Hôm nay Nữ thần Thiên nhiên dường như đắm chìm trong tình ái,
Nhựa sống tràn trề bắt đầu tuôn chảy,
Dòng nhựa tươi rạo rực qua những chùm dây leo quấn quýt,
Và loài chim đã chọn cho mình bạn tình đôi lứa.
Con cá hồi đa nghi nằm lặng phía dưới,
Đã cắn câu mồi giả khéo léo khôn ngoan.
Đứng đó là bạn tôi, với sự kiên nhẫn trọn vẹn,
Đang dõi theo chiếc phao run rẩy trên mặt nước.
SIR H. WOTTON.
Bản gốc

Người ta kể rằng có không biết bao nhiêu chú nhóc bất trị bị xúi giục bỏ trốn khỏi gia đình và dấn thân vào nghiệp thủy thủ chỉ vì đọc cuốn tiểu thuyết về Robinson Crusoe; và tôi nghi ngờ rằng, tương tự như vậy, nhiều vị quý ông đáng kính hay la cà bên những con suối đồng quê với chiếc cần câu trên tay cũng bắt nguồn niềm đam mê của họ từ những trang sách đầy sức cám dỗ của bậc chân tu Izaak Walton. Tôi nhớ lại quãng thời gian mình nghiền ngẫm cuốn The Complete Angler (Người câu cá trọn vẹn) cách đây vài năm cùng một nhóm bạn ở châu Mỹ, và hơn thế nữa, tất cả chúng tôi đều bị cơn sốt câu cá hớp hồn hoàn toàn. Khi đó hãy còn là những ngày đầu năm, nhưng ngay khi thời tiết thuận lợi, và mùa xuân bắt đầu chuyển mình sang chớm hè, chúng tôi liền xách cần lên đường về vùng quê, ngớ ngẩn chẳng kém gì Don Quixote sau khi đọc những cuốn truyện hiệp sĩ.
Một thành viên trong nhóm chúng tôi tỏ ra chẳng kém cạnh gì vị hiệp sĩ xứ La Mancha về khoản trang bị, khi sắm sửa cho cuộc hành trình từ đầu đến chân. Anh ta mặc một chiếc áo khoác vải thô rộng thùng thình, chi chít đến nửa trăm cái túi lớn nhỏ; một đôi giày cao cổ chắc chắn cùng chiếc xà cạp bằng da; một chiếc giỏ đựng cá treo lủng lẳng bên hông; một chiếc cần câu hiện đại, một chiếc vợt bắt cá, và đôi mươi thứ dụng cụ phiền toái khác chỉ có thể tìm thấy trong kho vũ khí của một tay câu cá chính hiệu. Mang trên mình đầy đủ trang thiết bị như vậy, anh ta trở thành một chủ đề để dân làng—những người chưa từng thấy một tay câu chuyên nghiệp nào—nhìn trân trân và kinh ngạc, chẳng khác nào người anh hùng mặc giáp sắt xứ La Mancha giữa đám mục đồng vùng Sierra Morena.
Cuộc thử sức đầu tiên của chúng tôi diễn ra dọc theo một con suối nhỏ trên núi thuộc vùng cao nguyên Hudson—một địa điểm vô cùng bất lợi cho việc áp dụng những chiến thuật câu cá vốn được phát minh bên những bờ cỏ mượt mà của các con lạch nhỏ yên bình ở nước Anh. Đó là một trong những dòng suối hoang dã, giữa chốn thâm sơn cùng cốc lãng mạn của chúng tôi, tự do ban phát biết bao vẻ đẹp ngỡ ngàng đủ để lấp đầy cuốn sổ phác thảo của một kẻ săn tìm phong cảnh nên thơ. Có lúc nó lao vút qua những ghềnh đá, tạo thành những ngọn thác nhỏ, nơi các cành cây vươn nhữngh nhánh rộng che chở và những đám cỏ dại không tên rủ xuống tua tủa từ những bờ vực chênh vênh, nhỏ giọt lấp lánh như kim cương. Có lúc nó gầm gào và cuồn cuộn chảy qua khe núi dưới bóng râm dày đặc của khu rừng, lấp đầy không gian bằng những âm thanh rì rầm, để rồi sau chặng đường hung hăng ấy, nó lại luồn lách bước ra ánh sáng ban mai với bộ mặt điềm tĩnh, đoan trang nhất có thể, hệt như một mụ vợ đanh đá cay nghiệt nào đó, sau khi làm cả nhà náo loạn bởi những trận cãi vã và hậm hực, lại tủm tỉm bước ra cửa, nhún nhảy uốn éo và mỉm cười với tất cả mọi người.
Con suối lang thang ấy vào những khoảnh khắc đó mới uyển chuyển làm sao khi trôi êm đềm qua những thung lũng cỏ xanh giữa núi non, nơi sự yên tĩnh chỉ thỉnh thoảng bị phá vỡ bởi tiếng chuông lanh lảnh từ bầy gia súc lười biếng gặm cỏ trên đồng cỏ ba lá hay tiếng rìu của người tiều phu vọng lại từ khu rừng bên cạnh!

Phần tôi, từ trước đến nay tôi luôn là một kẻ hậu đậu trong mọi loại thể thao đòi hỏi sự kiên nhẫn hoặc sự khéo léo, và tôi câu chưa đầy nửa tiếng là đã hoàn toàn “thỏa mãn cảm xúc,” đồng thời tự thuyết phục bản thân về sự đúng đắn trong quan điểm của Izaak Walton rằng câu cá cũng giống như thi ca—con người sinh ra phải có sẵn khiếu ấy. Tôi tự móc câu vào người thay vì bắt cá, vướng dây vào mọi tán cây, làm mất mồi, gãy cả cần, cho đến khi tôi bỏ cuộc trong tuyệt vọng, và dành trọn cả ngày dưới bóng cây để đọc sách của cụ Izaak, nhận ra rằng chính chất văn mộc mạc chân phương cùng tình cảm điền viên đầy mê hoặc của ông đã bỏ bùa tôi, chứ không phải niềm đam mê câu cá. Tuy nhiên, các bạn đồng hành của tôi lại tỏ ra kiên trì hơn với ảo tưởng của mình. Ngay lúc này đây, tôi vẫn thấy họ trước mắt, đang lầm lũi bò dọc theo bờ suối nơi dòng nước chảy ra khoảng không đón ánh nắng hoặc chỉ bị bao bọc bởi những lùm cây bụi rậm. Tôi nhìn thấy con vạc cất tiếng kêu trầm đục cất cánh bay lên khi họ xâm nhập vào chốn trú ẩn hiếm hoi bị quấy rầy của nó; con bói cá đang cảnh giác quan sát họ từ cái cây khô rủ bóng xuống hồ nước sâu đen ngòm trong hẻm núi; con rùa biển trượt mình sang một bên khỏi tảng đá hoặc khúc gỗ mà nó đang nằm phơi nắng; và chú ếch hoảng loạn lao đầu ùm xuống nước khi họ đến gần, gieo rắc sự hoảng sợ khắp thế giới thủy cung xung quanh.
Tôi cũng nhớ lại rằng, sau khi nhọc công lặn lội, canh chừng và rón rén suốt cả buổi trời, chẳng thu được chiến tích gì đáng kể mặc cho chúng tôi có trong tay đủ thứ trang thiết bị tối tân, thì một chú nhóc nhà quê ngờ nghệch lại từ trên đồi đi xuống với một chiếc cần làm từ cành cây, dăm thước dây thừng, và, trời phù hộ tôi! tôi tin là cả một chiếc ghim băng uốn cong làm lưỡi câu, mồi nhử là một con giun đất gớm ghiếc, thế mà chỉ trong nửa giờ đã bắt được nhiều cá hơn cả tổng số lần cá rỉa mồi của chúng tôi trong suốt cả ngày!
Nhưng hơn hết thảy, tôi nhớ mãi bữa ăn “ngon lành, mộc mạc, thịnh soạn và đầy thèm thuồng” mà chúng tôi dùng dưới gốc cây sồi ngay cạnh một con suối nước ngọt mát rượi rỉ ra từ sườn đồi, và nhớ cả lúc bữa ăn kết thúc, một người trong nhóm đọc lại đoạn gặp gỡ của cụ Izaak Walton với cô gái vắt sữa, trong khi tôi nằm dài trên thảm cỏ xây những lâu đài mây rực rỡ cho đến khi chìm vào giấc ngủ. Tất cả những điều này có vẻ như chỉ là sự tự cao tự đại thuần túy, thế nhưng tôi không sao kiềm chế được việc thốt lên những ký ức ấy, chúng đang trôi qua tâm trí tôi như một khúc nhạc và vừa được gợi lại bởi một khung cảnh dễ chịu mà tôi mới chứng kiến cách đây không lâu.

Trong buổi dạo chơi buổi sáng dọc theo bờ sông Alun—một dòng suối nhỏ xinh đẹp chảy từ những ngọn đồi xứ Wales xuống rồi hòa mình vào sông Dee, sự chú ý của tôi đã bị thu hút bởi một nhóm người đang ngồi bên bờ. Lại gần, tôi nhận ra đó là một lão ngư kỳ cựu cùng hai môn đệ nhà quê. Người đi đầu là một lão già cụt một chân, mặc bộ quần áo vá chằng vá đụp nhưng được khâu vá vô cùng cẩn thận, minh chứng cho cảnh nghèo đến một cách lương thiện và được duy trì một cách đàng hoàng. Gương mặt lão hằn in dấu vết của những giông bão cuộc đời nhưng hiện tại đang bình yên, những nếp nhăn trên mặt đã hằn sâu thành một nụ cười quen thuộc, mái tóc điểm hoa râm xõa quanh vành tai, và tổng thể lão toát lên cái vẻ điềm đạm, vui tính của một nhà triết học bẩm sinh luôn sẵn sàng đón nhận thế giới theo cách nó vận hành. Một trong những người bạn đồng hành của lão là một kẻ rách rưới với ánh mắt lén lút của một tên trộm cá chuyên nghiệp, và tôi dám cá hắn có thể mò ra ao cá của bất kỳ vị quý ông nào trong vùng vào đêm đen mịt mù nhất. Người còn lại là một chàng trai nhà quê cao gập ghềnh, lóng ngóng, với dáng đi lững thững, trông có vẻ như một anh chàng hào hoa thôn dã. Lão già đang bận rộn mổ bụng con cá hồi vừa bắt được để xem xét bên trong nó có những loại côn trùng nào đang mùa làm mồi, đồng thời giảng giải về đề tài đó cho các bạn đồng hành, những người có vẻ đang chăm chú lắng nghe với sự kính trọng vô bờ bến. Tôi vẫn dành tình cảm trìu mến cho tất cả những “huynh đệ câu cá” kể từ khi đọc Izaak Walton. Ông khẳng định họ là những con người có “tâm hồn ôn hòa, ngọt ngào và bình yên”; và sự kính trọng của tôi đối với họ càng tăng lên sau khi tôi tình cờ đọc được một cuốn tiểu luận cổ về nghề câu cá bằng cần (Tretyse of fishing with the Angle), trong đó nêu ra rất nhiều châm ngôn của hội huynh đệ vô hại này. Cuốn tiểu luận nhỏ trung thực này viết rằng: “Hãy cẩn thận bảo ban nhau rằng khi đi dã ngoại giải trí, chớ có mở cổng nhà ai mà không khép lại như cũ. Hơn thế nữa, các ngươi không được sử dụng môn thể thao tài khéo này vì lòng tham lam chỉ để kiếm tiền hay tiết kiệm tiền của bản thân, mà chủ yếu là để giải khuây, mang lại sức khỏe cho thể xác và đặc biệt là cho tâm hồn.” *
Tôi ngỡ như mình có thể nhận ra ở người lão ngư trước mặt một minh chứng sống động cho những gì tôi từng đọc; và có một sự mãn nguyện vui tươi hiện lên trên nét mặt lão khiến tôi vô cùng quý mến. Tôi không thể không chú ý đến dáng vẻ đầy kiêu hãnh khi lão chống nạng lê bước từ khúc suối này sang khúc suối khác, vung cần trên không trung để dây câu không bị kéo lê trên mặt đất hay vướng vào bụi cây, cùng sự khéo léo đến mức thả mồi bay vun vút đến một vị trí chính xác nào đó, có khi lướt nhẹ nhàng qua một đoạn ghềnh nước chảy xiết, có khi ném mồi vào một trong những hố sâu tối tăm được tạo bởi rễ cây xoắn xuýt hoặc bờ vực nhô ra nơi những con cá hồi lớn thường ẩn náu. Trong khi đó, lão vẫn đang tận tình hướng dẫn hai môn đệ của mình, chỉ cho họ cách cầm cần, gắn mồi, và điều khiển mồi lướt trên mặt nước. Khung cảnh ấy gợi nhớ lại những lời chỉ dạy của bậc hiền triết Piscator dành cho học trò của ông. Vùng đồng quê xung quanh mang phong vị điền viên mà Walton vô cùng yêu thích miêu tả. Đó là một phần của vùng đồng bằng lớn Cheshire, nằm ngay sát thung lũng xinh đẹp Gessford, và chính là nơi những ngọn đồi thấp của xứ Wales bắt đầu nhô lên từ giữa những thung lũng cỏ xanh ngát hương thơm. Ngày hôm đó cũng vậy, giống như những gì được ghi chép trong tác phẩm của ông, trời dịu mát và đầy nắng, thỉnh thoảng lại có những hạt mưa rây nhẹ rải những viên kim cương khắp mặt đất.
* Từ chính chuyên luận này, có vẻ như việc câu cá là một công việc cần mẫn và tôn nghiêm hơn người ta vẫn tưởng: “Bởi vì khi các ngươi định đi chơi câu cá, các ngươi sẽ không muốn có quá nhiều người đi cùng, những kẻ có thể làm phiền cuộc chơi của các ngươi. Và để các ngươi có thể phụng sự Chúa một cách thành kính bằng cách đọc những lời cầu nguyện quen thuộc một cách thành tâm. Làm như vậy, các ngươi sẽ tránh xa và chối bỏ được nhiều thói hư tật xấu, chẳng hạn như sự lười biếng, vốn là nguyên nhân chính dẫn con người đến nhiều thói xấu khác, như ai cũng rõ.”
Tôi nhanh chóng bắt chuyện với lão ngư và cảm thấy vô cùng thú vị đến mức, dưới cái cớ xin học hỏi nghệ thuật của ông, tôi đã đi cùng ông gần như suốt cả ngày, lang thang dọc theo các bờ suối và lắng nghe ông trò chuyện. Lão là một người rất cởi mở, sở hữu tính hay chuyện dễ gần của tuổi già vui vẻ, và tôi đoán lão cũng lấy làm hãnh diện đôi chút khi có cơ hội khoe khoang kiến thức câu cá của mình, bởi mấy ai lại không thích thỉnh thoảng được đóng vai bậc hiền triết cơ chứ?
Lão từng là một kẻ lang thang rày đây mai đó trong những năm tháng tuổi trẻ, và đã trải qua vài năm ở châu Mỹ, đặc biệt là ở Savannah, nơi lão bước chân vào thương trường rồi bị phá sản bởi sự thiếu khôn ngoan của một người cộng sự. Sau đó, lão đã trải qua bao thăng trầm cuộc đời cho đến khi gia nhập hải quân, nơi một quả đại bác đã cướp đi chiếc chân của lão trong trận chiến Camperdown. Đó là vận may thực sự duy nhất mà lão từng có được trong đời, bởi nó mang lại cho lão một khoản tiền lương hưu, cộng với một ít tài sản thừa kế nhỏ từ cha mẹ, đem lại nguồn thu nhập gần bốn mươi bảng Anh. Nhờ số tiền đó, lão lui về ngôi làng quê hương, sống một cuộc đời bình lặng và tự lập, dành phần đời còn lại cho “nghệ thuật câu cá cao quý.”
Tôi nhận ra lão đã đọc Izaak Walton rất chăm chú, và dường như đã thấm nhuần toàn bộ sự bộc trực ngây thơ cùng bản tính vui vẻ vốn có của tác giả. Dù đã từng bị thế giới vùi dập tơi tả, lão vẫn đinh ninh rằng thế giới tự thủa ban đầu vốn dĩ rất tốt đẹp và tươi ấp. Dù đã từng bị đối xử phũ phàng ở khắp các xứ sở chẳng khác nào một chú cừu tội nghiệp bị xén lông bởi mọi hàng rào bụi rậm, lão vẫn nhắc đến mọi quốc gia bằng tấm lòng vô tư và tử tế, dường như chỉ nhìn vào mặt tốt của sự vật; và trên hết, lão gần như là người duy nhất tôi từng gặp từng là một kẻ phiêu lưu thất bại ở châu Mỹ mà lại có đủ lòng trung thực và sự hào hiệp để nhận phần lỗi về mình, chứ không hề nguyền rủa đất nước ấy. Cậu thanh niên đang nhận sự chỉ dạy của lão, theo như tôi tìm hiểu, chính là con trai và là người thừa kế hiển nhiên của mụ góa phụ béo tốt chuyên quản lý quán trọ trong làng, tất nhiên là một thiếu niên có tiềm năng và được săn đón nồng nhiệt bởi đám thanh niên nhàn rỗi ra dáng quý tộc ở địa phương. Do đó, khi nhận nuôi dạy cậu ta, có lẽ lão già cũng nhắm tới một góc đặc quyền trong quán rượu và những cốc bia tươi miễn phí thỉnh thoảng được thết đãi.

Quả thực, việc câu cá ẩn chứa một điều gì đó—nếu chúng ta có thể quên đi, điều mà những người câu cá thường hay quên, những sự tàn ác và tra tấn giáng lên đầu loài giun dế và côn trùng—có xu hướng sản sinh ra sự dịu dàng trong tâm hồn và một sự thanh thản thuần khiết trong tâm trí. Vì người Anh vốn dĩ rất ngăn nắp ngay cả trong các hoạt động giải trí của họ, lại là những tay thể thao có khoa học nhất, nên bộ môn này đã được đúc kết thành quy chuẩn và hệ thống hoàn chỉnh ở xứ sở họ. Quả thực, đây là một trò chơi vô cùng phù hợp với phong cảnh ôn hòa và được canh tác kỹ lưỡng của nước Anh, nơi mọi nét xù xì thô ráp đều đã được mài giũa đến phẳng phiu. Thật tuyệt vời làm sao khi được thong thả dạo bước dọc theo những con suối trong vắt uốn lượn như những mạch máu bằng bạc qua lồng ngực của vùng đất xinh đẹp này, dẫn dắt người ta đi qua vô số khung cảnh thôn dã nhỏ bé—có lúc uốn lượn qua những khu vườn được chăm chút; có lúc tràn bờ qua những đồng cỏ màu mỡ, nơi sắc xanh tươi hòa quyện cùng những loài hoa thơm ngát; có lúc mạo hiểm lướt qua tầm nhìn của những ngôi làng và xóm nhỏ, rồi lại tinh nghịch chạy vụt vào những chốn nghỉ ngơi râm mát. Sự ngọt ngào và thanh bình của Thiên nhiên cùng sự quan sát tĩnh lặng của môn thể thao này dần khơi gợi những trạng thái trầm tư dễ chịu, để rồi thỉnh thoảng lại bị ngắt quãng một cách thú vị bởi tiếng hót của một chú chim, tiếng huýt sáo vang vọng từ xa của người nông dân, hay có lẽ là sự tung tăng quẫy đạp của một chú cá nhảy vụt lên khỏi mặt nước tĩnh lặng và lướt qua nhanh chóng trên bề mặt phẳng lặng như gương của nó. Izaak Walton từng nói: “Khi tôi muốn vun đắp sự mãn nguyện, và gia tăng niềm tin vào quyền năng, sự khôn ngoan cùng sự quan phòng của Đấng Toàn Năng, tôi sẽ đi dạo dọc theo những đồng cỏ bên dòng suối uốn lượn, và ở đó chiêm ngưỡng những đóa huệ chẳng màng lo âu, cùng vô vàn sinh linh bé nhỏ khác không chỉ được tạo dựng, mà còn được nuôi sống (bởi cách mà con người chẳng thể hay biết) nhờ lòng nhân trù phú của Thiên Chúa Tự Nhiên, và do đó chúng đặt trọn niềm tin nơi Ngài.”
Tôi không thể kìm lòng được mà phải trích dẫn thêm một đoạn thơ từ một trong những bậc tiền bối cổ đại của nghệ thuật câu cá, ẩn chứa tinh thần trong trẻo và hạnh phúc tương tự:

Nguyện sống đời bình yên, gần mép bờ
Sông Trent hoặc sông Avon, dựng một mái nhà:
Nơi tôi thấy phao câu, hay nút bắc, chìm xuống
Bởi cái cắn hăng say của cá Măng, cá Trích, hoặc cá Rô;
Và suy ngẫm về thế gian cùng Đấng Tạo Hóa:
Trong lúc kẻ khác tranh đua ôm lấy của cải bất nghĩa;
Và người thì phung phí thời gian trong những hoang phí thấp hèn
Về rượu chè, hoặc tệ hơn, trong chiến tranh hay trác táng.
Mặc ai cứ theo đuổi những trò vui thú ấy,
Và thỏa thuê nuôi dưỡng những ảo tưởng tốt đẹp;
Miễn tôi được ngắm nhìn đồng ruộng cùng thảm cỏ xanh,
Và hàng ngày thong thả dạo bước bên những dòng sông tươi mát,
Giữa những đóa cúc dại và hoa violet xanh biếc,
Hoa lan dạ hương đỏ và thủy tiên vàng.*
Khi chia tay người lão ngư, tôi đã hỏi thăm nơi ở của ông, và nhân tiện có dịp ghé qua vùng lân cận của ngôi làng vài buổi tối sau đó, tôi đã tò mò đi tìm ông. Tôi tìm thấy ông đang sống trong một căn nhà nhỏ chỉ có một gian duy nhất, nhưng lại là một kiệt tác thực sự về sự ngăn nắp và sắp xếp. Nó nằm ở rìa làng, trên một dải cỏ xanh lùi sâu vào trong so với con đường lớn, phía trước có một mảnh vườn nhỏ trồng rau gia vị và trang hoàng bằng vài khóm hoa. Toàn bộ mặt tiền ngôi nhà phủ kín dây kim ngân hoa. Trên nóc nhà có gắn một mô hình con thuyền làm cánh gió. Không gian bên trong được bài trí theo phong cách thuần chất hải hồ, với những ý tưởng về sự thoải mái và tiện nghi được tích tụ từ boong tàu của một chiến hạm. Một chiếc võng được giăng từ trần nhà, vào ban ngày được cuộn gọn lên để tiết kiệm tối đa không gian. Chính giữa phòng treo một mô hình con thuyền do chính tay ông chế tạo. Hai hoặc ba chiếc ghế, một cái bàn, và một chiếc rương đựng đồ biển lớn là những vật dụng chính. Trên vách tường dán đầy những bản ballad hàng hải, chẳng hạn như “Hồn ma Đô đốc Hosier,” “Tất cả ở vùng Downs,” và “Tom Bowling,” xen lẫn với tranh vẽ các trận hải chiến, trong đó trận chiến Camperdown chiếm vị trí nổi bật. Bệ lò sưởi được trang trí bằng vỏ ốc biển, phía trên treo một chiếc kính lục phân, hai bên là hai bức tranh khắc gỗ miêu tả những vị chỉ huy hải quân có gương mặt vô cùng cay nghiệt. Các dụng cụ câu cá của ông được sắp xếp cẩn thận trên những chiếc đinh và móc quanh phòng. Trên kệ sách bày biện một thư viện nhỏ gồm một cuốn sách về câu cá đã sờn rách, một cuốn Kinh Thánh bọc vải, một vài tập sách du ký lẻ tẻ, một cuốn lịch hàng hải, và một cuốn tuyển tập ca khúc.
* J. Davors.
Thành viên trong gia đình ông gồm có một con mèo đen to lớn chỉ có một mắt, và một con vẹt mà ông đã bắt được, tự tay thuần hóa, dạy dỗ trong suốt một chuyến hải trình của mình, nó thốt ra đủ thứ cụm từ nhà binh bằng cái giọng khàn khàn, oang oang của một tay bosswain (thủy thủ trưởng) kỳ cựu. Cơ ngơi ấy khiến tôi nhớ đến chỗ ở của nàng Robinson Crusoe lừng danh; nó được giữ gìn vô cùng gọn gàng, mọi thứ đều được “cất xếp” với sự ngăn nắp của một chiến hạm; và ông cho biết mình “cọ rửa boong tàu mỗi buổi sáng và quét dọn nó giữa các bữa ăn.”
Tôi thấy ông đang ngồi trên chiếc ghế băng trước cửa, nhàn tản hút tẩu thuốc dưới ánh nắng chiều dịu ngọt. Con mèo của ông đang rừ rừ lim dim bên bậc cửa, còn con vẹt thì đang biểu diễn những động tác nhào lộn kỳ lạ trong chiếc vòng sắt treo lủng lẳng giữa lồng. Ông đã đi câu suốt cả ngày, và kể lại cho tôi nghe chiến tích của mình với sự tỉ mỉ hệt như một vị tướng bàn luận về một chiến dịch quân sự, tỏ ra vô cùng phấn khích khi thuật lại cách ông tóm gọn một con cá hồi lớn—thứ đã thử thách toàn bộ sự khéo léo và thận trọng của ông, và ông đã gửi nó như một chiến lợi phẩm đến chỗ mụ chủ quán trọ.
Thật an ủi làm sao khi được chứng kiến tuổi già vui tươi và mãn nguyện, và ngắm nhìn một kẻ tội nghiệp như thế này, sau khi bị giông bão cuộc đời vùi dập, lại được neo đậu an toàn trong một bến cảng ấm cúng và tĩnh lặng vào những năm tháng hoàng hôn của cuộc đời! Tuy nhiên, hạnh phúc của ông bắt nguồn từ chính tâm hồn ông và không phụ thuộc vào các yếu tố ngoại cảnh, bởi ông sở hữu bản tính dễ chịu vô tận—món quà quý giá nhất của Thiên Chúa, lan tỏa như lớp dầu trên mặt biển tư duy đầy sóng gió, giữ cho tâm trí luôn phẳng lặng và bình thản ngay cả trong những giông tố dữ dội nhất.
Khi tìm hiểu thêm về ông, tôi được biết ông là một nhân vật được tất cả mọi người trong làng yêu mến và là bậc quân sư trong quán rượu, nơi ông làm say mê đám dân quê bằng những bài hát của mình, và giống như Sindbad, khiến họ kinh ngạc với những câu chuyện về các vùng đất kỳ lạ, những vụ đắm tàu và những trận hải chiến. Ông cũng rất được chú ý bởi các quý ông thể thao trong vùng, từng dạy cho một số người trong số họ nghệ thuật câu cá, và là một vị khách có đặc quyền trong căn bếp của họ. Toàn bộ quãng đời của ông trôi qua trong sự yên bình và vô hại, chủ yếu quẩn quanh bên những con suối lân cận khi thời tiết và mùa màng thuận lợi; vào những lúc khác, ông tự tay làm việc ở nhà, chuẩn bị ngư cụ cho chiến dịch tiếp theo hoặc chế tạo cần câu, lưới, và mồi giả cho các vị khách quý tộc và học trò của mình.
Ông là một người đều đặn đến nhà thờ vào các ngày Chủ nhật, dù thường ngủ gật trong suốt buổi giảng đạo. Ông đã đưa ra một thỉnh cầu đặc biệt rằng khi qua đời, ông muốn được chôn cất tại một khoảng cỏ xanh mà ông có thể nhìn thấy từ chỗ ngồi của mình trong nhà thờ, nơi ông đã chấm điểm từ khi còn là một cậu bé và từng nghĩ đến khi ở xa quê hương giữa vùng biển cuồng nộ đầy hiểm nguy chực chờ làm mồi cho cá: đó chính là nơi cha mẹ ông đã an nghỉ.
Tôi xin dừng lời, vì sợ rằng bạn đọc của mình đang dần mỏi mệt, nhưng tôi không sao kiềm chế được việc phác họa bức chân dung về vị “huynh đệ câu cá” đáng kính này, người đã khiến tôi càng thêm say mê lý thuyết, dẫu e rằng mình chẳng bao giờ có thể trở nên khéo léo trong thực hành nghệ thuật của ông; và tôi xin khép lại bức họa tản mạn này bằng những lời của cụ chân tu Izaak Walton, xin gửi lời cầu chúc ơn phước từ Bậc Thầy của Thánh Peter đến bạn đọc của tôi, “cùng tất cả những ai thực sự yêu mến đức hạnh, dám đặt trọn niềm tin vào sự quan phòng của Ngài, sống bình yên, và lên đường đi câu cá.”
