“Quán rượu là nơi hội ngộ, là sàn giao dịch, là chốn tiêu khiển của những bậc hào kiệt. Tôi từng nghe ông cố tôi kể lại rằng, cụ cố của ông đã bảo, ấy là một câu tục ngữ từ thời ông cố còn bé, rằng ‘gió thổi hướng nào đưa người tới quán rượu hướng ấy.’”

MOTHER BOMBIE.
Đó là một tín điều tôn kính ở một số xứ theo đạo Thiên Chúa là tôn vinh ký ức của các vị thánh bằng những ngọn đèn tâm nguyện thắp trước di ảnh của họ. Do đó, sự nổi tiếng của một vị thánh có thể được đo lường qua số lượng những lễ vật dâng cúng này. Người này, có lẽ, bị bỏ mặc cho mục nát trong bóng tối của ngôi tiểu đường nhỏ bé của mình; kẻ khác có thể có một ngọn đèn đơn độc hắt những tia sáng nhấp nháy lên bức tượng; trong khi toàn bộ ngọn lửa sùng kính lại được trút hết vào đền thờ của một vị thánh phụ nổi danh nào đó. Kẻ sùng đạo giàu có mang đến ngọn đèn sáp khổng lồ của mình, vị tín đồ nhiệt thành mang cây nến bảy nhánh; và ngay cả người hành khất lang thang cũng chẳng mảy may thấy thỏa mãn rằng có đủ ánh sáng chiếu rọi lên người đã khuất trừ phi hắn treo lên ngọn đèn dầu nhọ nhem của mình. Hệ quả là, vì quá số sắng soi sáng, họ thường hay làm cho mờ mịt đi; và đôi khi tôi từng chứng kiến một vị thánh bất hạnh gần như bị khói của sự nhiệt tình quá mức từ các tín đồ làm cho nghẹt thở đến biến dạng.
Tương tự như vậy là số phận của đại văn hào Shakespeare. Mọi nhà văn đều coi việc thắp sáng một phần tính cách hay tác phẩm của ông, và vớt vát chút công trạng khỏi chìm vào quên lãng, là bổn phận thiêng liêng của mình. Nhà chú giải, giàu có về câu chữ, sản xuất ra những tập khảo luận dày cộm; đám biên tập viên bình thường thì phả ra những màn sương mù mịt mờ từ những chú thích ở chân mỗi trang giấy; và mọi ngòi bút vãng lai đều mang theo ngọn nến tấc còm cõi của lòng ca tụng hay sự khảo cứu để làm cho đám mây hương khói ấy càng thêm dày đặc.
Vì tôi kính trọng mọi lề thói quen thuộc của những người anh em cầm bút, tôi nghĩ chẳng có gì phải phép hơn là đóng góp chút lòng thành mọn của mình để tưởng nhớ vị thi hào lỗi lạc. Tuy nhiên, trong suốt một thời gian, tôi vô cùng lúng túng không biết nên thực hiện bổn phận này theo cách nào. Tôi nhận ra mình đã bị nẫng tay trên trong mọi nỗ lực tìm ra cách đọc mới; mọi dòng thơ lấp lửng đều đã được giải thích bằng hàng chục cách khác nhau, và trở nên rối rắm vượt ngoài tầm giải mã; còn về những đoạn văn hay, tất cả đều đã được ca ngợi hết lời bởi những người ngưỡng mộ đi trước; thậm chí, dạo gần đây, đại văn hào đã bị một nhà phê bình lớn người Đức ca tụng đến mức ngập ngụa, khiến cho việc tìm kiếm dù chỉ một lỗi lầm chưa từng được biện hộ thành một nét đẹp bỗng trở nên vô cùng khó khăn.
Trong tâm trạng bối rối ấy, có một buổi sáng nọ, khi đang lật giật các trang sách của ông, tình cờ tôi mở trúng các cảnh hài kịch trong phần Henry IV, và ngay lập tức, tôi hoàn toàn chìm đắm trong những cuộc vui điên cuồng tại quán rượu Đầu Heo (Boar’s Head Tavern). Những khung cảnh hài hước ấy được miêu tả sinh động và tự nhiên biết bao, các nhân vật được xây dựng với sức sống và sự nhất quán mạnh mẽ dường nào, để rồi chúng hòa quyện ngay vào tâm trí tôi cùng với những con người và sự kiện có thật trong đời thực. Ít có độc giả nào nhận ra rằng tất cả những điều này chỉ là sản phẩm tưởng tượng từ bộ óc của một nhà thơ, và theo sự thật phũ phàng, chẳng có nhúm bợm nhậu vui vẻ nào từng làm cho khu phố buồn tẻ Eastcheap trở nên náo nhiệt.
Phần tôi, tôi thích phó mặc bản thân cho những ảo ảnh của thi ca. Một người hùng hư cấu chưa từng tồn tại cũng có giá trị với tôi chẳng kém gì một người hùng lịch sử từng sống từ ngàn năm trước; và nếu tôi có được tha thứ cho sự vô cảm trước những mối dây liên kết thông thường của bản chất con người, tôi sẽ chẳng đời nào đổi Jack béo lấy một nửa số vĩ nhân trong các sử sách cổ đại. Những anh hùng thuở trước đã làm được gì cho tôi hay những kẻ như tôi? Họ đã chinh phục những xứ sở mà tôi chẳng sở hữu nổi một sào đất, hoặc họ đã giành lấy những vòng nguyệt quế mà tôi chẳng thừa hưởng nổi một chiếc lá, hoặc họ cung cấp những tấm gương về sự liều lĩnh táo tợn mà tôi vừa không có cơ hội lẫn chẳng có tâm trí đâu để noi theo.

Thế nhưng, lão Jack Falstaff thân mến! Jack Falstaff tử tế! Jack Falstaff ngọt ngào! Lão đã mở rộng biên giới của niềm vui con người; lão đã bồi đắp thêm những vùng đất bao la của sự hóm hỉnh và lòng tốt, nơi mà kẻ nghèo hèn nhất cũng có thể tận hưởng, và đã để lại một gia tài tiếng cười rôm rả chẳng bao giờ cạn kiệt, để làm cho nhân loại vui vẻ hơn và tốt đẹp hơn cho đến tận những thế hệ mai sau.
Một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu tôi. “Ta sẽ hành hương đến Eastcheap,” tôi tự lẩm bẩm, khép lại cuốn sách, “và xem liệu quán rượu Đầu Heo cổ kính ấy có còn tồn tại hay không. Biết đâu tôi lại có thể tìm thấy vài dấu tích truyền thuyết về Mẹ Quickly cùng những vị khách của bà? Dù sao đi nữa, việc bước dạo qua những căn phòng từng rộn rã tiếng cười nói của họ cũng mang lại một niềm vui đồng điệu chẳng khác nào cảm giác của kẻ nợn rượu khi ngửi chiếc thùng rỗng từng được đổ đầy thứ rượu ngon nồng đượm.”
Ý định vừa nảy sinh liền được thi hành ngay lập tức. Tôi xin miễn bàn đến những cuộc phiêu lưu và kỳ quan muôn màu mà tôi đã chạm trán trong chuyến hành trình của mình; về vùng đất bị ma ám Cock Lane; về ánh hào quang phai tàn của Little Britain và các vùng phụ cận; những hiểm nguy tôi đã trải qua tại phố Cateaton và Old Jewry; Guildhall nổi tiếng cùng hai bức tượng người khổng lồ còi cọc của nó, niềm kiêu hãnh lẫn kỳ quan của thành phố và là nỗi khiếp sợ của mọi đứa trẻ nghịch ngợm bất trị; và cách tôi ghé thăm London Stone, rồi dằn cây gậy của mình xuống đó hệt như tên phản loạn khét tiếng Jack Cade.
Chỉ xin nói gọn lại rằng, cuối cùng tôi cũng đã đặt chân đến Eastcheap vui tươi, vùng đất cổ xưa của sự hóm hỉnh và những buổi chè chén say sưa, nơi mà ngay cả tên của các con phố cũng phảng phất mùi vị của những bữa tiệc tùng thịnh soạn, điều mà ngõ Pudding Lane vẫn còn làm chứng cho tận ngày nay. Bởi vì Eastcheap, theo lời nhà chép sử cổ Stow, “vẫn luôn nổi tiếng với những cuộc vui ăn uống linh đình. Mấy tay đầu bếp ra rả thét gọi những dải sườn bò quay nóng hổi, những chiếc bánh nướng chín tới, và bao món ăn thức uống khác: đâu đâu cũng nghe tiếng chén đĩa thiếc va vào nhau lanh lảnh, tiếng đàn hạc, đàn ống và đàn tam thập lục.”
Hỡi ôi! Cảnh tượng đã thay đổi biết bao kể từ những ngày tháng ồn ào náo nhiệt của Falstaff và lão Stow xưa cũ! Tên bợm nhậu ngông cuồng giờ đã nhường chỗ cho gã lái buôn cần cù; tiếng chén đĩa khua khoắng cùng âm thanh của “đàn hạc và đàn tam thập lục” đã bị át bởi tiếng cầm canh của xe cộ và tiếng chuông khốn kiếp của kẻ thu rác; và chẳng còn nghe thấy bài ca nào nữa, ngoại trừ, may chăng, là giọng gào của một nàng nhân ngư nào đó từ chợ cá Billingsgate, đang cất tiếng ca tụng những con cá thu đã chết.
Tôi đã tìm kiếm trong vô vọng cái chốn ở cổ xưa của Mẹ Quickly. Di tích duy nhất còn sót lại chính là hình chiếc đầu heo được chạm nổi bằng đá, trước kia từng dùng làm biển hiệu, nhưng hiện nay đã được xây lấn vào bức tường ngăn cách giữa hai ngôi nhà mọc lên ngay trên nền của quán rượu cổ kính nổi tiếng ấy.
Để tìm hiểu về lịch sử của chốn nhỏ bé chuyên tề tựu bạn bè tri kỷ này, tôi được chỉ sang gặp một góa phụ làm nghề bán nến mỡ ở đối diện, người đã sinh ra và lớn lên ngay tại chốn này, và được tôn kính như một nhà chép sử không thể tranh cãi của khu phố. Tôi tìm thấy bà đang ngồi trong một căn phòng nhỏ phía sau, với ô cửa sổ hướng ra một khoảng sân rộng chừng tám thước vuông được bài trí làm vườn hoa, trong khi cánh cửa kính đối diện hé mở một góc nhìn xa xăm ra ngoài đường phố qua một lớp hành lang mờ ảo chập chùng những cây xà phòng và nến mỡ — hai khung cảnh, có lẽ, đã thâu tóm toàn bộ tầm nhìn cuộc đời bà và là tiểu vũ trụ nơi bà đã sống, đã di chuyển và tồn tại suốt quãng đời lớn của một thế kỷ.
Thông hiểu tường tận về lịch sử lớn nhỏ của Eastcheap, từ London Stone cho tận đến Tượng đài, chắc chắn trong suy nghĩ của bà chính là am hiểu lịch sử của cả vũ trụ. Thế nhưng, bất chấp tất cả những điều đó, bà vẫn sở hữu sự mộc mạc của một trí tuệ chân chính, cùng với cái tính tình cởi mở, hay chuyện trò mà tôi thường nhận thấy ở những cụ bà thông thái, tường tận mọi ngóc ngách sự tình trong khu xóm của họ.
Tuy nhiên, kiến thức của bà lại chẳng ngược dòng thời gian về quá khứ quá xa. Bà chẳng thể làm sáng tỏ gì về lịch sử của quán Đầu Heo kể từ thời điểm Mẹ Quickly kết hôn cùng gã dũng tướng Pistol cho đến trận đại hỏa hoạn ở London khi nó không may bị thiêu rụi. Chẳng mấy chốc nó được xây dựng lại, và tiếp tục hưng thịnh dưới cái tên cũ cùng tấm biển hiệu cũ, cho đến khi một lão chủ quán lâm trọng bệnh, bị dằn vặt bởi sự hối hận vì những khoản nợ ghi chồng chéo, những thước đo gian dối cùng bao thói hư tật xấu khác vốn hay đeo bám cái giống loài tội lỗi của những kẻ buôn rượu, đã cố gắng mua chuộc sự bình yên với Thiên Chúa bằng cách để lại quán rượu cho nhà thờ St. Michael, Crooked Lane, để đóng góp vào quỹ duy trì một vị tuyên úy.
Trong một thời gian, các cuộc họp của hội đồng giáo xứ vẫn được tổ chức đều đặn tại đây, nhưng người ta nhận ra rằng lão Đầu Heo cổ kính chẳng bao giờ ngóc đầu lên nổi dưới sự quản của giáo hội. Nó lụi tàn dần, và cuối cùng trút hơi thở cuối cùng vào khoảng ba mươi năm trước. Quán rượu sau đó được biến thành các cửa hàng; nhưng bà cho biết một bức tranh về nó vẫn còn được gìn giữ trong nhà thờ St. Michael, nằm ngay ở phía sau. Mục tiêu của tôi lúc này là phải tận mắt chiêm ngưỡng bức tranh đó; thế nên, sau khi đã hỏi thăm cho rõ nơi ở của người giữ mộ, tôi liền từ giã nhà chép sử đáng kính của xứ Eastcheap, chuyến viếng thăm của tôi chắc chắn đã nâng cao đáng kể sự tự hào của bà về vốn kiến thức truyền thuyết của mình và tạo nên một sự kiện trọng đại trong lịch sử cuộc đời bà.
Tôi tốn không ít công sức cùng vô số những câu hỏi tò mò mới mò ra được kẻ ăn bám khiêm nhường của nhà thờ ấy. Tôi phải dò dẫm qua ngõ Crooked Lane cùng đủ loại hẻm nhỏ, góc khuất và lối đi tối tăm mà thành phố cổ kính này bị đục khoét tựa như một miếng phô mai lâu năm, hay một chiếc tủ kéo bị mọt ăn. Cuối cùng tôi cũng lần ra được hắn ta ở một góc của cái sân nhỏ bị vây quanh bởi những tòa nhà cao ngất trời, nơi cư dân chỉ được ngắm mặt trời hẹp hòi chẳng khác nào một cộng đồng ếch nhái dưới đáy giếng sâu.
Người giữ mộ là một lão đàn ông nhỏ thó, hiền lành, dễ bảo, với cái nết hay khom lưng cúi mình, thế nhưng trong mắt lão lại lóe lên một tia sáng tinh nghịch, và nếu được khích lệ, thỉnh thoảng lão lại dám vung vẩy vài câu đùa cợt nhỏ nhặt, kiểu như điều mà một kẻ có thân phận thấp hèn như lão dám mạo muội cất lên giữa đám đông các vị chức sắc giáo hội cùng những nhân vật lớn lao khác trên cõi đời này.
Tôi tìm thấy lão đang ngồi bên vị phó ban hợp xướng, hai người ngồi tách biệt nhau hệt như những thiên thần của Milton, hẳn là đang bàn luận về những điểm giáo lý thâm thúy và định đoạt các đại sự của nhà thờ bên một vại bia thân mật; bởi vì tầng lớp bình dân nước Anh hiếm khi nào bàn bạc chuyện trọng đại nào mà không có sự trợ giúp của một cốc bia mát lạnh để làm đầu óc minh mẫn. Tôi đến đúng lúc họ vừa cạn xong vại bia lẫn cuộc tranh luận, và đang chuẩn bị quay lại nhà thờ để dọn dẹp; thế nên, sau khi thổ lộ nguyện vọng của mình, tôi đã nhận được sự cho phép đầy nhã ý của họ để tòng sự đi theo.
Nhà thờ St. Michael, Crooked Lane, nằm cách chợ cá Billingsgate một quãng ngắn, được tô điểm bởi lăng mộ của rất nhiều thương gia bán cá lừng danh; và cũng như mỗi ngành nghề đều có thiên hà vinh quang và chòm sao vĩ nhân của riêng mình, tôi cho rằng lăng mộ của một đại thương gia bán cá thuở xưa cũng được các thế hệ thợ nghề nối tiếp tôn kính chẳng kém gì cảm giác của các nhà thơ khi chiêm ngưỡng lăng mộ của Virgil hay người lính trước tượng đài của một vị Công tước Marlborough hoặc Turenne.
Khi đang nhắc đến những nhân vật lẫy lừng này, tôi không khỏi rẽ ngang để nhận xét rằng nhà thờ St. Michael, Crooked Lane, cũng là nơi an nghỉ của vị anh hùng dũng mãnh William Walworth, Hiệp sĩ, kẻ đã ra tay quả quyết hạ gục gã tráng đinh cứng đầu Wat Tyler ngay tại Smithfield — một người hùng xứng đáng được vinh danh ngợi ca, bởi vì đây là vị Thị trưởng duy nhất trong sử sách nổi tiếng với những chiến tích võ biếu, trong khi các bậc quân vương của Cockney nhìn chung đều nổi danh là những vị tối cao ôn hòa nhất.*
*(Đoạn văn khắc bằng chữ cổ trên lăng mộ của vị anh hùng này, vốn không may đã bị thiêu rụi trong trận đại hỏa hoạn, nguyên văn như sau:
Dưới đây là một đấng anh danh,
William Walworth tượng hình trác tuyệt:
Thuở sinh thời buôn cá dọc ngang,
Hai phen Thị trưởng, sử vàng ghi rành;
Với lòng gan dạ tung hoành,
Trước vua Richard, diệt đanh Jack Straw.
Vì công lao ấy phen nào,
Nhà vua ban tước anh hào hiển vinh,
Lại ban cờ hiệu quang minh,
Tỏ tường nghĩa cử hiển linh kiếm cung.
Từ trần từ giã cõi trần,
Mười ba trăm lẻ tám mươi ba chẵn chồn.)*
Một lỗi sai trong văn bia trên đã được nhà chép sử đáng kính Stow đính chính lại. “Xét vì,” lời ông rằng, “đã có lời đồn đại lan truyền rộng rãi trong dân gian rằng kẻ phản loạn bị ngài William Walworth, vị Thị trưởng đáng kính lúc bấy giờ, ra tay đánh gục một cách dũng mãnh, tên là Jack Straw chứ không phải Wat Tyler, tôi thấy cần thiết phải làm sáng tỏ mối nghi ngờ vội vã này bằng những chứng cứ mà tôi tìm được trong các thư tịch cổ và uy tín. Những thủ lĩnh hoặc chủ tướng cốt cán của phong trào bình dân, chính là Wat Tyler với tư cách là kẻ đứng đầu; người thứ hai là John, hay Jack, Straw, vân vân và vân vân...” — STOW’S London.
Nằm sát cạnh nhà thờ, trong một nghĩa trang nhỏ, ngay bên dưới ô cửa sổ phía sau của nơi từng là quán Đầu Heo, là tấm bia mộ của Robert Preston, cựu nhân viên rót rượu tại quán. Đã gần một thế kỷ trôi qua kể từ khi tay rót rượu trung thành chuyên rót thứ nước men nồng đượm ấy khép lại cuộc đời bận rộn của mình và yên giấc ngàn thu ngay trong tầm gọi của các thực khách.
Trong lúc tôi đang dọn sạch đám cỏ dại bám quanh văn bia của lão, người giữ mộ nhỏ thó liền kéo giật tôi sang một bên với vẻ mặt đầy bí ẩn, nhỏ giọng kể rằng có một đêm mùa đông tối trời nọ, khi gió thổi loạn xạ, gào thét và rít lên, đập thình thịch vào cửa ra vào lẫn cửa sổ, và làm xoay tít những chiếc chong chóng gió, khiến cho người sống thì sợ hãi phát khiếp phải chui ra khỏi giường, đến người chết cũng chẳng thể ngủ yên trong mồ, thì hồn ma của lão Preston lương thiện, tình cờ đang dạo chơi hóng mát trong nghĩa trang, bỗng bị thu hút bởi tiếng gọi quen thuộc “Ê, rót rượu!” vang lên từ quán Đầu Heo, liền đột ngột xuất hiện giữa một hội bợm nhậu đang hò hét rôm rả, đúng lúc gã thư ký giáo xứ đang ngâm nga một đoạn ca khúc từ “vòng hoa diễm phúc của Đại úy Death”; khiến cho đám đông đại úy dân quân được một phen hồn vía lên mây và cải đạo thành công một gã luật sư vô thần, kẻ đã trở thành một tín đồ Thiên Chúa giáo nhiệt thành ngay tại chỗ và từ đó về sau chẳng bao giờ dám bẻ cong sự thật nữa, trừ những lúc làm ăn buôn bán.
Tôi xin lưu ý rằng tôi không cam đoan về tính xác thực của giai thoại này, mặc dù ai cũng biết rằng các nghĩa trang và góc khuất của thủ đô cổ kính này vốn bị quấy phá dữ dội bởi những linh hồn bất an; và chắc hẳn ai nấy cũng từng nghe về hồn ma phố Cock Lane, hay bóng ma canh giữ bảo vật hoàng gia trong Tháp Luân Đôn từng khiến biết bao lính canh gan dạ suýt vãi mật.
Dù thế nào đi nữa, Robert Preston này có vẻ là một người kế thừa xứng đáng của gã Francis dẻo miệng từng hầu hạ trong những bữa tiệc tùng của Hoàng tử Hal; tỏ ra nhanh nhạy chẳng kém với câu đáp “Dạ, dạ, thưa ngài!”; và thậm chí còn vượt trội hơn người tiền nhiệm về mặt trung thực; bởi vì Falstaff, kẻ mà sự sành sỏi về khẩu vị chẳng ai dám mọc gan chối cãi, đã thẳng thừng buộc tội Francis cho vôi vào rượu vang của lão, trong khi văn bia của lão Preston lương thiện lại ca ngợi đức tính điều độ, chất lượng rượu tuyệt hảo cùng sự sòng phẳng trong đong đếm của lão.*
*(Vì văn bia này chan chứa đạo lý tuyệt vời, tôi xin chép lại đây để làm lời răn đe cho những tay rót rượu hay gian lận. Đây chắc chắn là tác phẩm của một tâm hồn tuyển chọn từng năng nỉ ghé chân quán Đầu Heo.
Bacchus, khiến trần gian chuếnh choáng,
Sinh ra đời một gã mộc mạc thanh tao,
Dẫu bủa vây giữa lu bù thùng vại,
Lão khinh miên bả lả chén quỳnh giao.
Hỡi lữ khách, nếu một lòng hướng thiện,
Hãy nhớ hoài Preston tiếng thơm sao.
Rót rượu ngon, đong đầy vại vẹn,
Nhiều nết hay khỏa lấp lỗi lầm nào.
Hỡi ai nương tựa thần men rượu,
Hãy học theo Bob đong đếm ngọt ngào).*

Tuy nhiên, các vị chức sắc đáng kính của nhà thờ có vẻ không mấy say mê những đức tính thanh tao của gã phục vụ quán rượu; vị phó ban hợp xướng, với ánh mắt lúc nào cũng ươn ướt, đã đưa ra vài nhận xét tinh ranh về sự tiết chế của một kẻ lớn lên giữa những thùng rượu đầy ắp, và người giữ mộ nhỏ thó đã củng cố ý kiến ấy bằng một cái nháy mắt đầy hàm ý cùng cái lắc đầu đầy hoài nghi.
Cho đến lúc này, những cuộc khảo cứu của tôi, dẫu đã phơi bày nhiều ánh sáng về lịch sử của mấy tay rót rượu, thương gia bán cá và các vị Thị trưởng, lại khiến tôi hụt hẫng trước mục tiêu lớn lao nhất của cuộc tìm kiếm: bức tranh về quán rượu Đầu Heo. Chẳng có bức tranh nào như thế được tìm thấy trong nhà thờ St. Michael. “Chúa tôi ơi,” tôi tự nhủ, “cuộc khảo cứu của ta chấm dứt tại đây!”
Thế nên tôi đang định buông xuôi sự việc với dáng điệu của một nhà khảo cổ thất trận, thì người bạn giữ mộ của tôi, nhận ra tôi tỏ ra tò mò về mọi thứ liên quan đến quán rượu cũ, liền đề nghị cho tôi xem những món đồ quý giá của hội đồng giáo xứ, vốn được truyền lại từ thuở xa xưa khi các cuộc họp giáo xứ còn được tổ chức tại quán Đầu Heo. Những món đồ này được cất giữ trong phòng sinh hoạt câu lạc bộ giáo xứ, vốn đã được chuyển dời đến một quán rượu ở vùng lân cận khi cơ sở cổ kính kia tàn lụi.
Chỉ vài bước chân là chúng tôi đến nơi, một ngôi nhà mang số 12 đường Miles Lane, mang biển hiệu The Mason’s Arms, do bậc thầy Edward Honeyball, “gã đầu gấu” của cơ sở này, quản lý. Đó là một trong những quán rượu nhỏ mọc rợp trung tâm thành phố và là tâm điểm hóng hớt tin tức của cả khu phố.
Chúng tôi bước vào phòng bar hẹp và tối tăm, bởi vì trong những con hẻm chật chội này, chỉ có rất ít tia sáng phản chiếu có thể lọt xuống cho cư dân, nơi mà ban ngày của họ suy cho cùng cũng chỉ là một chạng vạng tạm bợ. Căn phòng được chia thành các ngăn nhỏ, mỗi ngăn đều kê một chiếc bàn phủ khăn trắng tinh, sẵn sàng dọn cơm tối. Điều này cho thấy các thực khách đều thuộc tuýp người cũ tốt bụng và phân chia thời gian trong ngày rất đều đặn, bởi vì lúc đó vừa đúng một giờ.
Ở phía cuối phòng là một lò than hồng rực, trước mặt là một tảng sườn cừu đang quay. Một hàng chân nến bằng đồng sáng loáng cùng những chiếc ca bằng thiếc xếp dài dọc theo lò sưởi, và một chiếc đồng hồ kiểu cũ đang tích tắc ở một góc. Có gì đó rất nguyên thủy trong sự hòa quyện giữa nhà bếp, phòng khách và đại sảnh này đã đưa tôi quay ngược thời gian về quá khứ, khiến tôi vô cùng thích thú. Nơi này quả thật khiêm tốn, nhưng mọi thứ đều mang vẻ ngăn nắp, gọn gàng, điều minh chứng cho sự quản lý của một người nội trợ Anh Quốc tháo vát.
Một nhóm người có vẻ ngoài lưỡng cư, có thể là ngư dân hoặc thủy thủ, đang vui vẻ chè chén trong một ô bàn. Vì tôi là một vị khách có phần sang trọng hơn một chút, tôi được dẫn vào một căn phòng nhỏ phía sau méo mó, có ít nhất chín góc. Căn phòng được thắp sáng bằng giếng trời, trang bị những chiếc ghế da cổ kính, và được trang trí bằng bức chân dung của một con heo béo ú. Nơi này rõ ràng dành riêng cho những vị khách quen thuộc, và tôi tìm thấy một gã quý ông tơi tả với chiếc mũi đỏ và chiếc mũ vải dầu đang ngồi ở một góc, trầm ngâm bên nửa vại bia đen còn dang dở.
Lão giữ mộ già đã kéo bà chủ quán ra một góc, và với vẻ mặt đầy vẻ quan trọng đã truyền đạt lại cho bà mục đích chuyến đi của tôi. Mẹ Honeyball là một người đàn bà dễ nhìn, đẫy đà, lanh lợi, và là sự thay thế không tệ chút nào cho hình mẫu chủ quán tuyệt đỉnh, Mẹ Quickly. Bà có vẻ vô cùng vui mừng trước cơ hội được giúp đỡ, và khi vội vã chạy lên gác lầu — nơi lưu trữ tài liệu của quán, nơi cất giữ những báu vật của câu lạc bộ giáo xứ — bà trở xuống, mỉm cười và nhún gối chào, trên tay ôm khăng khăng những món đồ ấy.
Món đầu tiên bà trao cho tôi là một chiếc hộp đựng thuốc lá bằng sắt tráng men có kích thước khổng lồ, mà tôi được bảo rằng hội đồng giáo xứ đã dùng để hút thuốc trong các buổi họp định kỳ của họ từ thẳm sâu thời gian và không bao giờ bị phàm thủ báng bổ hay sử dụng vào những dịp thông thường. Tôi đón lấy nó với sự kính trọng xứng đáng, nhưng niềm vui sướng của tôi biết nhường nào khi nhìn thấy trên nắp hộp chính là bức tranh mà tôi hằng mong mỏi tìm kiếm!
Nó bày biện quang cảnh bên ngoài quán rượu Đầu Heo, và trước cửa quán là toàn bộ nhóm bợm nhậu đang tụ tập bên bàn tiệc, say sưa hoan hỉ, được khắc họa với sự sống động và mạnh mẽ kỳ diệu hệt như cách chân dung của những vị tướng quân và đề đốc lừng danh được minh họa trên các hộp thuốc lá để truyền đời cho hậu thế. Sợ rằng có thể có sự nhầm lẫn nào đó, người họa sĩ ranh mãnh đã cẩn thận khắc tên của Hoàng tử Hal và Falstaff ngay dưới chân ghế của họ.
Ở mặt trong của chiếc nắp là một dòng chữ gần như đã phai mờ, ghi lại rằng chiếc hộp này là món quà do ngài Richard Gore hiến tặng để phục vụ cho các buổi họp hội đồng giáo xứ tại quán rượu Đầu Heo, và nó đã được “sửa sang và làm đẹp bởi người kế nhiệm của ông, ngài John Packard, năm 1767.”
Đó là miêu tả trung thực về thánh tích uy nghi và cổ kính này, và tôi tự hỏi liệu nhà bác học Scriblerius khi ngắm nhìn chiếc khiên La Mã của mình, hay các Hiệp sĩ Bàn Tròn khi tìm kiếm Chén Thánh lâu ngày, có cảm thấy phấn khích hơn thế không.
Trong khi tôi đang đắm chìm ngắm nhìn nó với ánh mắt ngây ngất, Mẹ Honeyball — người vô cùng mãn nguyện trước sự quan tâm mà nó khơi gợi — liền trao vào tay tôi một chiếc cốc uống nước hoặc vóc goblet cũng thuộc về hội đồng giáo xứ và được truyền lại từ quán Đầu Heo thuở trước. Nó khắc dòng chữ ghi nhận đây là món quà do ngài Francis Wythers hiến tặng, và theo lời bà, nó được trân quý vô cùng, được coi là “cực kỳ cổ kính”.
Quan điểm này càng được củng cố bởi gã quý ông tơi tả có chiếc mũi đỏ và chiếc mũ vải dầu — kẻ mà tôi nghi ngờ mạnh mẽ là hậu duệ trực hệ của tên Bardolph lém lỉnh. Hắn chợt bừng tỉnh sau cơn trầm ngâm bên vại bia đen, liếc mắt đầy hiểu biết về phía chiếc cốc, rồi thốt lên: “Phải, phải! Cái gã làm ra cái món đồ này giờ chắc chẳng còn đau đầu nữa đâu.”
Tầm quan trọng to lớn mà các quan chức giáo xứ hiện đại gán cho kỷ vật của những cuộc vui cổ xưa này thoạt đầu khiến tôi bối rối; thế nhưng không gì mài giũa sự sắc sảo bằng việc khảo cổ học; bởi vì tôi lập tức nhận ra đây chính là chiếc “cốc dát vàng một phần” mà Falstaff đã dùng để thề thốt tình yêu nhưng bội bạc với Mẹ Quickly, và tất nhiên nó sẽ được cất giữ cẩn thận giữa những bảo vật vương triều trong lãnh địa của bà, như một bằng chứng cho bản hợp đồng trọng đại ấy.*
*(“Ngươi đã thề với ta bên chiếc cốc dát vàng một phần, khi ngồi trong căn phòng cá heo của ta, bên bàn tròn, cạnh lò sưởi than biển, vào ngày thứ Tư trong Tuần lễ Hiện Xuống, lúc hoàng tử đánh đầu ngươi vì tội ví cha hắn với một gã hát thuê ở Windsor; ngươi đã thề với ta lúc đó, trong lúc ta băng bó vết thương cho ngươi, rằng sẽ cưới ta, và phong ta làm phu nhân, làm vợ ngươi. Ngươi có dám chối phăng không?” — Henry IV, Phần 2).*
Bà chủ quán quả thật đã kể cho tôi nghe một câu chuyện dài về cách chiếc cốc này được truyền qua bao thế hệ. Bà cũng chiêu đãi tôi vô số chi tiết về những vị ủy viên hội đồng giáo xứ đáng kính — những kẻ đã yên vị đầy bình lặng trên những chiếc ghế của đám bợm nhậu Eastcheap thuở trước, và giống như bao nhà chú giải khác, nhả ra những màn khói mịt mờ để tôn vinh Shakespeare.
Tôi xin miễn kể lại những chuyện này, sợ rằng độc giả của tôi sẽ không tò mò về những vấn đề này bằng chính tôi. Chỉ cần nói rằng, cư dân quanh vùng Eastcheap, ai nấy đều tin rằng Falstaff và đám tòng nhân vui vẻ của lão thực sự đã sống và ăn chơi tại đó. Thậm chí, vẫn còn vài giai thoại truyền thuyết về lão lưu truyền giữa những khách quen lâu năm nhất của quán Mason’s Arms, được họ truyền tụng từ đời này qua đời khác; và ông M’Kash, một thợ hớt tóc người Ireland có tiệm nằm ngay trên nền quán Đầu Heo cũ, đang nắm giữ vài câu nói đùa khô khan của lão Jack béo không được ghi trong sách, đủ sức khiến khách hàng của ông ta cười ngất ngả.
Tôi bèn quay sang người bạn giữ mộ để hỏi thêm vài điều, nhưng nhận ra lão đã chìm đắm trong dòng suy tư trĩu nặng. Đầu lão hơi cúi xuống; một tiếng thở dài não nề thoát ra từ tận đáy lòng, và dù tôi không thể nhìn thấy giọt nước mắt nào đọng lại trong mi mắt lão, một chút ẩm ướt rõ ràng đang rớm ra từ khóe miệng. Tôi dõi theo hướng nhìn của lão qua ô cửa đang mở rộng, và phát hiện nó đang dán chặt đầy thèm thuồng vào tảng sườn cừu thơm phức đang quay rỏ mỡ óng ánh trước lò sưởi.
Lúc này tôi mới chợt nhớ ra rằng trong cơn say sưa điều tra nghiên cứu uyên bác, tôi đang làm cho tội nghiệp lão đây phải chịu đói bữa cơm trưa. Lòng dạ tôi cồn cào thương cảm, và nhét vào tay lão một món quà nhỏ thể hiện lòng biết ơn cùng sự tử tế của mình, tôi cất bước ra đi cùng lời chúc phúc nồng nhiệt dành cho lão, Mẹ Honeyball, và câu lạc bộ giáo xứ Crooked Lane — không quên gã bạn tơi tả nhưng sâu sắc của tôi đội chiếc mũ vải dầu và có chiếc mũi đồng đỏ rực.
Thế là tôi đã tường thuật lại một bản tóm tắt “ngắn gọn đến phát chán” về cuộc nghiên cứu thú vị này, và nếu nó có vẻ quá ngắn ngủi và chưa thỏa đáng, tôi chỉ có thể biện hộ bằng sự thiếu kinh nghiệm của mình trong nhánh văn học vốn đang vô cùng thịnh hành vào thời điểm hiện tại này. Tôi thừa nhận rằng một nhà minh họa tài hoa hơn cho đại thi hào sẽ có thể thổi phồng những chất liệu tôi vừa chạm đến thành một tập sách thương mại dày dặn, bao gồm cả tiểu sử của William Walworth, Jack Straw và Robert Preston; đôi dòng nhắc đến những thương nhân bán cá nổi tiếng của nhà thờ St. Michael; lịch sử lớn nhỏ của Eastcheap; những giai thoại riêng tư về Mẹ Honeyball và cô con gái xinh xắn mà tôi thậm chí còn chưa nhắc đến; chưa kể đến cô hầu gái đang canh chừng tảng sườn cừu (mà nhân tiện, tôi nhận xét là một thiếu nữ duyên dáng với đôi chân và cổ chân gọn gàng); — toàn bộ được làm cho sống động bởi những cuộc bạo loạn của Wat Tyler, và được soi rọi bởi trận đại hỏa hoạn ở London.
Tất cả những điều này tôi xin để ngỏ, như một mỏ vàng trù phú, để những nhà chú giải tương lai khai thác, và tôi cũng chẳng hề tuyệt vọng khi thấy chiếc hộp thuốc lá cùng chiếc “cốc dát vàng một phần” mà tôi vừa khơi mở sẽ trở thành chủ đề cho những bức khắc họa tương lai, và mang lại nhiều bài khảo luận cùng tranh cãi cồng kềnh chẳng kém gì chiếc khiên của Achilles hay Chiếc bình Portland nổi tiếng.