Người vào đường khẩu đều phải qua sự xem xét của đại sư ba. Giang Phi Yến tuy ngoài miệng đồng ý, nhưng cô hiểu rõ, đứa trẻ này có ở lại được đường khẩu hay không vẫn phải do Kiều Ngũ Muội quyết định. Mấy ngày sau, Giang Phi Yến dẫn Hoàng Pháp Dung trở về Nam Quảng Đông.
Thế giới này luôn là như vậy, có những người, tuy cách biệt chân trời góc biển, nhưng lại luôn có thể tâm đầu ý hợp ngay từ cái nhìn đầu tiên; có những người, tuy ở ngay tấc gang, nhưng cả đời lại lướt qua nhau.
Hoarrg Pháp Dung chính là người tâm đầu ý hợp với Giang Phi Yến và Kiều Ngũ Muội. Con bé này sinh ra đã lanh lợi cổ quái, một đôi mắt to sáng ngời, ngoài việc hơi gầy ra thì chẳng có điểm gì để chê, vừa gặp Kiều Ngũ Muội đã biết chủ động quỳ xuống dập đầu gọi bà nội, khiến Kiều Ngũ Muội vui mừng cười không khép được miệng.
Những ngày tháng sau đó, Kiều Ngũ Muội và Giang Phi Yến dần phát hiện ra đây chính là nhặt được một bảo bối lớn! Cô bé có đôi mắt to tròn này chính là một kỳ tài bói toán chính gốc! Đây chính là duyên phận, nếu lúc ban đầu Hoàng Pháp Dung không trốn hôn, thì đã không đến Phúc Kiến; nếu Giang Phi Yến không đi ngang qua con ngõ nhỏ đó, thì đã không cứu được cô bé.
Trong tấm lưới lớn đan cài bởi vận mệnh, sự gặp gỡ giữa người với người luôn là tất yếu nằm trong ngẫu nhiên.
Sau khi Hoàng Pháp Dung gia nhập đường khẩu, Giang Phi Yến theo lệ thường muốn truyền dạy cho cô Âm Dương ngũ hành, kiến thức cơ bản, thực ra cô vốn chẳng cần học, cô hiểu nhiều hơn bất kỳ ai trong đường khẩu, đến cả Kiều Ngũ Muội cũng không đố lại được cô!
Khoảng thời gian đó, Kiều Ngũ Muội đang được mời đến Liễu Châu, Quảng Tây để cầu mưa cho bách tính địa phương, suy đi tính lại, bèn mang theo Hoàng Pháp Dung.
Khi Kiều Ngũ Muội cầu mưa, khí thế rất lớn, lập đài mây, làm đại pháp, nước sạch tạt đường, đất vàng lót lối, cây quấn lụa trắng, trúc cắm phờ vàng, tiền hô hậu ủng hơn trăm người, trận thế thần tiên, chói lọi thiên hạ.
Đài mây cao ba trượng ba, Kiều Ngũ Muội theo thang bước lên đài mây, tay cầm phất trần, thong thả bước đi, hai hàng đạo sĩ gõ khánh tấu nhạc, chuông trống đồng thời vang lên. Trên đài mây, án hương, chân nến, lư hương, giấy vàng đều đầy đủ, Kiều Ngũ Muội trước bái Vương Mẫu, sau bái Lôi Công, rồi bái Điện Mẫu, sau đó lớn tiếng tụng đọc văn cầu nguyện, dưới đài huyện lệnh, sư gia một đám người thành kính dõi theo, chúng sinh cúi đầu chiêm ngưỡng.
Khi pháp sự kết thúc, Kiều Ngũ Muội sẽ quát lớn một tiếng: "Lôi Công phò trợ, Điện Mẫu gia trì, trong nửa tháng, ắt có mưa!"
Thực ra, Kiều Ngũ Muội cầu mưa dựa vào việc quan sát thiên văn, còn việc lập đàn làm phép, đó chỉ là che mắt người đời. Giống như Gia Cát Lượng lập đàn thất tinh mượn gió đông vậy, ở bên trên khua tay múa chân, đó đều là để cho những người xung quanh xem, thực ra Gia Cát Lượng thông thiên văn tường địa lý, quan sát thiên tượng, xét tình hình đất đai, lại dựa vào thuật Kỳ Môn để lập quẻ suy đoán, từ sớm đã đoán được ngày hôm đó nhất định sẽ nổi gió, cho nên cuối cùng mới có thể "mượn" được gió đến.
Thời cổ đại không có dự báo thời tiết, nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh lâu dài với tự nhiên đã đúc kết ra rất nhiều kinh nghiệm, lại có thêm một số thuật sĩ có tâm, dò dẫm quy luật giữa ngũ hành với hiện tượng ngày, sao, mặt trăng, khí tượng và các hiện tượng tự nhiên khác, tổng kết thành một bộ học thuyết dự đoán cổ đại mang đậm màu sắc phương Đông.
Kiều Ngũ Muội đã nắm vững bộ kỹ thuật này, trong "Việt Hải Đường Phong Tướng Trát Ký" có một đoạn ghi chép vô cùng đặc sắc thế này:
Lôi Công ở đâu? Điện Mẫu ở đâu?
Giang Tướng một môn, A Bảo tự độ.
Trăng quầng ba ngày gió, trời tán ba canh mưa;
Mây sớm không ra khỏi cửa, mây chiều đi ngàn dặm.
Mây trôi về đông, một trận gió lớn;
Mây trôi về nam, mưa lớn lật thuyền;
Mây trôi về bắc, trời đất tối đen;
Mây trôi về tây, cá khoác áo tơi.
Nền nhà khô ráo ác là kêu, trong tháng khô khan hoài;
Sớm kêu tài vận đến, tối kêu tang sự báo.
---❊ ❖ ❊---
Bốn câu đầu là lời mở đầu, có ý nghĩa là: "Lôi Công ở đâu? Điện Mẫu ở đâu? Môn sinh của Giang Tướng Phái, tự mình có thể phỏng đoán." Người xưa cho rằng sấm chớp đều do Lôi Công Điện Mẫu trên trời làm ra, cho nên mới có phần mở đầu này.
Phía sau chính là quy luật ứng nghiệm cụ thể. "Trăng quầng ba ngày gió", ý là nếu xung quanh mặt trăng xuất hiện quầng sáng, dân gian thường gọi là "mặt trăng sưởi lửa", thì trong ba ngày nhất định sẽ nổi gió; tương tự, "trời tán ba canh mưa", nếu xuất hiện tán mặt trăng, thì canh ba ngày hôm đó nhất định sẽ có mưa.
“Mây sớm không ra khỏi cửa”, ý là nếu dậy sớm, mặt trời vừa lộ đầu mà bên chân trời đã có mây rực rỡ lan tràn, thì tuyệt đối đừng ra ngoài, mưa lớn sắp đến ngay lập tức; ngược lại, nếu vào lúc hoàng hôn ngày hôm đó, mây chiều rực rỡ, hào quang vạn trượng, thì hãy cứ yên tâm xuất hành đi, thời gian tới sẽ không có mưa, cho nên mới có câu “mây chiều đi ngàn dặm”.
Bốn câu tiếp theo là tuyệt kỹ quan sát mây, phương pháp này không chỉ được ghi chép trong "Việt Hải Đường Phong Tướng Trát Ký", mà còn được lưu truyền rộng rãi trong dân gian, cách nói ở các vùng miền khác nhau có hơi khác một chút. Có người nói phương pháp này không chuẩn, đó là chưa nắm bắt được tinh túy của nó, mây trong bốn câu này không phải chỉ những đám mây trôi bình thường, mà là chỉ những đám mây đen, mây dày cuồn cuộn như sóng trào.
Lãnh thổ Trung Quốc tổng thể nằm ở phía bắc xích đạo, địa thế tây cao đông thấp, nhiệt độ nam nóng bắc lạnh. "Trát Ký" có viết: Mây chính là mưa, nước dưới đất bốc lên gặp lạnh mà thành; mây từ tây nổi lên đi về hướng đông, thuận theo thế mà xuống, đối lưu lạnh nóng, bèn thành gió cuồng, gọi là “mây trôi về đông, một trận gió lớn”, thế nhưng, sau gió có mưa hay không? Cái này thuộc về tượng mây; mây từ bắc ra đi về nam, mây lạnh chồng lên trên, sóng nhiệt đạp ở dưới, lạnh nóng gặp nhau, mây càng thêm dày, dày mà không chịu nổi, mưa như trút nước, gọi là “mây trôi về nam, mưa lớn lật thuyền”; mây từ nam nổi lên đi về bắc, sóng nhiệt ở trên, khí lạnh trốn xuống, càn hợp khôn thu, trời đất tối sầm, gọi là “mây trôi về bắc, trời đất tối đen”; mây từ đông nổi lên đi về tây, theo thế mà lên, gió thổi không tan, sấm đánh không chuyển, tích tụ dày phát ra dày, cuối cùng có được sự chấn động của sét đánh, trút xuống như trút nước, cá không chịu nổi, muốn tìm chỗ che chở, gọi là “mây trôi về tây, cá khoác áo tơi”.
Đây là lời giải thích khoa học mà tổ tông đời trước của "Việt Hải Đường" đưa ra cho mấy câu khẩu quyết này. Nhưng suy cho cùng, vạn pháp nằm ở sự biến hóa linh hoạt, huống chi mây có rất nhiều loại, mây đen, mây dày, mây đậm, mây mỏng, mây vụn, mây nhạt, mây trọc, mây hình thành ổ, mây vảy cá, mây móc câu v.v., nếu không có công phu ba năm năm năm, thì việc nhìn mây đoán mưa thực chất chỉ là trò cười.
Hai câu cuối, “Nền nhà khô ráo ác là kêu, trong tháng khô khan hoài”. “Nền”, chỉ móng nhà, “nền khô ráo” chính là móng nhà khô ráo, đây là biểu hiện của thời tiết quang tảng. Chim ác là và thời tiết có một mối quan hệ tất yếu, trời càng quang tảng chim ác là kêu càng vui vẻ, chim ác là kêu càng vui vẻ, thời gian thời tiết quang tảng duy trì sẽ càng lâu.
Nói về loài chim ác là này, luôn được đặt lên bàn cân cùng với quạ đen, tục ngữ có câu: Chim ác là báo hỷ, quạ đen báo tang. Thực ra, chim ác là không phải lúc nào cũng báo hỷ, đôi khi cũng truyền đi những thông tin xấu, gọi là “sớm báo hỷ, tối báo tang”. Nếu sáng sớm chim ác là đã ríu rít ở cành cây nhà bạn, thì chuyện tốt sắp đến rồi, nếu là lúc chập tối mà đứng trên cành cây kêu la hồi lâu, thì đại sự không ổn rồi, cho nên mới có lời đoán định “sớm kêu tài vận đến, tối kêu tang sự báo”.
Những đạo lý này đều là kinh nghiệm được vô số đời A Bảo của "Việt Hải Đường" đúc kết lâu dài trong suốt mấy trăm năm, bây giờ có những cái có thể giải thích bằng khoa học, nhưng có những cái vẫn không thể giải thích nổi.
Trong tất cả các kỹ thuật dự đoán thời tiết thời cổ đại, chiêu thức lợi hại nhất chính là "ngửi nền nhà biết thiên thời", chính là dựa vào độ ẩm và mùi hương của móng nhà để dự đoán chính xác thời gian nổi gió đổ mưa. Người phát minh ra phương pháp này là đại sư phong thủy đời Đường Viên Thiên Cương, Viên Thiên Cương giỏi phân biệt mùi hương và độ ẩm của đất đai, đây đương nhiên là yếu tố bắt buộc của một phong thủy sư, nhưng Viên Thiên Cương lại có thể dùng tình hình đất đai tác động ngược lại thiên thời, đây không phải là điều người bình thường có thể đạt tới, giữa vùng đồng bằng màu mỡ, nhúm một nhắm đất, dùng mũi ngửi qua, là có thể đưa ra dự đoán về thời tiết tương lai.
Hoàng Pháp Dung vô tình lại nắm được bản lĩnh "ngửi nền nhà biết thiên thời" này. Hồi nhỏ ở nhà, bố mẹ không ôm ấp, hàng xóm không màng tới, lúc buồn chán, cô sẽ ngồi xổm ở góc tường chơi đấu gián, trong lúc vô tình lại phát hiện ra mối quan hệ giữa độ nặng của hơi ẩm do móng nhà phát ra với kích thước của lượng mưa, lâu dần liền mày mò ra một bộ quy luật.
Kiều Ngũ Muội ngày đó sau khi xem thiên văn và tượng mây ở Quảng Tây, biết được trong vòng mười lăm ngày nhất định sẽ có mưa, lúc này mới ra vẻ làm phép, cuối cùng thông báo với tri huyện địa phương: "Trong nửa tháng, ắt có mưa!"
Sau khi pháp sự kết thúc, Hoàng Pháp Dung len lén kéo vạt áo Kiều Ngũ Muội, nói: "Bà nội, cháu thấy không mất đến nửa tháng đâu, trong vòng mười ngày trời nhất định sẽ đổ mưa."
Trong lòng Kiều Ngũ Muội cả kinh: Lẽ nào đứa trẻ này còn lợi hại hơn cả mình?
Quả nhiên, vào ngọ ngày thứ mười, mây đen như mực che kín bầu trời, ngay sau đó mưa lớn trút xuống như xối nước. Kiều Ngũ Muội vui mừng ôm chầm lấy Hoàng Pháp Dung vào lòng.
"Cháu gái của ta không đơn giản." Người phụ nữ đã hơn năm mươi tuổi này cuối cùng cũng tìm lại được niềm vui gia đình lâu ngày không gặp ở trên người Hoàng Pháp Dung, cũng bù đắp lại sự trống vắng do thiếu hụt tình mẫu tử bấy lâu nay của bà.
Giang Phi Yến từng đau lòng nói với Kiều Ngũ Muội: "Con bé Pháp Dung này, cho dù không làm A Bảo, sau này cũng là người cơm áo đủ đầy. Dựa vào bản lĩnh thật sự này của nó, hoàn toàn có thể đi đường chính đạo, bình an vô sự nghiên cứu Kinh Dịch, chắc chắn sẽ thành đại sư một đời."
Kiều Ngũ Muội nói: "Lăn lộn trong đội ngũ của A Bảo, quả thực là đi đường rẽ rồi, nhưng đây cũng là số mệnh của nó, đã bước chân vào thì không thể rửa tay gác kiếm được nữa, cho đến chết, đây là quy tắc của chúng ta." Kiều Ngũ Muội sợ Giang Phi Yến sau này sinh lòng trắc ẩn mà thả Hoàng Pháp Dung đi, đành phải tiêm phòng trước cho Giang Phi Yến.
Tổ gia đến cầu hôn, Giang Phi Yến quyết định nhịn đau cắt ái, đây cũng là để báo đáp ân ơn giải vây của Tổ gia khi Kiều Ngũ Muội xuất gia năm ngoái. Giang Phi Yến vô cùng quan tâm yêu thương đứa con gái nuôi này của mình, nếu không phải Tổ gia đến cầu hôn, cô tuyệt đối sẽ không buông tay.
Hoàng Pháp Dung đã 18 tuổi, cũng đến tuổi cưới gả rồi. Giang Phi Yến tín nhiệm Tổ gia, liền để Hoàng Pháp Dung và Trương Tự Chiêm gặp mặt.
Trong chuyện nam nữ yêu đương cưới hỏi, "Giang Tướng Phái" vẫn rất cởi mở, bọn họ chưa bao giờ bao biện hôn nhân, chỉ khi hai người trong cuộc nhìn đối phương thuận mắt, thì mới có thể thành đôi.
Chuyện nam nữ yêu đương thời cổ đại không giống bây giờ, mới gặp lần đầu đã dám ăn uống cùng nhau, thậm chí nắm tay hôn môi, thời xưa rất coi trọng việc nhìn trộm và nhìn chính diện.
Nhìn trộm là bước đầu tiên, chính là một đôi trai gái mới, một người ngoài cửa sổ, một người trong nhà, trước tiên liếc nhau một cái, xem cái nhìn đầu tiên có bắt sóng được không. Nếu cái nhìn đầu tiên trông thấy không phải là kiểu người mình thích, thì không cần phải nói chuyện nữa.
Trương Tự Chiêm và Hoàng Pháp Dung sau khi nhìn trộm nhau xong, cảm giác về đối phương đều khá tốt.
Thế là Tổ gia và Giang Phi Yến sắp xếp cho họ gặp chính diện.
Khi gặp chính diện, những người khác không được phép có mặt, bởi vì trai gái mới đều rất ngại ngùng, nếu có người khác ở đó, sẽ rất lảng tránh, không thuận tiện cho việc giao lưu.
Giang Phi Yến dồn hai người vào trong phòng, liền cùng Tổ gia đi ra ngoài.
Hai người này quả thực là yêu từ cái nhìn đầu tiên, giống như kiếp trước đã quen biết rồi, kiếp này đến để hội ngộ. Hai người ở trong phòng ríu rít suốt hai canh giờ, thấy trời sắp tối, Giang Phi Yến và Tổ gia nhìn nhau cười, biết rằng mối hôn sự này đã thành rồi.
Buổi tối, Giang Phi Yến bày tiệc khoản đãi Tổ gia, trong bữa tiệc Giang Phi Yến nửa đùa nửa thật nói: "Tổ gia đã qua tuổi ba mươi, chưa từng nghĩ sẽ tự mình thành tựu một mối hôn sự cho bản thân sao?"
Tổ gia cười khổ lắc đầu, thở dài nói: "Đại nghiệp chưa hưng, công chưa thành, danh chưa toại, uổng phí ba mươi năm, còn bàn gì đến chuyện tình cảm nhi nữ."
Giang Phi Yến nghe xong, trong mắt xẹt qua một tia thất vọng.
Một tháng sau, Hoàng Pháp Dung từ "Việt Hải Đường" gả vào "Mộc Tử Liên". Cho dù không phải con đẻ, nhưng dẫu sao cũng ở bên nhau bốn năm, ngày Hoàng Pháp Dung xuất giá, Giang Phi Yến vẫn trốn vào trong phòng len lén khóc.
Đông phái và Nam phái kết thông gia trăm năm, người của Tây phái và Bắc phái cũng đều đến cửa chúc mừng, chuyện này trong "Giang Tướng Phái" cũng trở thành một giai thoại đẹp.