Mai Huyền Tử vốn là đạo sĩ của một đạo quan nhỏ dưới chân núi Hoàng Sơn ở An Huy, sư phụ của y là lão tiên sinh Mai Phụ Tổ, một bậc túc nho uyên bác về đạo học. Những năm đầu, khi Mai Phụ Tổ dạy học ở Thiên Tân, vì ngưỡng mộ tài năng của quốc học đại sư Lý Thúc Đồng từ lâu, ông đã nhiều lần đến bái phỏng, được Lý Thúc Đồng điểm hóa rất nhiều. Sau khi Lý Thúc Đồng xuất gia, Mai Phụ Tổ cũng xuất gia theo, tu hành tại "Mai Hoa Quan" dưới chân núi Hoàng Sơn.
Mai Huyền Tử vốn không họ Mai, tên thật là Hứa Nhạc Thạch, người Lan Châu. Cha y là một thương nhân buôn la ngựa, những người buôn bán thời Trung Nguyên chở hàng sang Tây Vực, vượt qua Lâu Lan đều thuê đội la ngựa chở hàng của cha y.
Hứa Nhạc Thạch từ nhỏ tính tình bướng bỉnh, không chịu sự quản giáo, năm 15 tuổi lại học thói cờ bạc với đám du thủ du thực ngoài phố, từng trộm một con la của cha đem bán lấy tiền đánh bạc. Cha y tức giận muốn đem y băm vằm, may nhờ có mẹ y hết lời van xin, mới chịu ăn một trận gậy rồi thôi.
Năm 1920, vùng Ninh Hạ bùng nổ trận "động đất Hải Nguyên" hiếm có trong lịch sử loài người, một phần tư Trung Quốc bị chấn động tan nát. Nhà cửa quê nhà của Hứa Nhạc Thạch bị chấn sập, cha mẹ anh em đều thiệt mạng. Bản thân y do tối hôm đó đi chơi bạc với mấy con bạc, nơi đánh bạc là cái lều dựng bằng cọc tre và vải bạt, lúc động đất không có vật nặng rơi xuống nên mới may mắn thoát nạn.
Sau trận động đất, Hứa Nhạc Thạch chứng nào tật nấy không những không hối cải, ngược lại còn đem số la ngựa trong chuồng cùng di vật trong ngôi nhà đổ nát bán sạch để làm vốn đánh bạc, càng chơi càng lớn. Sau đó thua sạch vốn liếng lại còn thiếu nợ tiền, đối phương đòi chặt một tay của y, lúc này y mới hốt hoảng trốn khỏi Lan Châu, dọc đường ăn xin đi đến An Huy.
Hứa Nhạc Thạch đất khách quê người không quen biết ai, nhịn đói trên phố mấy ngày, ngơ ngác đi đến Mai Hoa Quan của lão tiên sinh Mai Phụ Tổ, vừa bước vào cửa đã dập đầu xin chút đồ ăn. Mai Phụ Tổ động lòng từ bi, lập tức sai người làm cho y một bát mì chay.
Hứa Nhạc Thạch mấy ngày không được ăn gì, nhìn thấy đồ ăn liền nhào tới như sói đói, ôm lấy bát nuốt ngấu nghiến.
Mai Phụ Tổ nói: "Không vội, không vội, ăn xong vẫn còn."
Nghe lời lão tiên sinh, Hứa Nhạc Thạch miệng đầy mì sợi bỗng khựng lại, sống mũi cay xè, không biết là chốn cửa đạo thanh tịnh làm lương tâm y thức tỉnh, hay nỗi đói rét cơ cực bấy lâu khiến y thấm thía sự sa cơ lỡ bước, nước mắt cứ thế tuôn trào không ngừng, cuối cùng bịch một tiếng quỳ sụp xuống, nói: "Sư phụ, sư phụ, ngài thu nhận con làm đệ tử đi! Con mệt mỏi lắm rồi, không bao giờ muốn bước chân ra khỏi cánh cửa này một bước nữa!"
Mai Phụ Tổ nghe vậy, chậm rãi nói: "Có thể thể nghiệm được khổ đau, thì cách ngộ đạo không còn xa nữa. Thí nhân nếu thực sự nhìn thấu hồng trần, cha mẹ lại không ngăn cản, thì có thể ở lại tiểu quan, mỗi ngày niệm kinh tham thiền, cầu phúc cho chúng sinh, để trọn quãng đời còn lại."
Hứa Nhạc Thạch lúc này mới nhớ ra cha mẹ mình đã không còn nữa, hai người yêu thương y nhất trên đời đã mãi mãi ra đi. Y cảm giác mấy năm nay trong lòng mình như bị ma ám, trong đầu ngoài cờ bạc ra chẳng còn gì khác, cha mẹ chết đi mà vậy mà không mảy may chạm đến tâm can y. Nghĩ đến đây, Hứa Nhạc Thạch òa khóc nức nở!
Mai Phụ Tổ biết người thanh niên này đằng sau mang nỗi khổ không sao kể hết, nhưng may là lương tâm chưa cạn, bèn thu nhận y làm đệ tử, ban cho đạo hiệu "Huyền Tử", đổi sang họ Mai. Từ đó, Hứa Nhạc Thạch biến thành Mai Huyền Tử, dứt bỏ chuyện đời trước và đời sau, đèn xanh pháp khí bầu bạn suốt quãng đời còn lại.
Phật dạy: "Điều phục chúng sinh cương cường." Hai chữ cương cường, thấm xương thấu máu, bản tính con người ngoan cố, thói hư tật xấu khó sửa. Một kẻ xấu có lẽ sẽ có lúc hối ngộ, nhưng tâm ý hối ngộ ấy lại trôi qua nhanh chóng như chớp mắt.
Lúc mới bắt đầu tu hành, Mai Huyền Tử quả thực có cảm giác đại triệt đại ngộ, mỗi ngày sám hối cầu nguyện, đôi khi nước mắt đẫm bàn thờ hương án. Nhưng qua mấy tháng, con quỷ dữ trong lòng lại bắt đầu bứt rứt không yên. Một hôm, nhân lúc mấy vị sư huynh không để ý, y lại dám trộm tiền công đức trên hương án, trốn khỏi đạo quan đi đánh bạc.
Kết quả có thể đoán trước, mười canh bạc chín canh thua, chưa đầy hai canh giờ đã thua sạch bách.
Thua xong, tâm trạng thấp thỏm, lủi thủi quay về đạo quan. Đến trước cửa, y chần chừ, còn mặt mũi nào gặp sư phụ nữa chứ! Lập tức quay người định đi, nhưng lại chẳng biết đi đâu, nghĩ tới nghĩ lui, đành cắn răng bước vào đạo quan.
Mai Phụ Tổ vẫn luôn tham thiền ở hậu đường, không hề chú ý đến chuyện này.
Lúc ăn cơm chiều, một đệ tử ở tiền đường tên là Huyền Không đến báo: "Sư phụ, tiền trên hương án vơi đi một ít rồi..."
Mai Phụ Tổ ngẩn ra, hỏi: "Chiều nay có người ngoài nào đến đạo quan không?"
Huyền Không nói: "Chỉ có ba năm vị hương khách đến thắp hương trả nguyện. Nhưng mà... nhưng mà..."
Mai Phụ Tổ nhướng mày: "Nhưng mà cái gì?"
"Nhưng mà... nhưng mà, Huyền Tử sư đệ chiều nay có ra ngoài..."
Mai Phụ Tổ liếc nhìn Mai Huyền Tử một cái, nói: "Huyền Tử, con ra ngoài làm gì thế?"
Mai Huyền Tử chột dạ: "Con ra ngoài... mua dầu thơm, con thấy dầu thơm trong đĩa đèn đã cạn, nên đi..."
"Ngươi nói dối!" Huyền Không nói, "Dầu thơm đâu? Chính là số tiền ngươi trộm..."
"Hỗn láo!" Mai Phụ Tổ quát lớn một tiếng, "Huyền Tử là sư đệ của con, sao nó có thể trộm tiền!"
Tim Mai Huyền Tử đập thình thịch.
Sau đó, Mai Phụ Tổ lại nói với Mai Huyền Tử: "Huyền Tử, từ nay về sau xuống núi làm việc, trước tiên phải báo với sư huynh, con nhớ kỹ chưa?" Đến câu cuối, lão tiên sinh tăng nặng giọng điệu.
Mai Huyền Tử vã mồ hôi đầm đìa, nói: "Đệ tử nhớ kỹ rồi."
Đêm đến, Mai Phụ Tổ gọi Mai Huyền Tử vào trong thiền phòng, riêng tư giảng pháp cho y.
„Người xuất gia, làm tăng hay đạo, bái Tam Thanh, kính Tam Bảo, dứt bỏ hết thảy chuyện chốn hồng trần, ấy là đại thiện. Mọi thứ trên đời dẫu có tốt đẹp đến đâu, cũng chỉ là trăng trong nước hoa trong gương, con có hiểu không?“
Mai Huyền Tử khẽ gật đầu.
Mai Phụ Tổ nhìn y, nói tiếp: „Ta kể con nghe một câu chuyện, có một người như thế này, anh ta thông âm luật, người đầu tiên trong nước dùng khuông nhạc năm dòng để soạn khúc chính là anh ta; anh ta giỏi thư pháp, Lỗ Tấn, Quách Mạt Nhược và những người khác lấy việc có được một bức chữ của anh ta làm vinh dự; anh ta tinh thông thơ ca, một bài 'Tống Biệt' sau khi phổ nhạc, vang dội khắp chốn Dân Quốc; anh ta giỏi tranh vẽ, những đại sư như Phong Tử Khải đều là học trò do anh ta đào tạo; anh ta rành kim thạch, đao pháp tự nhiên, tinh tế như thiên tạo; anh ta đẩy mạnh kịch nói, năm Quang Tự thứ ba thế kỷ trước đã lên sân khấu diễn Trà Hoa Nữ. Những cảnh giới mà người bình thường dốc cả đời cũng không thể đạt tới, anh ta đều đạt được, anh ta là một con người gần như hoàn hảo. Người này, con có biết là ai không?“
Mai Huyền Tử đáp nhỏ: „Lý Thúc Đồng.“
Mai Phụ Tổ nói: „Đúng vậy. Người đời phần lớn chỉ biết một Lý Thúc Đồng hào quang vinh hiển, lại chẳng biết Hoằng Nhất pháp sư trong chốn thiền viện cửa Phật, ông đã từ bỏ tất cả sở thích và vinh quang, một lòng hướng Phật, tại sao chứ?“
Mai Huyền Tử cúi đầu không nói.
Mai Phụ Tổ nói: „Người đời đều nói người xuất gia đều là do bất đắc dĩ, sống không nổi ở chốn thế tục nữa mới phải xuất gia; cũng có người nói người xuất gia là đồ ngốc, không hiểu được niềm vui nhân gian. Lý Thúc Đồng đã dùng hành động của chính mình, để diễn giải chân lý của việc xuất gia. Ông ấy bất đắc dĩ sao? Không hề, ông ấy học thức uyên bác, nội tâm vô cùng phong phú; ông ấy sống không nổi ở chốn nhân gian sao? Càng không phải, ông ấy danh tiếng lẫy lừng khắp cửu châu, gom trọn vạn ân vạn sủng vào một mình; ông ấy ngốc sao? Kẻ trí tuệ hơn ông ấy trên đời này e rằng còn chưa sinh ra; ông ấy không hiểu niềm vui nhân gian sao? Càng không phải, những thành tựu vượt trội ở nhiều lĩnh vực không ai bì kịp, khiến ông ấy vô cùng am tường thú vui nhân gian! Xuất gia, là vì ông ấy nhìn thấu tất cả những thứ này chỉ là ảo ảnh bọt nước! Buông bỏ, buông bỏ, có buông mới có được, Hoằng Nhất pháp sư nhiều sở thích như vậy còn buông bỏ được, con hãy tự mình suy nghĩ cho kỹ đi.“
Mai Huyền Tử nghe xong, nhất thời tỉnh ngộ như được rót nước lạnh vào đầu, y nghiến răng hạ quyết tâm: „Con mà còn đánh bạc nữa, thì đi chết đi!“
Thế nhưng vui chẳng được bao lâu, hai tháng sau, y quả nhiên lại không kìm được mà trộm tiền đến sòng bạc. Sau khi thua sạch, quay về trước cửa đạo quan, dập ba cái đầu thật kêu hướng về cửa đạo, rồi vòng ra hậu sơn, đâm thẳng đầu vào tảng đá lớn, máu tươi tuôn láng láng ngay lập tức, ngất lịm đi.
Lúc y tỉnh lại, đã nằm trong thiền phòng của sư phụ.
Thực ra lúc chiều y lén chạy ra ngoài, đạo đồng gác cửa đã báo cáo với sư phụ, Mai Phụ Tổ liền bảo đại đệ tử Huyền Không bám sát theo y.
Huyền Không đi theo y một mạch đến sòng bạc, thầm nghĩ tên nhãn này quả thật chứng nào tật nấy, nhưng sư phụ đã dặn, cứ việc theo dõi y là được, bèn ngồi ở quán trà cách đó không lâu để chờ. Rất nhanh tên nhãn này đã bước ra, Huyền Không lập tức bám theo, sau đó lại thấy y bái lạy sơn môn ba lần, thầm nghĩ tên khốn này xem ra hãy còn chút lương tâm, rồi sau đó y lại chạy thẳng về phía hậu sơn, Huyền Không lấy làm khó hiểu, tưởng y muốn rời khỏi đạo quan, kết quả y lại dừng lại trước một tảng đá lớn, Huyền Không thầm cười trong lòng: Đây là muốn diện bích tư quá đây mà. Thấy trời đã tối hẳn, vừa định gọi y về, nào ngờ y lại đâm sầm đầu vào tảng đá lớn!
„Đến chết còn không sợ, cai bạc lại khó đến thế sao?“ Mai Phụ Tổ nhìn y nói.
„Sư phụ——“ Mai Huyền Tử sống mũi cay xè, nước mắt tuôn rơi...