ai lại đi nói những lời thế này cơ chứ? Thế mà rất nhiều người đã nói vậy. Mỗi lần chuyện như thế này xảy ra, lòng chúng tôi lại lạnh đi một chút, không biết có đáng để chiến đấu vì sự nhục nhã này hay không.

Lời này nghe rất kỳ lạ, bởi vì ngoại trừ tôi và Hồ Lan, đám đông chen chúc nghe giảng ở quảng trường gần như không có một giọt máu của người Hán, toàn là các dân tộc thiểu số—— có người Miêu, người Bạch, người Di, người Hồi, cả người Miến Điện và đủ mọi loại dân sơn cùm nghèo khổ cùng người tị nạn khác. Họ bị ép xuống núi hoặc ra vùng ngoại ô, hiến dâng con em mình làm lính và phu phen, giúp giành chiến thắng trong cuộc chiến này. Họ bị coi là những kẻ thấp kém nhất, mang vác đồ đạc trần lưng giống như súc vật. Thế nhưng họ vẫn đứng ở quảng trường, lắng nghe một thứ khẩu hiệu về lòng yêu nước của người Hán không phải được diễn đạt bằng ngôn ngữ của chính họ, thế mà vẫn vỗ tay hoan hô.

Tôi nghĩ những người này chắc chắn đã trải qua một cuộc sống vô cùng gian khổ trên núi. Điều này khiến tôi nhớ đến một câu nói cổ của Trung Quốc: "Nếu không thay đổi được vận mệnh của mình, thì hãy thay đổi thái độ của bạn." Có lẽ những người này chính là như vậy, họ không trách người trách trời, không còn nghĩ đến những chuyện bất như ý trong cuộc sống nữa, tin rằng họ đã biến thành người Hán, và giờ phút này đang phấn đấu vì một thứ gì đó. Tôi tự nhủ với bản thân, hãy nhìn những người này xem, phải học tập họ.

Ngày hôm đó từ quảng trường trở về, tôi chậm rãi thay đổi thái độ đối với cuộc sống. Tôi không nghĩ đến chuyện mình đã sẵn sàng để chết, vẫn chưa. Nhưng tôi suy nghĩ vấn đề này theo hướng: nếu tôi buộc phải chết ngay lập tức, thì có lẽ tôi sẽ không phải chịu đựng nhiều đọa đày đến thế. Nếu tôi không chết ngay, thì có lẽ tôi vẫn có thể tìm ra con đường trốn chạy.

Khoảng thời gian ấy, Hồ Lan cũng bắt đầu thay đổi thái độ của cô ấy. Có lẽ thứ thay đổi không phải là thái độ của cô ấy, mà là sự thèm ăn của cô ấy. Cô ấy bắt đầu ăn uống điên cuồng, ngày càng ăn nhiều hơn.

Ban đầu tôi tưởng Hồ Lan mang thai, lại còn muốn giữ bí mật. Tôi biết cô ấy rất muốn có con, cô ấy không hề che giấu sự thật đó. Mỗi lần tôi phàn nàn với cô ấy về Văn Phúc, hay phàn nàn về chiến tranh, hoặc nhớ nhà, cô ấy lại nói, "Ước gì tao có được một đứa con trai giống như mày, thế là mãn nguyện lắm rồi, chuyện gì cũng có thể chịu đựng được."

Con trai chẳng thấy đâu, nhưng cô ấy vẫn ăn uống điên cuồng, lúc nào cũng cảm thấy chưa no. ý tôi không phải là cô ấy đặc biệt thích ăn đậu phụ cay tê hay sườn xào mỡ, rồi tự lầm bầm "tao cứ thích ăn mấy món kiểu này". Ngược lại, cô ấy thích nhìn những đám đông ăn mày lũ lượt kéo vào thành để xin ăn mỗi ngày. Cô ấy thích nhìn dáng vẻ đói khát của bọn họ, họ gầy trơ xương, khóe miệng trĩu xuống, sẵn sàng nuốt chửng mọi thứ có thể ăn được bất cứ lúc nào. Tôi nghĩ, cô ấy đang tưởng tượng nếu bản thân không ăn uống thì sẽ biến thành cái bộ dạng này.

Tôi nhớ cô ấy cứ chăm chăm nhìn chằm chằm vào một cô gái ăn mày, cô gái ấy tựa lưng vào bức tường dẫn đến khu phố cổ. Hồ Lan nhìn cô ta, cô ta cũng nhìn Hồ Lan, ánh mắt vô cùng hung dữ. Hồ Lan hỏi tôi, "Sao con nhỏ đó cứ nhìn chằm chằm tao thế nhỉ? Giống như một con dã thú muốn ăn tươi nuốt sống tao để cứu lấy mạng sống của nó vậy."

Mỗi lần chúng tôi đi ngang qua cô gái đó, Hồ Lan thể nào cũng nói rằng cái bóng của cô gái hằn trên bức tường ngày càng gầy gò hơn. Tôi chắc chắn về điều này. Bởi vì có một lần cô ấy đã kể cho tôi nghe về quê hương của mình, khi cô ấy còn nhỏ, cả gia đình suýt thì chết đói.

"Năm nào cũng lũ lụt," Hồ Lan nói, "thế nào cũng bị ngập một ít, nhưng có một năm, trận lụt giống như một cái ấm trà lớn bị úp ngược vậy. Nước lũ tràn ra nhấn chìm đồng ruộng của nhà chúng tôi, chẳng có gì để ăn, đành phải ăn bánh cao lương khô. Lại chẳng tìm được nước sạch để hấp bánh cho mềm ra, chúng tôi cứ thế ăn sống, rất khó nuốt. Mẹ tôi chia đồ ăn, trước tiên cắt một ít cho con trai, phần còn lại thì chia cho con gái. Có một hôm tôi thực sự đói lả, liền lén lấy trộm cả miếng bánh, ăn một mình sạch sành sanh. Sau khi mẹ tôi phát hiện ra, liền đánh tôi, mắng tôi, 'Đồ ích kỷ thế cơ chứ! Một mình nuốt trọn cả miếng bánh.' Sau đó bà liền bỏ đói tôi ba ngày không cho ăn. Tôi khóc thương tâm biết bao, dạ dày đau nhức dữ dội biết bao—— vì gặm một miếng bánh cao lương nhỏ xíu mà răng tôi suýt gãy cả."

Bạn sẽ nghĩ rằng, khi Hồ Lan nhớ lại chuyện quá khứ ăn bánh cao lương của mình, sẽ thả vài đồng xu vào bát của cô gái ăn mày đó, hoặc cho cô ta chút đồ ăn, tôi thì tôi sẽ làm thế. ý tôi không phải là lần nào tôi cũng làm vậy. Thế nhưng Hồ Lan chưa từng bố thí lần nào. Ngược lại, cô ấy còn nhét nhiều thứ hơn vào miệng mình. Cân nặng của cô ấy cứ thế tăng lên, giống như một người đem vàng bạc hay tiền mặt gửi vào ngân hàng, để phòng hờ cho những lúc bất trắc vậy. Cho nên tôi mới nói Hồ Lan đã thay đổi nhân sinh quan của cô ấy. V vốn dĩ cô ấy rất rộng rãi. Thế mà bây giờ, nhìn thấy người khác đang chịu khổ, cô ấy lại nhớ đến quá khứ, nghĩ đến việc có một ngày mình cũng sẽ trở thành như thế.

Mùa hè năm đó, Văn Phúc và Gia Quốc đã đi Trùng Khánh. Gia Quốc nói họ đi huấn luyện những người lính chuẩn bị đến bảo vệ tân thủ đô. Anh ta không biết khi nào có thể về nhà, có lẽ phải mất hai, ba tháng.

Trước khi chồng tôi rời đi, anh ta khoác lác rằng nhiệm vụ của mình quan trọng lắm, phát triển thông tin liên lạc vô tuyến, như vậy trước khi máy bay Nhật đến thì không quân và lục quân đều sẽ biết trước. Khi anh ta nói những lời này, trong lòng tôi cứ lấn cấn hoài, không quân sao lại có thể giao phó nhiệm vụ quan trọng thế này cho cái kẻ suốt ngày nói dối chứ? Tôi vô cùng vui mừng khi anh ta đi rồi.

Họ vừa đi, Hồ Lan liền bắt đầu lo lắng, nghe ngóng đủ thứ tin vịt. Một hôm cô ấy nói, "Nghe nói Nhật Bản sắp tiến hành một cuộc oanh tạc quy mô lớn đối với Trùng Khánh, có khi Côn Minh cũng sẽ gặp vạ lây ấy chứ." Nói xong, cô ấy bắt đầu tự làm cho mình một bữa trưa thịnh soạn. Cứ nghe thấy tiếng sấm là cô ấy lại chạy ra ngoài ngóng lên bầu trời, chờ xem máy bay rơi xuống từ những đám mây đen.

Tôi bảo cô ấy, "Cậu phải nghe cho rõ đã rồi hẵng chạy ra xem. Sấm sét lúc nào cũng truyền từ ngọn núi phía bên Miến Điện sang phía tây, còn máy bay ném bom thì luôn bay từ hướng bắc sang hướng đông."

"Sao cậu biết bọn Nhật nghĩ gì chứ?" Cô ấy ra điều thông minh nói, "Cách suy nghĩ của bọn chúng không giống người Trung Quốc đâu." Nói xong cô ấy liền chạy ra ngoài ngắm trời, như thể muốn tìm kiếm bằng chứng để chứng minh tôi đã sai.

Tôi nhớ có một lần cô ấy lại chạy ra ngắm trời. Tôi đang tắm cho Đạm Nhược trong bếp, chợt nghe thấy tiếng thét chói tai của cô ấy, "Chúng đến rồi kìa! Chúng ta chết chắc rồi!"

Tôi ôm chầm lấy Đạm Nhược, nước bắn lên đầy người. Sau đó lao ra khỏi cửa nhà, nhìn theo hướng cô ấy chỉ. Hóa ra là một đàn quạ lớn đang bay qua, xếp thành đội hình hình mũi tên của máy bay chiến đấu bay vụt qua.

Tôi thở phào nhẹ nhõm, không khỏi mỉm cười. "Là chim mà." Tôi bảo cô ấy, "Chúng chỉ có thể phóng uế lên đầu chúng ta thôi."

Hồ Lan có vẻ rất giận dữ. "Cậu cười cái gì hả?"

"Tôi có cười đâu."

"Tôi thấy cậu cười mà."

"Tôi đương nhiên là cười rồi. Cậu bảo chúng ta chết chắc rồi, tôi chạy ra xem thì thấy mình chưa chết, chỉ nhìn thấy chim chóc thôi, tôi cười cái đó cơ."

"Dù bây giờ nhìn thế nào đi nữa, chúng cũng rất giống máy bay mà. Cậu nhìn đi. Ai mà chẳng có lúc nhìn hoa mắt chứ."

Trong mắt tôi, chim thì vẫn là chim. Từ lúc đó trở đi tôi liền nghĩ, thị lực của Hồ Lan hình như không được tốt lắm. Bây giờ cô ấy lại còn trách tôi cứ nhìn nhầm. Mới đầu, cô ấy cứ thích đùa giỡn kiểu này.

Có lần kim đan len của cô ấy rơi xuống đất, một lúc sau cô ấy không tìm thấy nó nữa. Sau khi tôi giúp cô ấy tìm thấy, cô ấy liền cười nói rằng chắc có con quỷ nào đó đã nuốt chiếc kim, rồi sau đó lại nôn ra rồi. Nhưng lại có một lần cô ấy làm mất kim đan len, cô ấy liền nhíu mày nói, "Chắc là con trai cậu nhặt được, rồi cất nhầm chỗ rồi đây."

Tôi liền thấy khó hiểu, một người lúc nào cũng nhìn không rõ sự việc, lúc nào cũng không nhìn thấy lỗi sai của chính mình, thì sống kiểu gì cơ chứ? Lúc sau tôi lại nghĩ, sao cô ấy cứ hay đãng trí mà lại đi trách con trai tôi chứ? Bản thân cô ấy đến chim và máy bay còn phân biệt không nổi, sao lại còn đi trách mắng tôi cơ chứ? Lần thứ hai, tôi cùng Hồ Lan và Đạm Nhược ra chợ, tôi liền dẫn cô ấy đến một tiệm bán mắt kính.

Đây là một cửa hàng nhỏ mở ở khu chợ mới. Sau khi chiến tranh bắt đầu, việc làm ăn ở khu này ngược lại vẫn khá phát triển. Trên chiếc bàn nhỏ bày mấy cặp kính, trong cái giỏ còn đặt một chồng lớn. Chủ tiệm nói với chúng tôi, kính trên bàn là dùng để thử, xem cặp nào thích hợp nhất.

Hồ Lan đeo cặp kính đầu tiên lên, nhìn tôi và Đạm Nhược, lập tức mỉm cười, "Ái chà, cứ như đang đi trên mây ấy, đầu óc cứ xoòng xoòng chóng mặt."

Đạm Nhược nhìn Hồ Lan, không nói gì, vẻ mặt rất lo lắng. "Cậu không biết dì đi đâu rồi à?" Tôi nói. Nó cười với tôi, rồi tiện tay giật phăng cặp kính trên mặt Hồ Lan xuống.

Hồ Lan thử liên tục ba cặp, chúng tôi đều cười vui vẻ như nhau. Nhưng vừa đeo cặp thứ tư lên, cô ấy liền trở nên im lặng. Cô ấy không cho Đạm Nhược tháo nó xuống nữa. Cô ấy ngước lên nhìn, lại cúi xuống nhìn, tháo kính ra, rồi lại đeo lên. Cô ấy đi đến cửa tiệm, nhìn ngắm các cửa hàng đủ mọi màu sắc hai bên đường. "Tớ nhìn thấy một chiếc khăn choàng cổ rất đẹp," cô ấy la lên, "tớ nhìn thấy đậu nành tớ muốn mua."

Chủ tiệm mừng quýnh lên, ông ta bảo Hồ Lan nên chọn từ cái giỏ nào. Có cái viền bằng vàng, có cái nhìn thoáng qua là biết làm bằng tôn rẻ tiền. Tôi thấy có vài gọng đã rụng mất, lớp mạ vàng cũng bị mòn đi, để lộ ra lớp kim loại xám xịt bên dưới.

Mấy cặp kính này đều là đồ cũ mà." Tôi nói với chủ tiệm.

"Đương nhiên là đồ cũ rồi," ông ta nói, "dạo này kiếm đâu ra đồ mới? Tất cả đồ sắt đều dùng vào việc đánh giặc cả rồi, đừng nói tới mấy thứ này." Ông ta quay đầu nói với Hồ Lan, "Thưa bà, nhìn đây này, cặp này đặc biệt tốt, hàng Anh đấy. Còn cặp bà đang đeo ấy, rẻ thì rẻ thật, nhưng tôi phải nói thật với bà nhé, là hàng Nhật đấy."

Câu này đối với Hồ Lan và Đạm Nhược hình như không có tác dụng gì mấy, hai người bọn họ đang bận rộn bới móc lựa chọn trong giỏ. Nhưng nhìn cặp kính trong giỏ khiến tôi cảm thấy buồn nôn. Hồ Lan chọn một cặp kính tròn, không có gọng, chỉ cần kẹp lên mũi, móc cái gọng mạ vàng vào tai là được. Kiểu dáng cặp kính này đã lỗi thời rồi, nhìn chẳng đẹp chút nào. Tôi bảo cô ấy trông cô ấy giống như một người có học thức, nghe xong câu này hình như cô ấy rất vui vẻ.

Trên đường về nhà, cô ấy liên tục tháo kính xuống, đeo lên, đông nhìn tây ngó.

"Cậu nhìn thấy cái đó chưa?" Cô ấy hỏi.

"Một giỏ ớt đỏ." Tôi đáp.

"Cậu nhìn thấy cái đó chưa?" Cô ấy chỉ tay về phía tận cùng của con đường rất xa.

"Một người bán than củi."

"Còn ở đằng sau kia nữa?" Cô ấy giống như đang kiểm tra thị lực của tôi vậy.

"Một chiếc xe quân sự, bên ngoài đứng mấy người lính."

Cô ấy cứ ngắm nghía những thứ ở chợ mãi, lúc thì đeo kính, lúc thì tháo kính ra. Thế nhưng khi chúng tôi đến gần, tôi phát hiện ánh mắt Đạm Nhược cứ dán chặt vào mấy người lính đứng cạnh chiếc xe quân sự đó. Tôi cảm thấy rất kỳ lạ, một đứa trẻ con thì có thể nhìn thấy cái gì cơ chứ?

Toàn là mấy chàng trai trẻ, nhìn qua bộ quân phục chưa từng thấm nước trên người họ, có thể thấy họ là những tân binh. Rất nhiều người trông rất kiêu hãnh, vô cùng phấn khích, kiểm tra đôi giày mới, chiếc xe quân sự mà họ sắp sửa bước lên sẽ đưa họ đến một nơi mà họ không thể tưởng tượng nổi. Họ vẫn còn giữ được cái vẻ chân thành trẻ trung đó giống như Đạm Nhược.

Một người đàn ông lớn tuổi hơn phát ra mệnh lệnh vang dội. Những người lính trẻ lập tức đứng nghiêm, cố gắng ra vẻ mặt nghiêm nghị hết mức có thể. Chỉ trong vòng hai giây, theo tiếng động cơ gầm rú, tất cả bọn họ đều nhảy lên thùng sau của chiếc xe tải, đứng tựa lưng vào tấm chắn bằng gỗ, mắt nhìn thẳng về phía trước.

Lúc này tôi nhìn thấy mẹ, bà và chị em gái của họ, tất cả đều khóc lóc la hét, vẫy tay chào tạm biệt họ từ phía bên kia đường. Bọn họ đều mặc những bộ trang phục lễ hội đẹp nhất, trùm khăn đầu, mặc những chiếc váy rực rỡ muôn màu. Bọn họ từ trên núi xuống để tiễn đưa những người thân. Vẫn có một vài chiến binh trẻ tuổi mỉm cười, vẫy tay, vẫn rất phấn khích. Nhưng tôi cũng nhìn thấy có một người lính trông có vẻ rất sợ hãi, đùi cậu ta đang run rẩy, cậu ta muốn ráng nhịn không khóc, sợ người ta coi mình là trẻ con. Chiếc xe ô tô phóng đi, tôi nhìn theo cậu ta, không biết cậu ta sắp đi đến đâu, sẽ xảy ra tình huống gì. Tôi nghĩ cậu ta cũng đang suy nghĩ vấn đề tương tự.

"Cậu có nhìn thấy cái đó không?" Hồ Lan lại hỏi, cô ấy chỉ vào một giỏ nấm, đó chính là món ăn yêu thích nhất của tôi. Tôi lập tức ném đám lính đó ra sau đầu quên sạch sành sanh.

Buổi sáng hôm đó, Hồ Lan quả thực đã trở thành một chuyên gia về nấm. Kể từ khi cái gì cô ấy cũng có thể nhìn thấy rõ mồn một, cô ấy nhanh chóng chọn ra đủ thứ lỗi: có cái bị sâu đục, có cái bị thối sẹo, có cái bị ngấm nước. Nhưng may là nấm rất nhiều, chủng loại cũng rất phong phú, toàn là nấm tươi. Cái xứ Côn Minh này, nấm mọc quanh năm không dứt, toàn mọc ở những sườn dốc râm mát, nhấp nhô, ẩm ướt xung quanh thành phố. Tôi chọn một vài cây nấm cuống dài đầu to. Tôi không nhớ loại nấm này tên là gì nữa, nhưng tôi vẫn nhớ hương vị của nó, ngâm với nước muối, bỏ vào dầu nóng xào lên, vừa mềm vừa tươi, bạn sẽ ăn sạch cả cuống lẫn đầu mà không lãng phí chút nào. Hôm đó ở chợ tôi rất muốn ăn món này. Tôi thầm nghĩ buổi tối sẽ dùng bột tiêu nóng xào chúng lên, lại ngâm trong nước một thời gian thật lâu, cho đến khi ngâm đến mức ngấm nước đen sì lại thì thôi. Vừa tưởng tượng đến những cây nấm phình to thơm phức này, tôi vừa vươn tay định lấy hũ tiêu, đúng vào lúc ấy, đột nhiên, còi báo động và loa phóng thanh vang lên. Đang! Đang! Đang! Chú ý! Chú ý! Kêu mãi không ngừng.

Mọi người đều cuống cuồng chạy thục mạng giống như tôi và Hồ Lan vào cái ngày máy bay Nam Kinh rải truyền đơn vậy. Tôi ôm chầm lấy Đạm Nhược, vứt hết tất cả những thứ khác—— nấm và hũ tiêu vứt sạch sành sanh xuống đất. Những người khác cũng thế, vứt hết đồ đạc của họ xuống đất. Sau đó chúng tôi chen lấn xô đẩy la hét, chạy túa ra tứ phía, cứ thế chạy thẳng đến cửa thành, bởi vì loa phóng thanh bảo chúng tôi: Chạy đến cửa thành gần nhất, ra ngoài thành ngay!

"Gần nhất! Gần nhất! Ở đâu?" Mọi người đều la ó.

Hồ Lan đẩy cặp kính lên sống mũi. "Đi lối này!" Cô ấy hét lên, chỉ về phía nam.

"Đường này gần nhất." Tôi quay đầu hét lên, chỉ về phía bắc.

"Không có thời gian để cãi nhau nữa đâu."

"Cho nên tôi mới bảo đi hướng bắc. Nếu chạy nhanh một chút, vẫn còn kịp." Thế là tôi không cãi nhau với cô ấy nữa, tự lo chạy về phía cổng bắc.

Một lúc sau, tôi thấy Hồ Lan đã đuổi theo kịp. Chúng tôi vừa chạy, máy bay Nhật đã đến rồi, vừa ném bom vừa càn quét bằng súng máy. Chúng tôi có thể nhìn thấy chúng đến từ dưới mặt đất. Chúng tôi biết mấy chiếc máy bay này bay cao như vậy, chắc chắn có thể nhìn thấy chúng tôi đang chạy trốn. Chúng có thể nhìn thấy bộ dạng nhát gan của chúng ta. Bọn chúng có thể quyết định ném bom khu vực nào trong nội thành, càn quét ai.

Tôi có thể nhìn thấy máy bay ngày càng đến gần hơn. Nếu không phải toàn bộ tâm sức của tôi đều dồn hết vào việc chạy trốn, thì tôi đã sớm quát lên với Hồ Lan rồi, "Thấy chưa, chúng bay đến từ hướng đông, giống y như lời tôi nói với cậu vậy."

Sau đó cả hai chúng tôi đều nhìn thấy chiếc máy bay bỗng nhiên bẻ lái, quay đầu bay theo hướng ngược lại. Chúng tôi dừng bước chân lại. Vài giây sau, chúng tôi nghe thấy tiếng bom nổ, quả này nối tiếp quả khác. Mặt đất rung chuyển một trận, rồi—— mọi thứ đều kết thúc. Chúng tôi không chết. Tôi nhìn thấy phía nam khu thành nội bốc lên khói bụi. Đạm Nhược vỗ vỗ tay.

Còi báo động được giải trừ, chúng tôi quay người đi về. Những người xung quanh đều đang dùng giọng điệu phấn khích để bàn tán, chúc mừng lẫn nhau, "May mắn, may mắn, may mắn." Chẳng mấy chốc chúng tôi đã quay trở lại khu chợ. Nơi này còn bận rộn hơn lúc nãy, những kẻ vừa chết hụt này đều đã hạ quyết tâm, phải mua thêm một miếng thịt, hoặc mua thêm một đôi giày, hay mua một vài thứ mà bây giờ bọn họ không còn cảm thấy đắt đỏ nữa, có lẽ đến lúc còi báo động reo lên lần nữa, họ sẽ không còn ở trên cõi đời này nữa rồi.

Tôi và Hồ Lan đi đến cái sạp hàng lúc nãy, mua món nấm mà chúng tôi hằng ao ước. Người bán hàng bảo chúng tôi, ông ta không bị thiệt hại chút nào cả. Tất cả đồ đạc của ông ta vẫn ở nguyên chỗ cũ, không bị trộm mất, cũng không bị bom phá hủy. Chúng tôi chúc ông ta may mắn, ông ta liền bán cho chúng tôi giá ưu đãi. Mọi người đều trở nên hào phóng hẳn lên.

"Con trai cậu thông minh quá cơ," Hồ Lan nói, chỉ tay về phía Đạm Nhược, "chưa tròn một tuổi đâu, thế mà còi báo động vừa dứt là nó đã biết không khóc nữa rồi. Lúc bom rơi, nó còn tưởng là đang đánh sấm đấy. Nó quay đầu đi, chờ sấm chớp, người ta thì la hét om sòm, thế mà nó lại đi vỗ tay cơ chứ."

Hồ Lan khen Đạm Nhược như vậy, khiến tôi cảm thấy rất đỗi tự hào. Tôi tung nó lên không trung, nghe tiếng cười khúc khích của nó, "Đúng là một cậu phi công nhỏ tuyệt vời."

"Đúng là một đứa trẻ ngoan ngoãn!" Hồ Lan nói.

"Thông minh quá chừng!"

Chúng tôi đi bộ về nhà, dọc đường cứ bàn tán về Đạm Nhược, về vận may của chúng tôi, cả những ưu đãi mà chúng tôi có được ở khu chợ sau trận oanh tạc nữa.

Buổi tối hôm đó, chúng tôi dùng bữa tối thịnh soạn và chén trà thơm phức để ăn mừng trận oanh tạc đầu tiên. Dì Đỗ và những người hầu đều cười lớn sảng khoái. Khi còi báo động reo lên, bọn họ ở nơi mình ở ít nhất cũng đếm được mười lần báo động, khi nhắc đến lần thứ mười, câu chuyện này trở nên buồn cười làm sao, tất cả chúng tôi đều cười đến mức trào cả nước mắt.

"Tôi vừa mới xách cái bô đi vệ sinh đến cửa cầu thang," một người hầu nói, "Đang! Đang! Đang!—— Sau đó Bùm! Bùm! Bùm! Thứ thối tha này văng tung tóe khắp mặt đất."

"Cậu sợ khiếp vía lên rồi chứ gì?" Dì Đỗ la lên, "Lúc đó trong tay tôi cầm con dao phay đang rượt theo một con gà đấy—— một lát sau thì con gà quay sang rượt tôi!"

Hồ Lan nói, "Chúng tôi đứng ở đó, đang tranh cãi xem nên chạy về hướng nào cơ chứ. Tớ bảo với cậu, bom rơi ngay trên đầu cậu rồi, chân cậu có muốn cãi nữa cũng chẳng kịp đâu."

Hai ngày sau, máy bay ném bom lại đến. Chúng tôi lại một lần nữa chạy trốn ra ngoài cửa thành, rồi lại bình an vô sự trở về, chúng tôi cảm thấy may mắn, nhưng đó là một cảm giác may mắn hoàn toàn khác. Buổi tối chúng tôi lại ăn mừng một trận, nhưng lần này không náo nhiệt bằng lần trước. Trải nghiệm của chúng tôi vẫn rất buồn cười, nhưng không cười ra nước mắt nữa.

Mấy ngày sau đó, bom lại rơi xuống. Lần này chúng tôi không đùa giỡn nữa, không cười sảng khoái nữa, chúng tôi trò chuyện một cách rất bình thản. Dì Đỗ nghe nói vợ của một người quen của chúng ta bị thương rất nặng. Hồ Lan thắc mắc sao không quân của chúng ta không phản công. Cô ấy hy vọng các ông chồng của chúng tôi nhanh chóng quay về từ Trùng Khánh. Tôi nhắc đến việc máy bay Nhật hình như lúc nào cũng bay đến từ hướng đông, dì Đỗ cũng đồng tình: "Lúc nào cũng từ hướng đông tới."

Cho nên, mọi chuyện cứ thế diễn ra. Máy bay thường xuyên đến, một tuần khoảng ba lần, và lúc nào cũng vào buổi sáng. Tôi không biết tại sao người Nhật lại chọn buổi sáng, hình như chẳng có lý lẽ gì cả. Bọn chúng giống như chỉ để hoàn thành nhiệm vụ, sáng đánh bom Côn Minh, chiều đánh bom Trùng Khánh. Đối với chúng tôi mà nói, oanh tạc cũng đã trở thành một phần cuộc sống rồi.

Đương nhiên, nghe thấy tiếng còi báo động, chúng tôi vẫn sợ hãi. Nhưng bây giờ chúng tôi biết cách thu xếp đồ đạc cho ổn thỏa trước, nhớ kỹ vị trí đặt để sau này còn tìm lại được. Dì Đỗ thì phải xác định cho rõ cái nồi đang nấu đồ trên bếp lò đã được nhấc xuống chưa.

"Bằng không giữ được cái mạng về nhà nhìn thấy nhà cửa bị thiêu rụi sạch sành sanh thì còn ý nghĩa gì nữa?"

Hồ Lan lúc nào cũng vớ lấy cái túi nhét đầy đồ ăn mà cô ấy đã sớm đặt sẵn ở cửa. Đạm Nhược vươn hai tay nhào về phía tôi, chuẩn bị ra ngoài. Sau đó chúng tôi nhanh chóng xuất phát, thần sắc nghiêm nghị, giống như đi dự một đám tang, dọc đường chỉ cầu mong lúc chúng tôi đến nơi thì đám tang này sẽ không biến thành đám tang của chính chúng tôi.

Có lúc chúng tôi đi cửa bắc, có lúc đi cửa nam, có lúc băng qua những nơi đã sớm bị bom phá hủy từ trước, mấy tòa nhà biến thành phế mái, tất cả những ngôi nhà xung quanh vẫn sừng sững dựng đứng, chỉ là mái tranh thì không còn nữa, giống như bị gió lớn thổi bay mất cái nón vậy.

Chúng tôi vừa đến cửa thành, lập tức nhảy ù xuống một cái hố, hoặc trốn đằng sau gốc cây. Sau đó liền trò chuyện với cùng một đám người gần như ngày nào cũng gặp, trao đổi suy nghĩ cho nhau, tỷ như ở đâu có thể mua được mì sợi ngon nhất, sợi chỉ đẹp nhất, thuốc ho tốt nhất vân vân.

Tôi luôn chọn đúng cửa thành. Thật đấy, một tuần có ba lần chúng tôi có khả năng bị bom oanh tạc đến chết. Nhưng bao nhiêu ngày tháng ấy, bom chưa từng rơi xuống đầu chúng tôi, ngay cả ở cạnh bên cũng không có. Tôi liền nghĩ chắc do tôi bẩm sinh đã may mắn, có thể né tránh được bom đạn. Tôi luôn chọn đúng con đường lớn, chọn đúng cánh cửa, chọn đúng nơi để trốn tránh.

Một hôm, sau khi ăn cơm trưa xong chúng tôi đang chợp mắt, Hồ Lan liền nói chúng ta nên đi chợ thôi. Đạm Nhược đã ngủ say rồi, tôi liền giao nó cho dì Đỗ. Chúng tôi đi đến chợ trước, tìm đậu Hà Lan tươi, màu xanh biếc, ăn vào rất ngọt, rất hiếm có, tuy giá rất đắt, nhưng tôi vẫn mua một ít.

Đương nhiên, tôi rất may mắn, vẫn còn tiền để mua những thứ thế này. Rất nhiều người nghèo đến nỗi ngay cả món ăn bình thường nhất cũng không mua nổi. Thế nhưng trong thời kỳ chiến tranh, nếu bạn may mắn có tiền, bạn sẽ chẳng đời nào nghĩ đến chuyện chắt bóp chi tiêu cả. Hễ có cơ hội là phải nếm thử đồ tươi ngon, giống như câu cửa miệng của các bạn "ăn, uống, kết hôn". Cho dù ngày mai có tiêu đời đi chăng nữa, thì ít nhất vẫn còn có thứ để trông mong.

Cho nên tiền hồi môn của tôi tiêu như nước chảy. Có lúc tôi lười chẳng buồn mặc cả trả giá với người bán hàng. Bọn họ đều vui vẻ chào hỏi tôi, hễ thấy tôi là la lớn, "Thưa bà, thưa bà! Đậu mới hái đây, trứng vịt mới đẻ đây."

Chúng tôi đi đến quầy bán cá, Hồ Lan bảo tôi, cô ấy vừa nhận được một lá thư của Gia Quốc. Cô ấy rút thư ra, cho tôi xem phong bì.

Mặc dù Gia Quốc vẫn luôn dạy cô ấy đọc sách viết chữ, nhưng cô ấy học hành không chăm chỉ. Cho nên sau bốn năm kết hôn, trải qua bốn năm lớp học vỡ lòng, cô ấy chỉ nhận ra giá niêm yết ở ngoài chợ, và tất cả những chữ tượng trưng cho món ăn yêu thích của cô ấy, như "cá", "sườn", "mì" vân vân.

Đương nhiên, trước mặt Gia Quốc cô ấy cẩn thận che giấu điều này. Cô ấy giả vờ cái gì cũng đọc hiểu hết! Nếu tôi xem những thông báo hay đại loại thế được dán ở chợ, cô ấy nhất định sẽ hỏi tôi trên đó viết cái gì. Tối hôm đó, tôi sẽ nghe thấy cô ấy nói với Gia Quốc rằng, "Này anh, hôm nay em thấy thông báo liên quan đến đường sắt ở chợ đấy, rốt cuộc là chuyện thế nào vậy?"

Cho nên Gia Quốc chắc chắn nghĩ rằng mình là một giáo viên tốt, Hồ Lan là một học sinh ngoan, nên mới viết cho vợ mình một bức thư dài dằng dặc, chắc chắn nghĩ rằng cô ấy có thể tự đọc hiểu được.

Nhưng cô ấy đương nhiên là không đọc hiểu nổi rồi. Cô ấy đưa bức thư cho tôi, lấy cớ rằng hôm nay kính của cô ấy không đủ tốt, không nhìn rõ những chữ nhỏ xíu trên thư. Hoàn toàn là chuyện nhảm nhí. Gia Quốc viết rất cẩn thận từng nét từng chữ, giống như cách dạy học sinh viết ở trường, giống như cách anh ta dạy Hồ Lan viết vậy.

"'Thưa vợ yêu,' tôi đọc lớn lên, "'Anh vẫn luôn muốn viết thư cho em, nhưng cứ kéo dài mãi cho đến tận hôm nay mới đặt bút. Hôm nay anh nhớ lại cuộc trò chuyện của chúng ta bên hồ Xanh, những lời chúng ta nói trước lúc chia tay đau đớn biết bao!'"

"Ái chà!" Hồ Lan vội vàng giật phách bức thư từ trong tay tôi ra, "Anh ấy không nói câu này!" Cô ấy cười, như thể bức thư này đang đùa giỡn vậy. Cô ấy ngắm nghía bức thư, muốn xem thử dựa vào cặp kính của mình liệu có đọc ra được ý nghĩa gì không.

"Cậu rốt cuộc có muốn tôi đọc nữa không hả?" Tôi hỏi.

Cô ấy chần chừ đưa lại bức thư cho tôi.

Tôi lướt nhanh qua một lượt, rồi lại đọc tiếp. Lần này đọc chậm hơn một chút: "'Anh hy vọng nước mắt của em không bị khóc cạn. Trái tim gan ruột của anh đều đang cháy bỏng vì đau đớn, mặc dù anh biết rằng, với tư cách là một người chồng vô dụng như anh, nỗi đau mà anh mang lại cho em còn lớn hơn nhiều.'"

"Đừng đọc nữa, không đọc nữa!" Hồ Lan la lên, một tay bịt miệng tôi lại, tay kia thì nhào tới giật lấy bức thư. Tôi từ từ trả lại thư cho cô ấy, cô ấy quay người đi, nhanh chóng nhét bức thư vào trong ví tiền. Sau đó quay người lại, vẻ mặt vô cùng căng thẳng.

Chúng tôi im lặng mất mấy phút, tôi cảm thấy chẳng có gì để nói nữa. Tôi cảm thấy vô cùng ngượng ngùng—— bởi vì tôi đã biết những chuyện mà cô ấy không muốn cho tôi biết rồi. Trước khi trả lại bức thư, tôi đã lướt nhanh qua mấy câu ở đoạn sau. Tôi đã biết được bí mật: Gia Quốc rất hối hận vì anh ta đã không làm tròn trách nhiệm của một người chồng đối với vợ mình. Bây giờ anh ta thề rằng, chừng nào anh ta còn sống, thì sẽ làm một người chồng thực thụ. Anh ta hy vọng đến năm sau, cô ấy có thể làm mẹ của con anh ta.

Đương nhiên, tôi vô cùng kinh ngạc, không ngờ cuộc hôn nhân của họ lại là thế này. Tôi không hiểu đây có ý nghĩa gì, chẳng lẽ hai người họ sau khi kết hôn vẫn luôn sống giống như huynh muội, một người làm hòa thượng, một người làm ni cô? Chẳng lẽ còn có ý nghĩa nào khác sao? Tại sao Hồ Lan lại không có con? Chẳng lẽ Gia Quốc không có ham muốn với cô ấy sao? Chẳng lẽ anh ta vẫn luôn trung thủy với người chị gái đã khuất của cô ấy? Hay là, anh ta cũng giống như Văn Phúc, đã để mắt đến người phụ nữ khác?

Bỗng chốc tôi càng hiểu rõ về cô ấy hơn. Mỗi lần tôi phàn nàn nhu cầu sinh lý của Văn Phúc quá mạnh mẽ, cô ấy lại trách mắng tôi; mỗi lần tôi ôm Đạm Nhược vào lòng, cô ấy lại nhìn tôi với ánh mắt đố kỵ. Tôi lập tức tha thứ cho cô ấy, hối hận vì bản thân lúc nào cũng suy diễn cô ấy theo chiều hướng xấu.

Thế nhưng tôi vẫn đố kỵ với cô ấy. Hôn nhân của cô ấy không có tình dục, hôn nhân của tôi không có tình yêu, cô ấy vẫn giỏi giang hơn tôi. Tôi không tài nào hiểu nổi cô ấy—— người phụ nữ này đối với tôi đã trở thành một điều bí ẩn, quá nhiều chuyện cô ấy đều giấu giếm.

"Cậu ngàn vạn lần đừng nghĩ rằng Gia Quốc đã làm chuyện gì sai trái nhé." Hồ Lan nghiêm túc nói với tôi, "Chỉ là cãi nhau sơ qua một chút thôi, toàn vì mấy chuyện lông gà vỏ tỏi ấy mà, tớ quên bẵng mất là chuyện gì rồi."

"Tôi đương nhiên sẽ không nghĩ như vậy rồi," tôi nói, "tôi vẫn luôn cảm thấy Gia Quốc rất hiểu lý lẽ, đối xử với mọi người rất ôn hòa——"

Ngay lúc này, còi báo động vang lên.

Hồ Lan nhíu mày nói, "Sao lại thế được nhỉ?"

"Trời không còn sớm nữa, đã sắp đến chập tối rồi." Nói xong cô ấy liền đi về hướng về nhà.

Tôi gọi cô ấy quay lại, "Đừng ngốc nghếch thế chứ! Sẽ chẳng có ai ở nhà đâu. Bọn họ đã chạy ra khỏi cửa nhà, đang chạy về phía cửa thành rồi kìa."

Tôi quyết định chúng ta nên làm thế nào. Hồ Lan đi cửa bắc, tôi đi cửa đông. Sau đó chúng tôi lại quay trở về, dọc đường đi tìm kiếm đối phương. Suy nghĩ của tôi thực tế hơn một chút, tôi nói, nếu trời chưa muộn, chúng ta sẽ quay lại chợ mua cá, vẫn còn kịp làm bữa tối. Chúng tôi mỉm cười chia tay nhau.

Tôi vội vã bước đi trên suốt dọc đường, vừa đi vừa đưa ra đủ mọi quyết định. Tôi rẽ vào một con hẻm nhỏ, bởi vì làm thế có thể đi đường tắt một chút. Dọc đường tôi liên tục ngóng trông, thầm nghĩ lỡ như đụng độ dì Đỗ và Đạm Nhược thì sao. Rồi tôi lại tính toán, lúc quay lại chợ nên mua thêm chút gì đây, đương nhiên là mua thêm chút váng đậu, về nhà xào rau cải xanh.

Lúc tôi đang tính toán bữa tối thì tiếng máy bay vang lên, cắt đứt dòng suy nghĩ của tôi. Tôi có hơi thắc mắc, sao bọn chúng không quay đầu bay sang phía bên kia của nội thành cơ chứ. Tiếng máy bay ngày càng vang to hơn, đầu óc tôi càng thêm hỗn loạn. Không biết từ lúc nào đã đi đến giữa đại lộ, tôi quả thực phát điên lên rồi, máy bay đang ở ngay trên đỉnh đầu tôi kìa.

Đột nhiên, đạn bắn ra từ súng máy nện vào tòa nhà màu trắng ngay trước mặt tôi—— trên tường lập tức xuất hiện một hàng vết đạn, giống như vừa kéo đứt đường chỉ để lộ ra đường khâu vậy. Mảnh tường dưới đường khâu bắn tung tóe, tiếp theo là một nửa bức tường phía trên cũng đổ sụp xuống, giống như một đống bột mì đổ từ trong bao tải ra vậy. Chỉ trong chớp mắt—— nhanh đến mức ấy—— những ý nghĩ thông minh trong đầu tôi lập tức trào ra hết. Tôi thét chói tai lên, bụi bặm lập tức sặc vào cổ họng, làm cay xè đôi mắt.

Tôi cảm thấy một trận ngạt thở, liên tục ho sặc sụa. Tôi dụi dụi mắt, muốn nhìn lại lần nữa. Còi báo động vẫn đang reo. Máy bay quần đảo trên đỉnh đầu, khắp nơi đều là tiếng súng máy, tiếng bom nổ. Tôi cuối cùng cũng mở bừng mắt ra, phát hiện trước mặt mình có đứng một người phụ nữ. Trong tay cô ta cầm một chiếc chổi rách, đôi mắt mở to tròn xoe như quả trứng gà, ngây người nhìn chằm chằm bầu trời. Sau đó cái miệng của cô ta trĩu xuống, ngày càng to ra, bộ dạng rất đáng sợ, giống như cô ta thở không ra hơi, muốn kéo to miệng ra vậy.

Thế là tôi cũng ngước đầu lên nhìn bầu trời, hai cái bóng dáng có hình thù giống như con cá rơi xuống, chao đảo lắc lư, ngày càng to hơn. Tôi còn chưa kịp tự nhủ "bom kìa", thì đã ngã rạp xuống đất. Mặt đất rung chuyển một trận, bên tai vang lên tiếng lùng bùng, khắp bốn phương tám hướng đều là tiếng vỡ vụn của kính.

Sau khi thần trí tỉnh táo lại, tôi phát hiện mình đang úp mặt xuống đất. Tôi không biết là do chính mình tự ngã sấp xuống, hay bị sức ép của luồng không khí thổi ngã, là qua một giây, hay là cả một ngày trời. Tôi ngước đầu lên, thế giới đã thay đổi, trên trời rơi cát xuống, tôi cứ tưởng mình đang nằm mơ, bởi vì mọi người đi bộ đều rất chậm chạp, hình như vẫn còn đang trong giấc mộng vậy. Có lẽ chúng ta đã chết rồi, đang chờ bị đày xuống âm phủ đây mà. Nhưng lúc này tôi ho khan lên, cổ họng bị sặc đau nhức khôn cùng.

Còi báo động đã tắt, tôi đứng dậy, bắt đầu đi ngược về. Về phía bên trái của mình, tôi nhìn thấy đằng sau mái nhà đang bốc khói ngút ngàn, có lẽ đại lộ ở đằng xa đã bốc cháy rồi. Tất cả mọi thứ trong ngôi nhà đều bị hất văng lên mái nhà và đường cái, nào là chăn mền, ghế đẩu, bánh xe đạp, bếp lò và ấm trà, cả những mảnh quần áo vụn nữa—— không chỉ là quần áo, mà còn có cả một chiếc tay áo dính nguyên cánh tay, một chiếc giày dính nguyên bàn chân, thảm thương đến mức không dám nhìn mà!

Tôi chậm rãi đi lướt qua những thứ này. Tôi nhìn thấy người phụ nữ cầm cây chổi ấy vẫn còn ở đó, bom chưa rơi cô ta đã phát ra tiếng thét. Cô ta ngồi bệt dưới đất, hai tay giơ lên rồi lại hạ xuống, cầu xin bầu trời, "Mẹ ở đâu hả con? Mẹ bảo con đừng ra ngoài mà. Bây giờ con còn nghe lời mẹ nữa không?"

Lúc này tôi chợt nhớ ra: Đạm Nhược—— nó ở đâu?

Tôi cắm cổ chạy thẳng về nhà. Dọc đường nhìn thấy những kẻ đang bò lết, những đứa trẻ đang khóc lóc, có người đàn ông tai chảy đầy máu tươi, thế mà anh ta vẫn còn đang ngớ ngẩn cười cợt cơ chứ. Càng đến gần nhà, tôi nhìn thấy trên đường cái chen chúc đầy những kẻ may mắn bình thường đó, đang xôm tụ bàn tán râm ran, y hệt như bình thường sau khi còi báo động được giải trừ vậy.

Lúc tôi bước vào nhà, Hồ Lan đã đang uống trà rồi, cô ấy chậm rãi đặt cặp kính lên sống mũi, đánh giá một con cá khô ngâm trong chiếc tô lớn, "Ái chà! Về chưa tới một tiếng đồng hồ, nhìn xem, bây giờ trong bữa tối của chúng ta có ít nhất mười con sâu đang bơi lội tung tăng rồi kìa."

"Bọn chúng ở đâu?" Tôi hỏi.

"Ở trong tô này này, ở cùng với con cá."

"Này! Ý tôi là Đạm Nhược và dì Đỗ cơ—— bọn họ ở đâu?"

"A! A! A!" Cô ấy cười hì hì, "Vẫn chưa về đâu. Có lẽ sắp về rồi đấy."

Cửa mở ra, tôi lập tức tiến bước lên đón—— thế nhưng đầu bếp và người hầu, hai kẻ này cũng đang cười cợt. Tôi lao vội ra khỏi cửa, ngóng mắt nhìn ra đường.

"Đừng lo lắng," Hồ Lan gọi với theo tôi, "bọn họ sắp về rồi. Uống ngụm trà trước đã. Cậu có lo lắng cũng chẳng ích gì đâu, bọn họ cũng chẳng chạy nhanh hơn được đâu."

"Sao tôi có thể không lo cho được chứ?" Tôi quát lên với cô ấy, "Tôi tận mắt nhìn thấy bom rơi xuống, suýt chút nữa là rơi trúng đầu tôi. Tôi nhìn thấy rất nhiều người chết, người bị thương, khung cảnh thảm thương làm sao, giày không có chân, chân không có bàn chân——"

"Cậu đang nói cái gì thế hả!" Hồ Lan ngắt lời tôi, "Cậu nhìn thấy á? Ở đâu?"

Thế là hai chúng tôi lập tức lao ra ngoài đường. Nửa đường, sấm bắt đầu gầm rền. Chúng tôi vừa chạy đến chỗ bom rơi, trời liền đổ mưa xuống. Hồ Lan đành phải liên tục lau cặp kính của mình.

Trên đường phố hỗn loạn vô cùng, cảnh sát, quân đội và nhân viên phục vụ người Mỹ đều có mặt ở đó. Năm chiếc xe tải và một chiếc xe cứu thương chặn kín cả con đường. Chúng tôi leo lên một ngọn đồi nhỏ, bên trên đứng kín mít người, lưng của bọn họ ướt đẫm mồ hôi, không phân biệt nổi là mồ hôi, nước mưa, nước bùn hay là máu tươi nữa.

"Chuyện gì thế này?" Hồ Lan vừa nói, vừa dùng đầu ngón tay lau cặp kính, "Cậu nhìn thấy gì thế?"

Chúng tôi tiến lên phía trước vài bước, tôi nhìn thấy rất nhiều người đang quỳ rạp trên đỉnh một ngọn đồi nhỏ, nơi đó ban đầu chắc hẳn phải là một công trình kiến trúc nào đó. Bọn họ toàn bộ đều đang dùng xẻng, xẻng xúc đất và ván gỗ hỏng để điên cuồng đào bới.

Lúc này tôi nhìn thấy người phụ nữ cầm cây chổi trên đường lớn lúc nãy. Cô ta cũng quay mặt lại nhìn thấy tôi, vẻ mặt đầy kinh ngạc. Chỉ trong chớp mắt, giống như trong gương vậy, chúng tôi đều nhìn thấy cùng một biểu cảm sợ hãi tột độ.

"Đừng thế nữa! Các người đào bới thô bạo quá rồi đấy!" Cô ta quát lên với những người khác. Nhưng chẳng có ai thèm để ý đến cô ta cả.

"Nhẹ tay thôi, nhẹ tay thôi." Cô ta nài nỉ, "Phải thế này cơ." Tôi thấy cô ta quỳ rạp xuống đất, dùng đôi ngón tay máu thịt be bét của mình bới móc ra một viên hòn gạch, một miếng ván gỗ, một hòn đá. Sau đó những thứ nguy hiểm này được dọn ra rồi, cô ta liền áp mặt sát xuống đất, cẩn thận tìm kiếm thứ mà cô ta muốn tìm.

Tôi vẫn không hiểu rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì ở đây, người phụ nữ đó bới móc trên ngọn đồi toàn gạch ngói vụn và xương cốt vỡ nát. Tôi không biết đứa trẻ mất tích là con trai hay con gái, bởi vì lúc bọn họ tìm ra đứa trẻ của cô ta thì tôi không thể nhìn nổi nữa rồi. Chỉ nghe thấy cô ta cứ khóc lóc mãi không thôi, tự mắng nhiễu chính mình, "Đều tại tôi không tốt cả! Tại tôi không tốt đấy!" Tôi không muốn nhìn đứa trẻ nát tan xương thịt ấy nữa, bởi vì vào lúc này chúng tôi vẫn đang tìm kiếm Đạm Nhược.

Nhưng chúng tôi chẳng tìm thấy Đạm Nhược hay dì Đỗ trong đám đông này. Trên những ngôi nhà đổ nát dọc đường lớn cũng chẳng có bóng dáng của họ. Tôi và Hồ Lan ở lại nơi này mấy tiếng đồng hồ, lắng nghe tiếng những người mẹ khác đang khóc than những đứa con mất tích của họ, tận mắt chứng kiến hy vọng hết lần này đến lần khác vỡ tan, tiếng la hét, tiếng khóc lóc, tiếng sụt sùi không tin người thân đã chết dần dần biến thành những tiếng thì thầm hối hận.

Mỗi lần hy vọng tiêu tan, người được cứu ra là con của người khác, tôi lại thầm hứa một điều ước. Tôi hết điều ước này đến điều ước khác. Tôi cất tiếng nói thật to, tôi thề với tất cả các vị nam thần nữ thần, xin hãy phù hộ cho con trai Đạm Nhược của tôi đi, tôi nhất định sẽ làm một người vợ hiền mẹ thảo, đối xử chân thành với người bạn Hồ Lan, trung thành tận tụy với cô ấy, tha thứ cho người chồng Văn Phúc và chăm sóc anh ta thật tốt, tôn kính trưởng bối dì Đỗ, nghe lời bảo ban của bà. Tôi không oán không hối chấp nhận số phận.

Tôi vừa hứa xong điều ước cuối cùng, chợt nhìn thấy người hầu của tôi đang chạy hớt ha hớt hải tới, vừa khóc vừa la lớn, "Cuối cùng cũng tìm được cô rồi." Cứ làm như chúng tôi mới là kẻ mất tích ấy. Ái chà, lúc cô ta nói cho tôi biết, tôi khóc thương tâm biết bao nhiêu! Những suy nghĩ nén chặt trong lòng tôi—— tôi cứ ngỡ rằng mình thực sự đã mất đi nó rồi—— đều được nôn thốc nôn tháo ra hết. Người hầu nói cho tôi biết, dì Đỗ và Đạm Nhược đang ở nhà, chúng tôi vừa ra ngoài chưa đầy hai phút thì họ đã về đến nhà rồi. Mọi người nghĩ đến điểm này đều cảm thấy vô cùng đau lòng, bọn họ rõ ràng không hề mất tích, thế mà chúng tôi đi tìm họ chắc chắn đã lo lắng đến chết mất thôi.

Cho nên, Đạm Nhược hoàn toàn bình an vô sự. Bây giờ tôi biết mình buộc phải giữ lời hứa. Những điều ước mà tôi hứa Hồ Lan đều nghe thấy hết, đặc biệt là đoạn tôi nói muốn làm người bạn trung thành của cô ấy. Dương nhiên tôi chưa từng nghĩ đến chuyện thu hồi lại lời hứa. Nếu như điều ước tôi hứa mà ít đi một chút, nói không chừng Đạm Nhược đã chết từ đời nào rồi. Nói không chừng tuy người vẫn còn sống, nhưng lại thiếu đi một con mắt, hoặc một cái chân. Ai mà nói trước được chứ? Ai mà biết được hy vọng được thực hiện bằng cách nào cơ chứ?

Đương nhiên, sau đó, tôi nhớ lại, tôi thật là may mắn, ngay vào lúc tôi đang hứa điều ước, bọn họ đã về đến nhà rồi.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Đàm Ân Mỹ

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.