Phong Nhũ Phì Đồn

Lượt đọc: 262 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 13

❊ ❊ ❊

Sự suy lão của người phụ nữ bắt đầu từ bộ ngực, và sự suy lão của bộ ngực bắt đầu từ núm vú. Do vụ trốn theo người tình của Đại tỷ, núm vú hồng hào vốn vẫn vểnh lên một cách nghịch ngợm của mẹ bỗng sụp xuống, rũ rượi như bông lúa chín cúi đầu. Cùng lúc sụp xuống, sắc hồng ấy cũng chuyển thành đỏ sẫm. Trong những ngày tháng đó, lượng sữa tiết ra giảm đi, mùi vị sữa cũng mất đi sự tươi mới, thơm ngát và ngọt ngào như trước; trong dòng sữa loãng nhạt, phảng phất một thứ mùi gỗ mục. May thay, theo thời gian trôi đi, tâm trạng của mẹ dần khá lên, đặc biệt là sau khi ăn con cá trê lớn ấy, núm vú đang rũ xuống từ từ vểnh lên, sắc tố sậm lại cũng nhạt dần, lượng sữa tiết ra hồi phục về mức mùa thu. Nhưng điều bất an là, sự suy lão lần này rốt cuộc đã để lại một nếp nhăn ở nơi tiếp gic giữa núm vú và bầu ngực, tựa như trang sách bị gấp lại, dẫu được duỗi phẳng trở lại thì vết hằn vẫn khó bề xóa sạch. Biến cố này đã gióng lên hồi chuông cảnh báo cho tôi, dựa vào bản năng, hay có lẽ là sự khải thị của thần linh, tôi bắt đầu thay đổi thái độ buông thả với bầu ngực, tôi phải trân trọng chúng, dưỡng hộ chúng, coi chúng như những món đồ tinh xảo cần phải nâng niu nhẹ nhàng.

Mùa đông năm nay lạnh đến kỳ lạ, dựa vào nửa gian phòng lúa mì và một hầm củ cải, mẹ con chúng tôi bình an bước sang mùa xuân. Vào những ngày lạnh nhất của tiết Tam Cửu, tuyết lớn mịt mờ che lấp cửa ngõ, cành cây trong sân bị tuyết đọng làm gãy. Chúng tôi mặc chiếc áo khoác lông thú do Sa Nguyệt Lượng tặng, quây quần bên mẹ, bước vào trạng thái ngủ đông. Một ngày nọ, mặt trời ló rạng, tuyết tan, những cột băng lớn treo tẻo teo dưới hiên nhà, đàn chim sẻ lâu ngày không gặp kêu ríu rít trên cành cây phủ tuyết, chúng tôi thức tỉnh từ giấc ngủ đông. Chúng tôi đã qua cái thời kỳ dùng nước tuyết nấu thành nước sinh hoạt từ lâu lắm rồi. Món củ cải nấu nước tuyết lặp đi lặp lại mấy trăm lần khiến các chị em chán ngấy đến tận cổ. Nhị tỷ Thượng quan Chiêu Đệ là người đầu tiên lên tiếng: "Nước tuyết năm nay có mùi tanh của máu, nhất định phải ra sông gánh nước ngay, nếu không sẽ mắc bệnh kỳ lạ, đến cả Thượng quan Kim Đồng chỉ trông vào sữa mẹ cũng không tránh khỏi." Thượng quan Chiêu Đệ đã thay thế vị trí thủ lĩnh của Thượng quan Lai Đệ. Người chị này sở hữu hai cánh môi đầy đặn, giọng nói mang một nét khàn đầy quyến rũ. Lời nói của cô có sức nặng đáng kể, bởi vì từ đầu mùa đông, cô đã toàn quyền phụ trách chuyện bếp núc, trong khi mẹ lại giống như một con bò sữa bị thương, lúc thì e thẹn, lúc lại hùng hồn khoác lên mình chiếc áo khoác lông chồn quý phái, ngồi trên kang, điều dưỡng cơ thể, quan tâm đến số lượng và chất lượng sữa. "Từ hôm nay đi gánh nước sông về ăn." Nhị tỷ nhìn mặt mẹ, dùng giọng điệu không cho phép phản bác mà nói. Mẹ không phản đối. Tam tỷ Thượng quan Lĩnh Đệ nhíu mày chê bai cái mùi vị tệ hại của củ cải nấu nước tuyết, cô lại một lần nữa đề nghị bán con la đi lấy tiền rồi dùng tiền mua thịt ăn. Mẹ mỉa mai: "Trời băng đất tuyết, đi đâu mà bán la?" Tam tỷ đáp: "Thế thì chúng ta đi bắt thỏ rừng, trời băng đất tuyết, thỏ lạnh đến mức chạy không nổi rồi." Mẹ biến sắc: "Ghi nhớ lấy, các con, đời này đừng bao giờ để ta nhìn thấy thỏ rừng nữa."

Thực ra, trong mùa đông khắc nghiệt này, rất nhiều hộ gia đình trong thôn đều đã ngấy thịt thỏ rừng. Những con thỏ béo tròn bò lổm ngổm trên tuyết trông như dòi đuôi dài, đến đàn bà chân bó cũng có thể bắt sống chúng. Mùa đông năm nay cũng là thời hoàng kim của chồn lửa và chồn cỏ, bởi vì chiến tranh, súng săn đã bị đủ loại du gia cướp đi, khiến người trong thôn không còn vũ khí; cũng vì chiến tranh, tâm lý người trong thôn chịu tổn thương, thế nên trong mùa vàng thu hoạch lông chồn, lũ chồn không phải chịu nỗi lo mất mạng như những năm trước. Trong những đêm dài đằng đẵng ấy, chúng tha hồ cuồng hoan nơi đầm lầy, những con chồn đực khiến tất cả chồn cái đều mang thai vượt quá số lượng thông thường. Tiếng kêu thê lương dồn dập của chúng quấy rầy khiến lòng người bất an.

Tam tỷ và Tứ tỷ dùng đòn gánh gánh một chiếc thùng gỗ lớn, Nhị tỷ vác một cây búa lớn bằng sắt, đi đến bên bờ sông Giao Long.

Khi đi qua nhà cô cô Tôn Đại Cô, các cô không kìm được mà liếc mắt nhìn sang. Cả sân vườn hoang vắng, không có chút hơi hươm con người nào. Một đàn quạ đậu trên đầu tường, khiến các chị em nhớ lại cảnh tường nhà họ Tôn thuở trước. Sự náo nhiệt ngày xưa nay không còn nữa, đám anh em câm cũng chẳng biết lưu lạc phương nào. Các chị em đạp lớp tuyết dày đến tận gốc đùi đi xuống bờ sông, mấy con chồn hoang ngó theo họ từ trong bụi rậm. Mặt trời ở hướng Đông Nam, chếch chiếu xuống lòng sông, một khoảng sáng chói lọi. Băng gần bờ có màu trắng, bước lên nghe lạo xạo như dẫm phải chiếc bánh quy giòn rụm, phát ra tiếng kêu răng rắc. Băng ở giữa lòng sông có màu xanh nhạt, cứng rắn và sáng bóng. Các chị em lảo đảo bước trên mặt băng, Tứ tỷ ngã nhào một cú, Tam tỷ kéo Tứ tỷ nên cũng thuận đà ngã theo. Đòn gánh, thùng nước, búa sắt va vào mặt băng kêu leng keng, họ cười khúc khích với nhau.

Nhị tỷ chọn một khoảng sạch sẽ nhất, bắt đầu đập băng. Cây búa sắt gia truyền của nhà họ Thượng quan được cánh tay mảnh mai của cô giáng lên, nặng nề nện xuống mặt băng, tiếng động phát ra sắc mỏng như lưỡi dao, bay vút đến ô cửa nhà tôi, làm giấy dán cửa rung lên phần phật. Mẹ vuốt ve chùm tóc vàng trên đầu tôi và lớp lông linh miêu trên người tôi, nói: "Kim Đồng nhi, Kim Đồng nhi, tỷ tỷ đi đập băng, đập một cái lỗ lớn, gánh về một thùng nước, đổ ra nửa thùng cá." Bát tỷ khoác chiếc áo ngắn bằng da linh miêu co ro ở góc kang, cười ngượng ngùng, trông như một vị Tiểu Quan Âm bằng lông thú. Nhị tỷ nện một búa xuống, trên mặt băng xuất hiện một điểm trắng bằng hạt óc chó, vài mảnh vụn băng li ti dính trên đầu búa. Cô lại giơ búa lớn lên, lúc giơ lên thì miễn cưỡng, lúc hạ xuống thì lảo đảo. Trên mặt băng lại xuất hiện một điểm trắng, cách điểm trắng vừa rồi đúng một mét. Khi trên mặt băng xuất hiện hơn hai mươi điểm trắng, Thượng quan Chiêu Đệ đã thở hồng hộc, hơi trắng phả ra từ miệng vừa thô vừa dài. Cô cố gắng giơ búa lên, lúc búa hạ xuống thì kiệt sức, ngã phịch xuống mặt băng, khuôn mặt nhỏ nhắn trắng bệch, đôi môi dày đỏ chót, đôi mắt mờ ảo, chóp mũi lấm tấm hạt mồ hôi lấp lánh.

Tam tỷ và Tứ tỷ lầm bầm, bắt đầu trút nỗi bất mãn với Nhị tỷ. Gió bắc nhỏ thổi lồng lộng trong lòng sông, cứa vào mặt họ đau rát như dao cắt. Nhị tỷ đứng dậy, nhổ nước bọt vào lòng bàn tay mấy bãi, túm chặt lại cán búa, giơ búa lớn lên, giáng mạnh xuống. Nhưng chỉ đập được hai cái, cô lại ngã lăn ra mặt băng.

Đúng lúc các chị em đang tuyệt vọng thu dọn thùng nước, đòn gánh, chuẩn bị về nhà đun nước tuyết hoặc băng đóng cọc để nấu cơm trưa, thì hơn chục chiếc xe trượt tuyết kéo bằng ngựa mang theo làn khói mờ ảo phi nhanh từ sông băng tới. Do mặt băng phản chiếu ánh nắng bảy màu, bọn họ lại đi tới từ hướng Đông Nam, thế nên Nhị tỷ vẫn luôn cho rằng họ từ trong mặt trời trượt dọc theo ánh sáng đi xuống. Bọn họ lấp lánh kim quang, tốc độ nhanh tựa chớp giật. Móng ngựa tung bay, ánh bạc chớp lóe, đinh thép trên móng ngựa băm nát mặt băng kêu lốp bốp, vụn băng văng tung tóe, quất vào má các chị em. Họ ngẩn người ngơ ngác, đến cả việc né tránh cũng quên bẵng đi và không kịp nữa. Đàn ngựa vòng qua họ, rồi lảo đảo phanh kít lại. Lúc này các chị em mới thấy xe trượt tuyết đều được sơn màu vàng mơ, quét một lớp dầu tung dày dặn, trông như một lớp kính màu. Trên mỗi chiếc xe ngồi bốn người, đều đội mũ da chồn xù xông. Râu, lông mày, lông mi và vành trước mũ da kết một tầng sương hoa trắng xóa.

Trong miệng và lỗ mũi đều phả ra những luồng hơi nóng vừa thô vừa dài. Đàn ngựa nhỏ nhắn tinh xảo, mày thanh mắt tú, chân ngựa đều mọc tua tủa những chòm lông dài. Từ thái độ điềm tĩnh của chúng, Nhị tỷ đoán rằng đây là ngựa Mông Cổ trong truyền thuyết.

Một người vóc dáng cao lớn nhảy phắt xuống từ chiếc xe trượt thứ hai. Hắn mặc chiếc áo da cừu lộn ngược, vạt áo phanh ra, lộ ra chiếc áo ghile bằng da báo. Thắt lưng da buộc chặt trên áo ghile, giắt một khẩu súng lục ổ quay, bên cạnh còn có một chiếc rìu nhỏ cán ngắn. Duy chỉ có hắn là không đội mũ da mà đội một chiếc mũ nỉ ba mảnh. Trên đôi tai vểnh lên của hắn, mỗi bên đeo một chiếc bịt tai bằng da thỏ rừng. "Có phải con gái nhà họ Thượng quan không?" hắn hỏi.

Người trước mắt này chính là Nhị chưởng quỹ Phúc Sinh Thường - Tư Mã Khố. "Các cô đang làm gì ở đây?" hắn hỏi, chưa đợi các chị em tôi trả lời, hắn đã tìm ra đáp án, "Ồ, đập lỗ băng à, đây nào phải việc bọn con gái các cô làm!" Hắn hét lớn với những người trên xe trượt, "Đều xuống đây, giúp hàng xóm của tôi đập một cái lỗ, nhân tiện cho đám ngựa Mông Cổ của chúng ta uống nước."

Từ trên xe trượt bước xuống mấy chục người đàn ông sưng phồng, họ ho khan, khạc nhổ vang trời. Mấy người ngồi xổm xuống, móc rìu nhỏ từ thắt lưng ra, bập bập chặt vào lớp băng. Vụn băng văng tung tóe, trên mặt băng xuất hiện vài vết chặt màu trắng. Một tên râu xồm sờ sờ lưỡi rìu, sụt sịt mũi nói: "Đại ca Tư Mã, chặt thế này, sợ rằng chặt đến tối cũng không chặt thủng được." Tư Mã Khố ngồi xổm xuống, mò chiếc rìu ở thắt lưng mình ra, thử chặt vài nhát, chửi rủa: "Mẹ kiếp, cứng như tấm thép vậy." Tên râu xồm nói: "Đại ca, mỗi chúng ta tè một bãi là có thể rưới tan ra rồi." Tư Mã Khố mắng: "Nói nhảm cái con khỉ khô!" Nhưng hắn lập tức hưng phấn lên, vỗ đét vào mông mình - hắn nhăn mặt lại, vết bỏng trên mông vẫn chưa lành hẳn - nói: "Có cách rồi, kỹ sư Khương, kỹ sư Khương, anh lại đây." Người đàn ông gầy gò tên kỹ sư Khương bước tới, nhìn Tư Mã Khố, không nói gì, nhưng biểu cảm của hắn đã nói cho Tư Mã Khố biết hắn đang chờ sai bảo. "Cái món đồ của anh ấy, có cắt đứt được lớp băng này không?" Kỹ sư Khương cười khinh miệt, dùng giọng điệu nhọn hoắt như đàn bà nói: "Tựa như dùng búa sắt đập trứng gà ấy."

Tư Mã Khố vui mừng nói: "Mau lên, cắt cho tôi tám tám sáu mươi tư cái lỗ trên dòng sông này, để bà con chòm xóm được thơm lây theo Tư Mã Khố tôi. Các cô đừng đi vội." Hắn lại dặn dò các chị em tôi.

Kỹ sư Khương kéo tấm bạt trên chiếc xe trượt thứ ba ra, lộ ra hai khối sắt được sơn màu xanh lục, trông như những quả đạn pháo khổng lồ. Hắn vô cùng thành thạo xóc ống cao su màu đỏ dài dằng dặc, rồi vặn ống cao su vào đầu khối sắt. Sau đó, hắn nhìn chiếc đồng hồ tròn trên đầu khối sắt, trên đó có chiếc kim đỏ mảnh khảnh đang dao động. Cuối cùng, đeo găng tay bạt vào, hắn kẹp một khối sắt trông giống như cái tẩu hút thuốc dài, nối liền với hai ống cao su, vặn nhẹ một cái, liền có tiếng xì xì phun ra. Trợ lý của hắn, một cậu thiếu niên gầy gò tối đa cũng chỉ mười lăm tuổi, quẹt một que diêm, chạm vào luồng khí đó, một ngọn lửa màu xanh to và hình thù giống như con nhộng tằm liền phun ra, phát ra tiếng kêu xì xì. Hắn dặn dò cậu bé một tiếng, cậu bé trèo lên xe trượt, vặn vặn đầu của hai khối sắt kia mấy cái, ngọn lửa màu xanh lập tức biến thành màu trắng cực kỳ chói lọi, còn chói hơn cả ánh mặt trời. Kỹ sư Khương xách thứ đồ chơi đáng sợ ấy lên, nhìn Tư Mã Khố.

Tư Mã Khố nheo mắt, chém bàn tay vào hư không một cái, quát lớn: "Cắt!"

Kỹ sư Khương khom người, chạm đầu lửa trắng vào mặt băng, một luồng hơi nước màu trắng sữa bỗng bốc cao cả thước, kèm theo tiếng nước xèo xèo. Cánh tay hắn dẫn động cổ tay, cổ tay dẫn động "tẩu thuốc", "tẩu thuốc" phun ra lửa trắng, vẽ một vòng tròn thật to. Hắn ngẩng đầu lên, nói: "Cắt xong rồi."

Tư Mã Khố hoài nghi cúi đầu nhìn mặt băng, quả nhiên thấy một tảng băng to bằng cái cối xay đã tách biệt khỏi lớp băng xung quanh, nước sông theo vòng tròn đó rỉ ra đều đặn. Kỹ sư Khương dùng ngọn lửa trắng vẽ một hình chữ thập trên tảng băng tròn, tảng băng tròn liền nứt thành bốn miếng. Hắn dùng chân ấn tảng băng đó xuống dưới, nước sông cuốn trôi băng đi. Một cái lỗ băng xuất hiện trên sông, nước sông màu xanh lam tràn ngập lên.

"Đúng là món đồ tốt!" Tư Mã Khố trầm trồ khen ngợi, những người đàn ông trên mặt băng cũng phóng ánh mắt tán thưởng về phía kỹ sư Khương. "Cắt tiếp đi!" Tư Mã Khố nói.

Kỹ sư Khương tung hoành tuyệt kỹ, trên lớp băng dày tới nửa mét của sông Giao Long, cắt ra mấy chục cái lỗ băng. Những lỗ băng này có cái hình tròn, có cái hình vuông, có cái hình chữ nhật, có cái hình tam giác, có cái hình thang, có cái hình bát giác, có cái hình hoa mai... tựa như một trang giáo trình hình học.

Tư Mã Khố nói: "Kỹ sư Khương, đây là công lao xuất trận đầu tiên của anh! Lên xe trượt nào anh em, tối đến là phải về tới Đại Thiết Kiều rồi, đúng rồi, cho ngựa uống nước, uống nước sông Giao Long!"

Đám đàn ông dắt ngựa tới, để chúng ghé vào lỗ băng uống nước. Tư Mã Khố nhân cơ hội này nói với Nhị tỷ tôi: "Cô là thứ hai phải không? Về nhà nói với mẹ cô, có một ngày tôi sẽ đánh gỡ cái thằng lバ khốn kiếp Sa Nguyệt Lượng đó, cướp chị cô về trả lại cho Tôn Đại Câm."

"Các anh có biết Đại tỷ nhà tôi đi đâu không?" Nhị tỷ cả gan hỏi Tư Mã Khố.

Tư Mã Khố nói: "Đi theo Sa Nguyệt Lượng buôn bán thuốc phiện. Mẹ kiếp, cái lũ đội súng kíp lバ khốn này."

Nhị tỷ không dám hỏi nhiều, trơ mắt nhìn Tư Mã Khố nhảy lên xe trượt. Một hàng mười hai chiếc xe trượt lao vút đi như tên bắn về phía Tây, quẹo một cái ở cây cầu đá sông Giao Long rồi mất hút.

Các chị em chìm đắm trong sự phấn khích vì được chứng kiến kỳ tích nhân gian, quên cả cái lạnh. Họ đi tham quan những lỗ băng trên sông, từ hình tam giác đến hình bầu dục, từ hình bầu dục đến hình vuông, từ hình vuông đến hình chữ nhật... Nước sông trào lên từ các lỗ băng dính vào giày họ, chốc lát đã đóng thành băng. Hơi nước tươi mát trong sông băng từ các lỗ băng trào lên làm say đắm lòng người. Nhị tỷ, Tam tỷ và Tứ tỷ của tôi tràn ngập lòng kính trọng đối với Tư Mã Khố. Vì có Đại tỷ làm tấm gương vinh quang, trong tâm trí non nớt của Nhị tỷ lại nảy sinh một ý niệm mơ hồ: Gả cho Tư Mã Khố! Dường như có ai đó lạnh lùng cảnh cáo cô: Tư Mã Khố đã có ba người vợ rồi! — Vậy thì tôi làm người vợ thứ tư của hắn.

Tứ tỷ Thượng quan Tưởng Đệ kêu lên một tiếng thất thanh: "Tỷ tỷ, một khúc gậy thịt lớn kìa!"

Con lươn biển to lớn bị Tứ tỷ nhầm thành khúc gậy thịt ấy đang vụng về quẫy cái thân hình màu xám bạc, bơi từ dưới đáy sông u tối lên. Cái đầu giống loài rắn của nó to bằng nắm đấm, đôi mắt lạnh lẽo u ám, khiến người ta liên tưởng đến loài rắn độc. Cái đầu của nó áp sát mặt nước, bập bập nhả bong bóng. Nhị tỷ phấn khích nói: "Một con lươn biển lớn." Cô vớ lấy đòn gánh, giáng thẳng xuống đầu nó. Móc đòn gánh kêu lách cách, nước văng tung tóe. Đầu lươn chìm xuống, nhưng lập tức lại nổi lên. Đôi mắt của nó đã bị đánh hỏng. Nhị tỷ lại dùng đòn gánh đâm xuống. Động tác của con lươn ngày càng chậm chạp, cứng đờ. Nhị tỷ vứt đòn gánh đi, túm lấy đầu nó, kéo nó lên từ lỗ băng.

Lươn biển vừa lên khỏi mặt nước thì bị đông cứng ngay, tiếp theo bị đông thành một gậy thịt; Nhị tỷ bảo Tam tỷ và Tứ tỷ gánh nước, còn bản thân cô một tay xách búa sắt, một tay ôm lươn biển, khó nhọc lắm mới về được nhà.

Mẹ dùng một chiếc cưa, cắt đứt đầu đuôi con lươn biển, cưa thân nó thành mười tám đoạn, mỗi khúc lươn rơi xuống đất đều phát ra tiếng huỳnh huỵch. Dùng nước sông Giao Long nấu lươn sông Giao Long, canh cá nấu ra ngon ngọt vô cùng.

Từ ngày này trở đi, bầu ngực của mẹ đã hồi xuân, mặc dù vẫn để lại vết nhăn như nếp gấp trên trang sách mà tôi đã nói tới ở trên.

Cũng chính vào buổi tối uống thỏa thuê canh lươn ngon tuyệt này, tâm trạng mẹ thư thái, trên khuôn mặt hiện lên vẻ nhân từ tựa thánh mẫu, cũng tựa Bồ Tát Quan Âm. Các chị em vây quanh tòa sen của mẹ, lắng nghe mẹ kể những câu chuyện về hương trấn Đông Bắc Cao Mật. Đêm ấm áp, tình cảm con cái dạt dào. Gió bắc hú hét trong lòng sông Giao Long, gió thổi ống khói reo lên như tiếng còi. Những cành cây bám giáp băng trong sân lắc lư lách cách, một cột băng giật đứt khỏi mái hiên, rơi xuống hòn đá đập vải dưới hiên vỡ tan tành, phát ra tiếng kêu giòn giã.

Mẹ kể, vào thời nhà Thanh niên hiệu Hàm Thung, nơi đây vẫn chưa có người định cư. Mùa hạ mùa thu, có người đến đây bắt cá, hái thuốc, nuôi ong, chăn thả trâu cừu, tại sao lại gọi là Đại Lan? Hóa ra đây là nơi người chăn cừu quây cừu nghỉ ngơi, có một vòng hàng rào bện bằng cành cây. Mùa đông, có người đến đây săn chồn, nhưng nghe nói những kẻ đến đây săn chồn không có ai có cái kết tốt đẹp, không bị bão tuyết đông chết thì cũng mắc bệnh kỳ lạ gì đó. Sau đó, cũng chẳng rõ năm nào tháng nào, có một kẻ thân cường lực tráng, tứ chi phát triển, gan dạ lớn đến đây định cư. Hắn chính là ông nội của hai anh em Tư Mã Đình, Tư Mã Khố — Tư Mã Đại Nha, Đại Nha là biệt danh của hắn, tên thật của hắn không ai hay biết. Hắn tên là Đại Nha (Răng To), nhưng trong miệng lại chẳng có răng cửa, lúc nói chuyện cứ ngọng nghịu ừ a. Tư Mã Đại Nha dựng một cái lán cỏ bên bờ sông, dựa vào một chiếc nĩa bắt cá và một khẩu súng săn mà qua ngày. Hồi đó, cá trong sông, trong rạch, trong vùng trũng nhiều lắm, một nửa là nước, một nửa là cá. Có một năm mùa hè, Tư Mã Đại Nha ngồi xổm ở bờ sông phóng nẻ bắt cá, nhìn thấy một chiếc vạc men lớn trôi dạt từ thượng nguồn xuống. Tư Mã Đại Nha có tài bơi lội cừ khôi, có thể lặn dưới nước bằng thời gian hút một cẩu thuốc lào. Hắn lặn một cú xuống sông, kéo chiếc vạc lớn đó vào bờ. Trong vạc ngồi ngay ngắn một cô gái mù mặc áo trắng. Ánh mắt chúng tôi dán chặt vào người cô gái mù Thượng quan Ngọc Nữ nhà mình, cô nghiêng đầu, vểnh tai lắng nghe, mạch máu trên đôi tai to rõ ràng rành mạch. Cô gái mù này sinh ra vô cùng xinh đẹp, nếu không phải bị mù, cô ấy hẳn đã nên duyên với hoàng đế làm nương nương rồi. Sau đó, cô gái mù sinh ra một bé trai rồi qua đời. Tư Mã Đại Nha dùng canh cá nuôi lớn đứa bé trai này, đứa bé trai này tên là Tư Mã Ông, hắn chính là bố của Tư Mã Đình và Tư Mã Khố.

Mẹ tiếp liền kể về lịch sử triều đình di dân đến Đông Bắc Hương, kể về người thợ rèn già nhà họ Thượng quan — cụ tổ chúng tôi và tình hữu nghị của Tư Mã Đại Nha, kể về làn sóng cuồn cuộn mà Nghĩa Hòa Đoàn dấy lên ở Đông Bắc Hương năm đó, còn kể về trận chiến ác liệt đến dở khóc dở cười giữa Tư Mã Đại Nha, cụ tổ chúng tôi với người Đức tu sửa đường sắt ở Đại Sa Lương phía tây thôn. Bọn họ không biết nghe ngóng được tin tình báo từ đâu, nói rằng chân của người Đức không có đầu gối, chỉ có thể đứng thẳng chứ không thể uồng cong, lại nói bọn họ đều mắc chứng bệnh sạch sẽ, sợ nhất là phân chó phân người dính vào người, phân dính vào người là lính quỷ Đức sẽ nôn mửa cho đến chết. Lại nói quỷ Tây Dương chính là lũ cừu con, cừu con sợ nhất hổ lang, thế là hai vị người khai phá sớm nhất của Đông Bắc Hương Cao Mật này đã tụ tập một lũ sâu rượu, con bạc, lưu manh — tất nhiên bọn họ cũng đều là những hảo hán không sợ trời không sợ đất, võ nghệ siêu quần — thành lập nên Đội Hổ Lang. Tư Mã Đại Nha và cụ tổ chúng tôi Thượng quan Đấu lãnh đạo Đội Hổ Lang dẫn dụ lính Đức đến Đại Sa Lương, muốn để cái chân không uốn cong, giống như gậy gỗ của bọn chúng lún sâu vào cát, rồi các đội viên Hổ Lang lao lên kéo cành cây trên Sa Lương, để những chiếc túi phân hũ nước đái treo trên cành cây rơi xuống, làm cho đám lính Đức mắc bệnh sạch sẽ buồn nôn mà chết. Để trù tính cho trận chiến này, Tư Mã Đại Nha và Thượng quan Đấu mang theo Đội Hổ Lang, ròng rã thu gom phân nước tiểu người trong suốt một tháng trời, đựng trong sọt rượu, vận chuyển lên Đại Sa Lương. Bọn họ làm cho cái Đại Sa Lương thơm ngát hoa hòe hôi thối nồng nặc, làm chết ngạt hàng vạn con ong năm nào cũng đến đây hái phấn hoa...

Cũng chính trong đêm tuyệt vời này, chúng tôi chìm đắm trong lịch sử hấp dẫn đến mê hoặc của Đông Bắc Hương Cao Mật, tưởng tượng ra cảnh tượng kỳ diệu Tư Mã Đại Nha và Thượng quan Đấu bày trận phân nước tiểu lẫy lừng, thì người cháu ruột thịt của Tư Mã Đại Nha là Tư Mã Khố, đang cách thôn ba mươi dặm, dưới chân cầu đường sắt vắt ngang sông Giao Long, viết nên chương mới trong lịch sử Đông Bắc Hương Cao Mật. Con đường sắt này chính là đường sắt Giao Tế do người Đức xây dựng, các bậc anh hùng hào kiệt của Đội Hổ Lang đã đổ máu rơi đầu, chiến đấu anh dũng, dùng chiến thuật chưa từng có trong lịch sử ngàn năm để trì hoãn ngày thông xe của tuyến đường sắt, nhưng cuối cùng vẫn không thể ngăn cản đường sắt kiên cố chẻ đôi phần bụng mềm mại của Đông Bắc Hương Cao Mật, nói theo lời của Tư Mã Ông chính là: Mẹ kiếp, cái này chẳng khác nào đâm một nhát vào bụng các bà vợ của chúng ta! Con rồng sắt khói phun nghi ngút, nghiến qua Đông Bắc Hương Cao Mật của chúng tôi, cứ như đang nghiến qua lồng ngực chúng tôi. Hiện nay, tuyến đường sắt này do người Nhật Bản quản lý, chở than đá bông vải của chúng tôi đi, chở cả súng đạn cuối cùng cũng sẽ dùng lên đầu chúng tôi tới. Hành động phá hoại cầu đường sắt của Tư Mã Khố, có thể nói là kế thừa di chí của ông nội hắn, phát huy vinh quang của quê hương chúng ta, chỉ có điều phương pháp của hắn rõ ràng cao hơn tổ tiên một bậc.

Sao Hôm lùi về phía tây, vầng trăng khuyết treo trên ngọn cây. Gió tây hoành hành trong lòng sông, thổi những khung sắt của cầu sắt phát ra tiếng kêu ù ù. Đêm đó quả thực lạnh cắt da cắt thịt, lớp băng trên sông bị đống nứt ra, nổ tung thành từng đường vân rộng lớn, tiếng răng rắc khi băng nứt còn vang hơn cả tiếng súng trường bắn. Đội xe trượt của Tư Mã Khố đã đến dưới chân cầu, quây lại bên bờ rồi dừng lại. Hắn là kẻ đầu tiên nhảy phắt xuống từ xe trượt, cảm thấy mông đau nhói như bị mèo cắn. Trên trời có ánh sao mờ nhạt, phía dưới là ánh sáng trắng mờ ảo của băng sông, ở giữa chính là một mảnh tối đen như mực đưa tay không thấy năm ngón. Hắn vỗ vỗ tay, xung quanh vang lên tiếng vỗ tay thưa thớt. Bóng tối bí ẩn khiến lòng hắn kích động, tinh thần phấn khích, sau này khi có người hỏi hắn tâm trạng trước trận chiến phá cầu là gì, hắn đáp: "Hay lắm, giống như ăn Tết vậy."

Các đội viên nắm tay nhau, mò mẫm đi tới dưới chân cầu. Tư Mã Khố lần mò trèo lên trụ cầu, mò chiếc rìu nhỏ ở thắt lưng ra, chém một nhát vào một thanh dầm cầu, trên lưỡi rìu lóe lên mấy tia lửa lớn, dầm cầu phát ra tiếng kêu sắc bén. "Mẹ kiếp cái chân của mụ ngoại nó," Tư Mã Khố chửi rủa, "Toàn là đồ sắt." Một ngôi sao băng to bằng đấu xé toạc bầu trời đêm, kéo theo cái đuôi dài dằng dặc, sột soạt có tiếng, lóe lên tia lửa màu xanh lam vô cùng đẹp đẽ, rực rỡ trong khoảnh khắc ngắn ngủi giữa đất trời. Nhờ ánh lửa sao băng ấy, hắn nhìn rõ những trụ cầu bê tông cao lớn và những khung sắt đan chéo ngang dọc. Hắn gọi lớn: "Kỹ sư Khương, kỹ sư Khương, lên đây đi." Dưới sự đùn đẩy của mọi người, kỹ sư Khương trèo lên trụ cầu, trèo lên theo sát phía sau còn có cả cậu bé nhỏ tuổi. Trụ cầu đóng băng dày đặc như nấm mụt, lúc Tư Mã Khố vươn tay kéo cậu bé thì chân trượt đi, cậu bé đứng vững trên trụ cầu, còn Tư Mã Khố thì ngã nhộn nhạo xuống, ngã đúng vào cái mông lở loét đang rỉ mủ từ những đường nứt của vảy dày. Hắn kêu lên thảm thiết: "Mẹ ơi —" Lại kêu lên một tiếng nữa, "Mẹ ruột ơi, đau chết mất thôi..." Các đội viên chạy tới, đỡ hắn từ trên mặt băng dậy. Hắn tiếp tục gào thét, giọng vang sảng khoái, có thể truyền đến tận chân trời. Một đội viên khuyên nhủ: "Đại ca, nhẫn nhịn chút đi, đừng để lộ mục tiêu." Lúc này Tư Mã Khố mới ngừng gào thét, toàn thân co ro, lớn tiếng hạ lệnh: "Kỹ sư Khương, mau cắt đi, cắt mấy thanh là rút lui thôi, mẹ kiếp cái thằng Sa Nguyệt Lượng, thuốc trị thương đưa cho ta, càng chữa lại càng nặng." Một đội viên nói: "Đại ca, anh trúng mưu gian của kẻ khác rồi." "Anh chẳng nhẽ không biết đạo lý 'có bệnh vái tứ phương' sao?" Tư Mã Khố vặn lại. Đội viên kia nói: "Đại ca, nhẫn nhịn chút đi, về rồi em chữa cho anh, dùng mỡ lửng, trị bỏng nước bỏng lửa, cái đó bách phát bách trúng, mỡ bôi là vết thương lành." Xèo xèo, một cụm lửa xanh chói lọi, xanh lẫn trong trắng, trắng khảm trong xanh, bỗng chói lọi giữa các khung dầm của cầu đường sắt, sáng đến mức khiến người ta ứa nước mắt. Gầm cầu, trụ cầu, dầm thép, khung sắt, áo đại cán lông chó mũ da chồn, xe trượt vàng mơ ngựa Mông Cổ, mọi thứ xung quanh cầu đường sắt đều hiển hiện mồn một, đến cả một sợi lông rụng trên mặt băng cũng có thể nhìn thấy rõ mồn một. Hai người trên trụ cầu, kỹ sư Khương và tiểu đồ đệ của hắn, ngồi xổm trên dầm thép như con khỉ, giơ "tẩu thuốc" đang phun ra ngọn lửa độc địa, cắt gọt dầm thép. Trên dầm thép bốc lên làn khói trắng tinh, trong lòng sông lan tỏa một thứ mùi thơm kỳ lạ khi nung chảy thép. Tư Mã Khổ ngây ngẩn ngắm nhìn chùm lửa và ánh hồ quang tựa chớp giật ấy, quên cả cơn đau ở mông. Tia lửa nuốt chửng thép giống như tằm ăn lá dâu. Rất nhanh, đã có một thanh dầm thép nặng nề rủ xuống, nghiêng ngả cắm phập vào lớp băng dày. "Cắt, cắt, cắt sạch sành sanh cái quân khốn kiếp ấy đi!" Tư Mã Khố gào thét.

Trận chiến phân nước tiểu đó công bằng mà nói thì cụ tổ nhà các cháu và Tư Mã Đại Nha bọn họ đã đánh thắng, nếu như thông tin tình báo mà bọn họ trinh sát được trước là chuẩn xác, mẹ nói. Sau khi thất bại, những tên đội viên Hổ Lang lọt lưới đã phát động một phong trào điều tra nửa công khai nửa bí mật, kéo dài nửa năm, phỏng vấn hàng nghìn hàng vạn người, cuối cùng cũng làm rõ được, người đầu tiên nhận được tin tình báo giả mạo rằng lính Đức không có đầu gối, dính phân là chết hóa ra chính là chính đội trưởng Đội Hổ Lang Tư Mã Đại Nha, mà người cung cấp tin tình báo cho hắn lại chính là đứa con trai phong lưu thành tính mà hắn sinh ra với người phụ nữ mù tên là Tư Mã Ông, những kẻ điều tra lôi Tư Mã Ông từ trong chăn của kỹ nữ ra, bắt hắn khai báo nguồn gốc tình báo, hắn nói hắn nghe cô kỹ nữ lầu Vong Ưu Nhất Phẩm Hồng nói. Những kẻ điều tra truy vấn Nhất Phẩm Hồng, cô ta chối bay chối biến chưa từng nói những lời như vậy. Cô ta nói, ta đã tiếp đón tất cả các kỹ sư và tất cả binh lính của đội khảo sát tu sửa đường sắt Đức, đùi ta suýt bị đôi đầu gối to khỏe rắn chắc của bọn chúng quỳ nát bét rồi, lời nói dối như vậy sao có thể thốt ra từ miệng ta chứ? Đầu mối cứ thế đứt đoạn, những đội viên Hổ Lang lọt lưới cũng khôi phục nghề nghiệp của mình, người đánh cá lại đi đánh cá, người làm ruộng lại về làm ruộng. Mẹ nói dạo đó đại cô phụ của mẹ là Vu Đại Chưởng là một thanh niên huyết khí phương cương, tuy không gia nhập Đội Hổ Lang, nhưng lại tham gia trận chiến phân nước tiểu, vác một cây nĩa phân ba ngạnh.

Ông ấy nói người Đức qua cầu, Tư Mã Đại Nha bắn một phát pháo thần công về phía bọn chúng, Thượng quan Đấu bắn một phát súng kíp, rồi dẫn đội rút lui về Đại Sa Lương. Trên đầu người Đức đội chiếc mũ đen trang trí bằng lông chim năm màu rủ phất phơ, thân mặc áo xanh khảm đầy cúc đồng, dưới mặc chiếc quần ôm sát trắng tinh. Chân của bọn chúng vừa dài vừa mảnh, chạy không khuỳnh gối, quả nhiên giống như không có đầu gối vậy. Đến dưới chân Đại Sa Lương, Đội Hổ Lang xếp hàng chửi mắng, những lời chửi rủa từng tràng từng đốp, có vần có điệu, đều do ông đồ dạy học Trần Đằng Giao của thôn biên soạn. Đội Hổ Lang xếp hàng khiêu chiến, quỷ lính Đức lại đồng loạt quỳ một chân xuống đất. Chẳng phải nói người Đức không có đầu gối chân không khuỳnh được sao?

Đại cô phụ của tôi thắc mắc nghĩ ngợi, mẹ nói, còn chưa kịp nghĩ ra manh mối gì, đã nhìn thấy từ trong nòng súng của người Đức phả ra từng đám khói trắng, ngay sau đó nghe thấy tiếng súng loạt, trong Đội Hổ Lang, mấy đội viên đang lớn tiếng chửi mắng ngã lăn ra đất, trên người bốc ra máu tươi. Tư Mã Đại Nha thấy tình thế không ổn, hoảng hốt hạ lệnh, khiêng thây ma, rút lui về Sa Lương. Cát chảy xốp mềm, làm chân bọn chúng lún sâu, bọn họ đều đang suy nghĩ về vấn đề đầu gối của người Đức. Người Đức bám theo truy kích, động tác lội qua cát chảy của bọn họ không hề vụng về hơn các đội viên Hổ Lang chút nào, hơn nữa, có thể nhìn rõ đôi đầu gối lớn của bọn chúng đang chuyển động trong chiếc quần ống bó. Đội viên hốt hoảng cuống cuồng, Tư Mã Đại Nha cũng căng thẳng, cố gồng mình nói: "Không sao đâu, các anh em thân mến, trong cát không chết được đâu, chúng ta còn chiêu thứ hai." Vừa hay lúc đó người Đức ra khỏi cát chảy, bước vào rừng cây hòe, các cụ tổ của các cháu hô lớn một tiếng: "Kéo!" Mấy chục đội viên Hổ Lang kéo sợi dây chôn trong cát giật phắt một cái, những hũ phân hũ nước đái treo trên cây hòe bị hoa hòe trắng đỏ che khuất lần lượt nghiêng đổ, một trận mưa phân nước tiểu ập xuống đầu tạt vào mặt, xối lên người quỷ lính Đức. Có mấy hũ phân buộc không chặt rơi từ trên cây xuống, đập trúng đầu người Đức, đập chết tươi một tên. Người Đức nhe răng trợn mắt, kêu gào thét trời, vừa lết súng vừa lũ lượt lùi lại. Đại cô phụ của ta nói, nếu lúc đó Đội Hổ Lang thừa thắng xông lên, thì sẽ giống như mãnh hổ vào bầy sói, hơn tám mươi tên lính Đức không một tên nào sống sót. Nhưng các đội viên Hổ Lang chỉ lo vỗ tay hoan hô, cười ha hả, để lính Đức chuồn được đến bờ sông, người Đức nhảy xuống sông rửa sạch phân nước tiểu trên người. Các đội viên Hổ Lang chờ đợi bọn chúng nôn mửa đến chết, nhưng sau khi bọn chúng rửa sạch phân nước tiểu, giơ súng lên bắn một phát loạt, một viên đạn vừa khéo bắn xuyên qua miệng Tư Mã Đại Nha, chui từ đỉnh đầu hắn ra, hắn còn chẳng hừ một tiếng đã chết tươi. Người Đức đốt Đông Bắc Hương Cao Mật thành một vùng đất trắng. Viên Thế Khải lại phái binh tới, bắt sống cụ tổ Thượng quan Đấu của các cháu. Bọn họ để răn đe thiên hạ, ở dưới cây liễu lớn giữa thôn, áp dụng thứ hình phạt tàn khốc nhất đối với cụ tổ các cháu: Đi chân trần trên bàn ủi gang nung đỏ. Ngày thi hình, toàn bộ Đông Bắc Hương Cao Mật náo động, người vây xem có tới hàng nghìn người. Đại cô của ta tận mắt chứng kiến cảnh tượng ngày hôm ấy. Cô ấy nói quan phủ trước tiên dùng đá kê mười tám mặt bàn ủi gang lên, dưới bàn ủi nhét củi khô châm lửa, đốt mười tám mặt bàn ủi đỏ rực lên. Sau đó, đao phủ kẹp cụ tổ các cháu tới, bắt ông đi chân trần trên bàn ủi. Trên chân ông bốc lên làn khói vàng khét lẹt, cái mùi hôi thối ấy, huân cho đại cô của ta ngấtị đi mấy ngày trời. Đại cô của ta nói Thượng quan Đấu quả không hổ danh là thợ rèn, mình đồng da sắt răng vàng gác cồng, chịu hình phạt tàn khốc như thế, ông cũng khóc, cũng gào, nhưng không có lấy một câu cầu xin tha thứ, ông đi trên bàn ủi hai lượt, đôi chân đó đã chẳng còn hình thù của đôi chân nữa rồi... Sau đó, quan phủ giết ông, chặt đầu, vận chuyển tới phủ Tế Nam để bêu đầu thị chúng.

"Đại ca, hòm hòm rồi đấy." Đội viên muốn dùng mỡ lửng trị bỏng cho Tư Mã Khố nói với Tư Mã Khố, "Đoàn tàu trước bình minh sắp đến rồi kìa." Dưới cầu đã có mười mấy thanh dầm thép bị đốt đứt chọc ngang dọc, ngọn lửa xanh trắng vẫn đang lóe lên trên cầu. "Mẹ kiếp," Tư Mã Khố nói, "Hời cho bọn chúng. Cậu đảm bảo đoàn tàu có thể làm sập cầu không?" "Đại ca, còn cắt tiếp nữa, chỉ sợ tàu chưa đến cầu đã sập rồi!" "Vậy được, kỹ sư Khương, kỹ sư Khương, xuống đi thôi," Tư Mã Khố gọi, "Các cậu," hắn hô hào các đội viên, "Đỡ hai vị hảo hán này xuống xe trượt, thưởng cho mỗi người một bình rượu trắng." Lửa xanh biến mất. Các đội viên đỡ kỹ sư Khương và trợ lý của hắn đặt lên xe trượt. Trong bóng tối trước bình minh, gió đã lặng, cái lạnh càng thêm tê tái, thấu tận xương tủy. Ngựa Mông Cổ kéo xe trượt, mò mẫm đi trong đêm tối trên mặt băng. Đi được chừng hai dặm đường, Tư Mã Khố hạ lệnh dừng lại. Hắn nói: "Phí sức nửa đêm, phải ở lại chờ xem náo nhiệt chứ."

Khi đoàn tàu hàng chạy tới, mặt trời vừa nhô lên đỏ rực. Sông ngời ngời ánh sáng, cây cối hai bên bờ sông đóng băng rực rỡ như lưu ly vàng, lưu ly bạc. Cây đại thiết kiều lặng lẽ nằm phục. Tư Mã Khố căng thẳng xoa tay liên tục, trong miệng lầm bầm vài câu chửi thề. Đoàn tàu ầm ầm uy phong lừng lững chồm tới, khi đến gần cầu sắt, liền cất tiếng còi vang vọng đất trời.

Đầu tàu phun ra khói đen, giữa các bánh xe phun ra sương mù trắng, tiếng động cơ ầm ầm chấn động khiến người ta sợ hãi, lớp băng kiên cố trên sông đang khẽ run rẩy. Các đội viên thấp thỏm bất an nhìn đoàn tàu, tai ngựa Mông Cổ cụp về phía sau, dán sát vào phần bờm rũ rượi. Đoàn tàu lao lên cầu sắt với vẻ ngơ ngác, nó hoang dã và ngang ngược biết bao, cây cầu lớn dường như cũng sừng sững bất động. Trong vòng một giây, sắc mặt Tư Mã Khố và các đội viên xám ngoét, nhưng một giây sau bọn họ đã reo hò nhảy múa trên mặt băng. Người reo hò lớn nhất là Tư Mã Khố, người nhảy cao nhất vẫn là Tư Mã Khố, mặc dù vết thương trên mông hắn quả thực vô cùng nghiêm trọng. Cây cầu lớn sụp đổ chỉ trong vòng một giây, những thanh tà vẹt, đường ray, cát sỏi, đất đá, cùng với đầu tàu rơi xuống. Đầu tàu đâm sầm vào một trụ cầu, trụ cầu cũng sụp theo, tiếp theo là tiếng nổ đinh tai nhức óc, tiếp theo là những khối băng và cát sỏi, khung thép uốn cong và tà vẹt gãy lìa bắn vọt lên cao mấy chục trượng, tắm mình trong ánh nắng giữa không trung. Tiếp theo là mấy chục tòa toa xe chở đầy hàng hóa ầm ầm chen chúc lao lên, có toa cắm đầu xuống lòng sông, có toa vẹo vựa bên đường ray. Ngay sau đó là những vụ nổ liên tiếp. Vụ nổ bắt đầu từ một tòa toa xe chở đầy thuốc nổ mạnh, rồi kích nổ đạn pháo, đạn dược. Băng trên sông bị chấn động nứt toác, nước sông cuồn cuộn trào lên, trong nước sông có cá có tôm, còn có cả một số con ba ba mai xanh. Một cái chân người mang đôi bốt da lớn rơi xuống đầu một con ngựa Mông Cổ, nện cho nó hoa mắt chóng mặt, hai đầu gối khuỳnh xuống quỳ rạp trên mặt băng, rụng mất hai mảng lông. Một chiếc bánh xe lửa nặng tới cả nghìn cân đập mạnh xuống mặt băng, kích lên cột nước bắn tận trời, rơi xuống là một thứ bùn lỏng loãng. Sức ép khổng lồ chấn động khiến tai Tư Mã Khố điếc đặc, hắn chỉ nhìn thấy ngựa Mông Cổ kéo xe trượt chạy loạn xạ như ruồi không đầu trên sông băng, các đội viên đều ngẩn ngơ đứng hoặc ngồi, có người tai rỉ ra máu đen. Hắn gào thét lớn, nhưng bản thân cũng chẳng nghe thấy tiếng gì, các đội viên há hốc miệng dường như cũng đang hét lớn, nhưng cũng chẳng nghe thấy âm thanh nào...

Tư Mã Khố tốn hết sức lực, mới đưa được đội xe trượt của mình đến nơi mà trưa hôm qua họ dùng ngọn lửa xanh trắng cắt mặt băng. Nhị tỷ của tôi dẫn Tam tỷ và Tứ tỷ lại đó gánh nước bắt cá, cái lỗ băng hôm qua cắt qua đêm đã đóng băng trở lại, lớp băng dày chừng một tấc, Nhị tỷ của tôi dùng búa sắt cán ngắn và đục thép đục thủng băng. Nhân mã của Tư Mã Khố đuổi đến nơi, ngựa Mông Cổ tranh nhau uống nước, uống nước xong chỉ vài phút sau, đám ngựa đó toàn thân run rẩy co giật ngã lăn ra mặt băng, chốc lát đã chết sạch. Nước lạnh làm nổ tung phần lá phổi đang mở rộng đến cực hạn của chúng.

Sáng sớm ngày hôm nay, tất cả sinh linh, người, ngựa, lừa, bò, gà, chó, ngỗng, vịt... của toàn bộ Đông Bắc Hương Cao Mật, thậm chí cả loài rắn ngủ đông trong hang động, đều cảm nhận được vụ nổ lớn đến từ hướng tây nam, bọn họ ngỡ tưởng là tiếng sấm mùa xuân kinh trập, lũ lượt bò ra khỏi hang động, bị đông cứng chết ngoài đồng hoang.

Tư Mã Khố dẫn các đội viên về thôn chỉnh đốn. Tư Mã Đình dùng tất cả những lời chửi rủa bẩn thỉu nhất của Trung Quốc để mắng bọn họ, nhưng tai của bọn họ đã điếc đặc hết cả rồi, còn tưởng rằng Tư Mã Đình đang ca ngợi bọn họ nữa chứ, bởi vì lúc Tư Mã Đình mắng người trên mặt lại mang theo vẻ đắc ý. Ba người vợ của Tư Mã Khố mỗi người mang ra một bài thuốc gia truyền, chữa trị vết thương bỏng lại chồng thêm bỏng lạnh trên mông cho người chồng chung của họ. Thường là người vợ cả vừa dán cao dán lên mông hắn xong, người vợ thứ hai lại bưng tới một chậu nước rửa sắc từ hơn chục vị thuốc trung dược quý hiếm, bóc cao dán vừa rửa xong, người vợ thứ ba lại mang tới loại bột thuốc điều chế từ lá thông lá bách và rễ đông thanh cộng với lòng trắng trứng gà và tro râu chuột... Cứ thế nối tiếp không dứt, khiến mông hắn khô rồi lại ẩm, ẩm rồi lại khô, vết thương cũ lại thêm vết thương mới. Cuối cùng, Tư Mã Khố mặc quần bông, thắt hai cái thắt lưng, hễ nhìn thấy bóng dáng ba người vợ là lại vớ lấy rìu hoặc lên đạn súng. Vết thương trên mông hắn chưa lành, nhưng tai thì đã hồi phục thính lực.

Câu đầu tiên mà Tư Mã Khố nghe được sau khi hồi phục thính lực chính là tiếng mắng giận dữ của người anh trai: "Cái thằng khốn kiếp mày, cả thôn rồi sẽ gặp họa lây với mày đấy, cứ chống mắt lên mà chờ xem!" Tư Mã Khố vươn đôi bàn tay mềm mại hồng hào, thịt dày da mỏng giống hệt anh trai mình, tóm lấy cằm anh trai. Hắn nhìn hàng chục sợi râu cong queo, vàng khét mọc ra từ đôi môi luôn cạo sạch sẽ của anh trai, cùng với lớp da nứt nẻ trên môi đó, buồn bã lắc đầu, nói: "Tôi với anh chung một cha sinh ra, mắng tôi chính là mắng anh, anh mắng đi! Cứ mắng cho thoả thích vào!" Nói xong, hắn liền buông tay ra.

Tư Mã Đình á khẩu không trả lời được, nhìn tấm lưng cao lớn của em trai, bất lực lắc đầu, xách chiếc chiêng đi ra khỏi nhà, vụng về trèo lên tháp canh của mình, hướng mắt ngắm nhìn về phía tây bắc.

Tư Mã Khố dẫn các đội viên lại đi một chuyến đến cầu sắt, kéo về một số đường ray sắt bị uốn cong thành hình quẩy tẻ quai, còn có một bánh xe lửa sơn mỏ đỏ, cùng với một đống sắt vụn chẳng ai gọi nổi tên, bày ra ở con phố ngoài cửa nhà thờ, khoe khoang chiến tích với bà con chòm xóm. Khóe miệng hắn vương hai chùm bọt trắng nhỏ, hết lần này đến lần khác diễn giải quá trình phá hoại cầu cẩu, lật đổ đoàn tàu quân sự Nhật Bản cho khán giả nghe. Mỗi lần hắn kể lại, đều thêm thắt một số chi tiết sống động như thật, kể càng lúc càng phong phú, càng thú vị, kể đến cuối cùng, suýt chút nữa thì giống hệt 《Phong thần diễn nghĩa》. Nhị tỷ Thượng quan Chiêu Đệ trở thành thính giả trung thành của Tư Mã Khố, cô thoạt đầu là thính giả, sau đó là nhân chứng cho thứ vũ khí mới mẻ ấy, phát triển đến cuối cùng, ngoài nhân chứng ra cô nghiễm nhiên còn trở thành người tham gia vào sự kiện phá cầu, cứ như thể cô vẫn luôn đi theo Tư Mã Khố, cùng hắn trèo lên trụ cầu, rồi lại theo hắn ngã nhào từ trụ cầu xuống, Tư Mã Khố đau mông thì cô cũng nhăn mặt theo, tựa như hai người cùng đau chung một chỗ.

Đúng như lời mẹ nói, đàn ông nhà họ Tư Mã, toàn là những kẻ điên điên khùng khùng, người phụ nữ mù đó ngồi trên vạc trôi dạt tới, xinh đẹp tuyệt trần nhưng đôi mắt lại mù lòa, mở miệng nói câu gì cũng chẳng ai hiểu nổi, không phải không hiểu tiếng nói của cô, mà là không giải mã nổi ý nghĩa trong lời nói của cô, nếu cô ta không phải hồ ly tinh biến thành, thì chắc chắn là một bệnh nhân tâm thần rồi. Các bạn thử nghĩ xem, hậu duệ của một người phụ nữ như thế, làm sao có ai bình thường được chứ? Mẹ đã sớm phát hiện ra tâm sự của Thượng quan Chiêu Đệ, dự cảm rằng câu chuyện của Thượng quan Lai Đệ sẽ nhanh chóng lặp lại. Mẹ mang tâm trạng đầy lo lắng chằm chằm nhìn vào ngọn lửa đam mê đáng sợ đang cháy rực trong đôi mắt đen láy của con gái, và đôi môi dày đỏ chót sưng phồng không biết ngượng ngùng ấy, đây đâu phải là một cô gái mười bảy tuổi chứ?

Rõ ràng là một con bò cái tơ đang động đực. Mẹ nói: "Chiêu Đệ, con gái ngoan của ta, con mới bao nhiêu tuổi chứ?" Nhị tỷ trừng mắt cãi lại mẹ: "Lúc mẹ bằng tuổi con, chẳng phải đã gả cho bố con rồi sao! Mẹ còn từng nói, đại cô của mẹ năm mườisix tuổi đã sinh một cặp song sinh, hai đứa trẻ đều béo múp míp như heo con ấy chứ!" Nói đến mức độ này rồi, mẹ chỉ còn cách thở dài. Nhưng Nhị tỷ không buông tha mà nói: "Con biết mẹ muốn nói gì, hắn đã có ba bà vợ rồi. Con làm vợ tư của hắn. Con biết mẹ còn muốn nói, vai vế của hắn lớn hơn mẹ. Con với hắn vừa không cùng họ, lại càng không cùng tông, đâu có phạm quy củ."

Mẹ từ bỏ quyền quản chế với Nhị tỷ, mọi chuyện tùy cô tự quyết định. Bề ngoài cô bình lặng, nhưng từ mùi vị của sữa, tôi biết nội tâm mẹ sóng cuộn ba đào. Trong những ngày tháng Nhị tỷ lẽo đẽo theo sau Tư Mã Khố làm loạn ấy, mẹ dẫn theo sáu người chị của tôi, đào một đường hầm thông ra đống rơm ngoài bức tường phía nam ngay trong hầm củ cải của nhà tôi. Đất đào lên, một phần đổ vào hố phân, một phần lót vào chuồng lừa, phần lớn đều đổ vào cái giếng cạn cạnh đống rơm.

Tết Nguyên Đán trải qua bình an. Đêm rằm Nguyên Tiêu, mẹ cõng tôi, dẫn sáu người chị, ra phố ngắm đèn. Nhà nhà trong thôn đều treo đèn, đều là những chiếc lồng đèn nhỏ, chỉ có trước cửa lớn Phúc Sinh Thường là treo hai chiếc lồng đèn đỏ to bằng cái vạc nước, mỗi chiếc lồng đèn cắm một ngọn nến sáp cừu to hơn cả cánh tay tôi, ánh nến lung linh khiến lồng đèn tỏa ra ánh sáng chói lọi. Nhị tỷ Chiêu Đệ đi đâu mất rồi? Mẹ mặc kệ không hỏi. Cô đã trở thành chiến sĩ du kích nhà chúng tôi rồi, có khả năng ba ngày không về, cũng có thể đột ngột trở về. Đêm giao thừa, lúc chúng tôi chuẩn bị đốt pháo đón Thần Tài, cô khoác trên mình một chiếc áo choàng màu đen trở về. Cô cố tình khoe khoang chiếc thắt lưng da bò thắt chặt vòng eo nhỏ nhắn, và khẩu súng lục ổ quay nặng trịch treo lủng lẳng trên thắt lưng, lóe lên ánh sáng niken. Mẹ dùng giọng điệu gần như mỉa mai nói: "Không ngờ nhà họ Thượng quan lại xuất hiện thêm một nữ thổ phỉ!" Nói câu này xong mặt mẹ rưng rưng nước mắt, nhưng Nhị tỷ lại toét miệng cười, nụ cười của cô mang dáng vẻ của một thiếu nữ thuần khiết chuẩn mực, khiến mẹ cảm thấy vẫn còn khả năng kéo cô khỏi con đường lầm lối, thế nên mẹ nói: "Chiêu Đệ, ta không thể để con đi làm vợ lẽ cho Tư Mã Khố." Thượng quan Chiêu Đệ cười lạnh một tiếng — nụ cười lạnh này hoàn toàn mang dáng vẻ của một mụ đàn bà độc ác — ngọn lửa hy vọng vừa mới nồng cháy trong lòng mẹ lập tức vụt tắt.

Mùng Một Tết, mẹ đi chúc tết cô của mình, nhắc đến chuyện của Lai Đệ và Chiêu Đệ, đại cô của cô ấy — người đàn bà già dặn qua trăm trận mòn mỏi — nói: "Chuyện tình cảm nam nữ, chỉ có thể thuận theo tự nhiên mà thôi. Hơn nữa, mày có con rể như Sa Nguyệt Lượng và Tư Mã Khố, đời này còn lo gì nữa? Hai kẻ này, đều là diều hâu chọc thủng trời đấy!" Mẹ nói: "Con chỉ sợ bọn chúng chết không được yên lành trên kang." Người đàn bà già đó nói: "Kẻ chết trên kang, phần lớn đều là lũ vô dụng!" Mẹ còn muốn lải nhải, đại cô của cô ấy thiếu kiên nhẫn xua xua tay, quét sạch lời nói của mẹ đi như xua ruồi. Cô ấy nói: "Để ta xem con trai mày chút nào." Mẹ nhấc tôi ra khỏi túi vải bông, đặt lên kang. Tôi sợ hãi nhìn khuôn mặt nhỏ hẹp, chằng chịt rãnh nhăn và đôi mắt xanh thẳm sắc lẹm khảm trong hốc mắt sâu hoắm của đại cô của mẹ. Trên đôi lông mày nhô cao của bà vậy mà chẳng có nổi một cọng lông mày, quanh vành mắt lại mọc đầy những hàng lông mi vàng rậm rạp. Bà vươn đôi bàn tay gầy guộc như khúc xương khô ra, sờ sờ tóc tôi, giật giật tai tôi, véo véo chóp mũi tôi, thậm chí còn luồn tay vào giữa hai chân tôi, sờ sờ trym tôi. Tôi vô cùng chán ghét kiểu vuốt ve sỉ nhục này của bà, cố hết sức bò về phía góc kang. Bà tóm phắt lấy tôi, lớn tiếng nói: "Thằng tạp chủng nhỏ, đứng dậy!" Mẹ nói: "Đại cô, nó mới bảy tháng tuổi, sao mà đứng dậy được chứ?" Người đàn bà già lại nói: "Tao bảy tháng tuổi là đã có thể ra ổ gà móc trứng cho bà mày rồi." Mẹ nói: "Đại cô, đó là người, người không phải nhân vật bình thường." Người đàn bà già nói: "Thằng ranh con này, tao thấy cũng không phải nhân vật bình thường đâu! Thằng Maloyaz đó, đáng tiếc thật đấy." Mặt mẹ đỏ bừng, tiếp đó lại tái mét. Tôi bò vào trong góc kang, tay bám lấy bệ cửa sổ, hai chân duỗi thẳng đứng lên. Người đàn bà già vỗ tay nói: "Xem đi, tao bảo nó đứng được là nó đứng được mà! Quay đầu lại đây, thằng tạp chủng nhỏ!..." "Đại cô, nó tên là Kim Đồng, sao cô cứ gọi nó là tạp chủng nhỏ mãi thế!"

Tạp chủng hay không tạp chủng, chỉ có mẹ nó mới biết, phải không hả, cháu gái ruột thịt của ta? Hơn nữa, đây là cách gọi âu yếm của ta, tạp chủng nhỏ, trứng ba ba nhỏ, thỏ con nhỏ, súc sinh nhỏ, đều là cách gọi âu yếm cả, tạp chủng nhỏ, đi qua đây mau!" Đại cô của mẹ gầm lên.

Tôi quay người lại, hai chân run rẩy, nhìn khuôn mặt đẫm lệ của mẹ. "Kim Đồng, con trai ngoan của mẹ!" Mẹ dang rộng hai cánh tay, gọi tôi. Tôi lao vào lòng mẹ. Tôi biết đi rồi. Mẹ ôm chặt lấy tôi, lẩm bẩm nói: "Con trai ta biết đi rồi, con trai ta biết đi rồi."

Đại cô của mẹ nghiêm nghị nói: "Con cái chính là một đàn chim, đến lúc phải bay, có giữ cũng không giữ nổi. Còn mày thì sao? Ý tao là bọn chúng đều chết hết thì mày tính thế nào?"

Mẹ nói: "Con vẫn tốt."

Người đàn bà già cất cao giọng nói: "Tốt là được, phàm chuyện gì cũng phải nghĩ hướng lên trời, nghĩ về biển cả, tệ nhất cũng phải nghĩ đến núi non, đừng có uỷ khuất bản thân mình. Mày hiểu ý tao không?"

Mẹ đáp lời: "Con hiểu."

Lúc chia tay, người đàn bà già hỏi: "Mẹ chồng mày còn sống không?"

Mẹ nói: "Còn sống, đang lăn lộn trong đống phân lừa."

Bà cụ bảo: "Con mụ già này, ngông cuồng cả đời, không ngờ lại rơi vào cái cục diện thế này!"

Nếu không có cuộc mật đàm lần này giữa mẹ và đại cô của bà, tôi tuyệt đối không thể biết đi khi mới bảy tháng tuổi, mẹ cũng không thể có hứng thú dẫn chúng tôi ra phố ngắm đèn, nếu vậy chúng tôi chỉ có thể trải qua một tiết Nguyên Tiêu tẻ nhạt vô vị, lịch sử nhà tôi rất có thể sẽ không giống như hiện tại thế này. Trên phố rất đông người, nhưng dường như toàn là những gương mặt xa lạ. Giữa người với người bao trùm bầu không khí ổn định đoàn kết. Rất nhiều đứa trẻ, xách những con chuột vàng rực lửa lẹt đẹt, chui lủi qua các khe người. Chúng tôi dừng lại trước cửa lớn Phúc Sinh Thường, ngắm nhìn hai chiếc lồng đèn khổng lồ hai bên cửa lớn. Ánh đèn vàng mờ ảo chiếu rọi tấm biển chữ vàng treo trên trán cửa lớn.

Cửa lớn Phúc Sinh Thường mở toang, sâu trong sân đình đèn đuốc sáng trưng, truyền ra từng trận hò reo náo nhiệt. Ngoài cửa lớn tụ tập rất nhiều người, đút tay vào tay áo, đứng lặng lẽ, giống như đang chờ đợi điều gì. Tam tỷ Thượng quan Lĩnh Đệ lém lỉnh hỏi người bên cạnh: "Bác ơi, ở đây sắp phát cháo à?" Người đó lắc đầu không rõ ràng. Phía sau có một người nói: "Cô nương ơi, tiết Lạp Bát mới phát cháo cơ." Tam tỷ quay đầu hỏi: "Không phát cháo thì đứng đây làm gì?" Người đó nói: "Sắp diễn kịch văn minh đấy, nghe nói là đào kép nổi tiếng được mời từ phủ Tế Nam đến đấy." Nhị tỷ còn muốn lải nhải, liền bị mẹ véo cho một cái.

Cuối cùng, trong đại viện Phúc Sinh Tường bước ra bốn người, mỗi người trong tay cầm một cây sào cao, trên đầu sào giơ bốn vật bằng sắt đen sì, vật bằng sắt phun ra những ngọn lửa chói mắt, soi rọi trước đại cổng sáng như ban ngày, không, còn sáng hơn cả ban ngày.

Cách đại viện Phúc Sinh Tường không xa, những con bồ câu hoang đậu trên tháp chuông rách nát của nhà thờ hoảng hốt bay vụt lên, vừa kêu cúc cu vừa bay vụt qua trong ánh sáng trắng, bay vào trong bóng tối.

Trong đám đông có người hô lớn: "Đèn va-si!" Kể từ đó chúng ta biết rằng trên thế giới này ngoài đèn dầu đậu phộng, đèn dầu hỏa, đèn đom đóm ra, còn có thứ đèn va-si này có thể làm chói đau mắt người.

Bốn đại nam nhân da ngăm đen khiêng đèn đứng thành hình tứ giác trước đại cổng Phúc Sinh Tường, giống như bốn cái cột đen ngòm.

Trong đại cổng lại đi ra mấy người, khiêng những chiếc chiếu sậy cuộn thành hình trụ, ào ào đi đến giữa mảnh đất quý do bốn người khiêng đèn quy định ra, dùng sức vứt chiếu xuống, sau đó, tháo dây buộc chiếu ra, chiếu sậy liền tự động bung ra.

Họ khom lưng, kéo lấy góc chiếu, nhanh chóng dịch chuyển những cái cẳng chân đen thui, lông lá. Do bước chân của họ quá nhanh, lại thêm ánh đèn va-si quá chói, khiến mắt chúng ta xuất hiện bóng mờ, thế là chúng ta đồng loạt nhìn thấy, những kẻ kéo chiếu chạy đó, đều mọc từ bốn chân trở lên, giữa các chân còn kéo theo một số thứ trong suốt phát sáng giống như mạng nhện, do sự vướng víu của những thứ này, việc chạy của họ giống như những con bọ hung nhỏ đang giãy giụa bất lực trên mạng nhện.

Sau khi chiếu được trải xong, họ ngẩng phắt lưng lên, tạo một dáng trước khán giả.

Trên mặt họ, bôi từng vệt hóa trang, giống như từng tấm da thú tươi tắn rực rỡ. Có cái giống da báo, có cái giống da hươu hoa, có cái giống da linh miêu, có cái giống da lửng mặt hoa trộm ăn đồ cúng trong miếu.

Sau đó họ liền chạy hai bước lùi một bước chui tút về phía trong đại cổng Phúc Sinh Tường.

Trong tiếng xì xì phun khí của bốn ngọn đèn va-si, chúng ta lẳng lặng chờ đợi, những tấm chiếu sậy hoàn toàn mới cũng lẳng lặng chờ đợi. Bốn tên đàn ông da đen giơ cao cán đèn, biến thành bốn hòn đá màu đen.

Một hồi tiếng chiêng vang lên, xốc lại tinh thần của chúng ta, toàn bộ ánh mắt đều phóng vào phía trong đại cổng, nhưng đều bị bức tường ảnh bích màu trắng khảm chữ Phúc to bằng cái đấu chặn lại.

Chúng ta chờ đợi tựa hồ nửa đời người, Tư Mã Đình — đại chưởng quỹ Phúc Sinh Tường, nguyên trấn trưởng trấn Đại Lan, hội trưởng hội duy trì hiện tại — với bộ mặt đưa đám bước ra sân.

Hắn xách cái chiếc chiêng chịu đủ đòn roi ấy, tựa như vô cùng miễn cưỡng vừa đánh chiêng vừa đi một vòng quanh sân. Sau đó đứng ở giữa bãi chiếu, hướng về chúng ta nói: "Các vị hương đảng, các ông các bà các chú các thím các bác các anh các chị các em trai các em gái ạ, hiền huynh của ta đánh thắng trận ở cầu sắt, tin vui truyền khắp bốn phương, bảy cô tám dì đều đến chúc mừng, đưa tới hơn hai mươi tờ giấy khen. Để ăn mừng thắng lợi đặc biệt này, hiền huynh của ta đã mời một gánh hát. Bản thân hắn cũng sẽ phấn son lên sân khấu, diễn một vở kịch mới biên soạn để giáo dục hương đảng, tết Nguyên Tiêu không thể quên kháng chiến anh dũng, quyết không để tiểu quỷ tử chiếm quê hương chúng ta. Tư Mã Đình là một nam nhi Trung Hoa, quyết không thèm làm cái hội trưởng hội duy trì này nữa! Hướng đảng ơi, chúng ta là người Trung Quốc, không hầu hạ lũ chó đẻ người Nhật này đâu."

Nói xong đoạn văn vần nhịp nhàng này, hắn cúi đầu chào khán giả, xách chiêng chạy ngược về, va vào người sư phụ đàn hồ cầm, người thổi sáo ngang, thợ tì bà đang từ trong đại cổng đi ra.

Các nhạc sĩ kẹp nhạc cụ, xách ghế bước lên sân khấu.

Các nhạc sĩ ngồi bên mép chiếu, cọt kẹt điều chỉnh dây đàn, lấy hai nốt nhạc do người thổi sáo ngang thổi ra làm cơ chuẩn. Nốt cao thì kéo xuống thấp, nốt thấp thì vặn lên cao. Đàn hồ, tì bà, sáo ngang, hòa quyện vào nhau, bện thành một sợi dây ba tao đều đặn, bện được một đoạn, dừng lại, chờ đợi.

Sau đó người đánh trống, đánh chiêng, đánh chập cheng, kẹp đồ nghề xách ghế bước ra, ngồi đối diện với các nhạc sĩ, keng keng chát chát xẹt xẹt đập đánh một hồi.

Tiếng chiêng con lanh lảnh đơn điệu vang lên mấy tiếng, trống con đánh nhịp, đàn hồ tì bà sáo ngang đồng loạt tấu lên, bện thành sợi dây trói chân chúng ta khiến chúng ta không thể đi, trói linh hồn chúng ta khiến chúng ta không thể suy nghĩ.

Điệu khúc dằn vặt thướt tha, bi thương lạnh lẽo, có lúc lại ư ử lẩm bẩm, đây là vở kịch gì? Mậu khang vùng Đông Bắc Cao Mật, thông thường gọi là "cái cọc buộc vợ", mậu khang vừa hát, làm rối loạn tam cương ngũ thường; mậu khang vừa nghe, quên cả bố mẹ đẻ.

Thế là theo nhịp điệu, chân của khán giả run rẩy, môi của khán giả mấp máy, trái tim của chúng ta chấn động. Sự chờ đợi của chúng ta giống như mũi tên trên dây, đến thời điểm mấu chót phát lệnh cuối cùng... Năm, bốn, ba, hai, một tiếng cao vận vang lên, ở phần cuối của cao vận lại khàn cả giọng cuộn ngược lên, vút lên cao lại càng cao, xé rách mây trời.

Ta vốn là một vị giai nhân thướt tha — na — trong âm hưởng du dương đang cất tiếng hát, nhị tỷ của ta Thượng Quan Chiêu Đệ đầu cài một bông hoa nhung đỏ, mặc áo khoác vạt chéo Lam Sĩ Lâm, quần quét ống giày thêu xanh, tay trái xách giỏ tre, tay phải cầm chày giặt, bước những bước chân nhỏ như dòng nước, từ trong đại cổng nhà họ Tư Mã tuôn ra, tuôn đến dưới ánh đèn va-si chói lọi, dừng bước ở bãi chiếu, tạo một dáng.

Lông mày không giống lông mày mà là trăng non chân trời, ánh mắt như nước rắc lên đầu chúng ta, chiếc mũi thon dài cao vút, đôi môi dày được tô điểm còn đỏ thắm hơn quả anh đào tháng năm.

Sau đó là sự tĩnh lặng, vạn con mắt không chớp, vạn trái tim không đập, dồn nén một hơi, đồng loạt hô lên một tiếng tán thưởng.

Tiếp theo nhị tỷ của ta duỗi chân, hạ lưng, chạy vòng tròn, eo mềm mại như liễu xuân bên ao, bước chân nhẹ nhàng tựa rắn đầu mía trượt trên bông mía.

Đêm hôm đó tuy không có gió nhưng vẫn lạnh vô cùng, nhị tỷ của ta lại mặc một lớp áo đơn.

Mẹ kinh ngạc nhìn thấy, từ sau khi ăn thịt lươn đến nay, cơ thể nhị tỷ đã phổng phao lên rồi, hai cục thịt trước ngực đã không kém cạnh gì quả lê chín mọng, hơn nữa hình thái đoan trang, ưu tú, kế thừa truyền thống vinh quang ngực nở mông to của phụ nữ nhà họ Thượng Quan.

Nhị tỷ xoay một vòng quanh sân, hơi thở không hổn hển, tinh thần không hỗn loạn, cất giọng hát câu thứ hai: Gả cho anh hùng hảo hán họ Tư Mã —

Câu này chuyển ý bình ổn, khúc đuôi không hề hất lên cao, nhưng phản ứng gây ra thì chấn động địa cầu.

Mọi người xì xào bàn tán, thầm thì to nhỏ: Đây là con gái nhà ai? — Đây là con gái nhà họ Thượng Quan — Con gái nhà họ Thượng Quan chẳng phải đã chạy theo đội súng điểu thương rồi sao — Đây là con gái thứ hai — Từ bao giờ mà bám lấy Tư Mã Khố làm vợ lẽ vậy?

— Mẹ kiếp nhà chúng mày, đây là hát kịch! Mẹ kiếp nhà chúng mày, ngậm miệng lại! — Tam tỷ của ta Thượng Quan Lĩnh Đệ và mấy người chị khác hét lớn trong đám đông, biện hộ cho nhị tỷ của chúng ta. Đám đông lập tức im lặng.

— Chồng của con vốn là chuyên gia phá cầu, rải rượu thiêu bố trí trận lửa trên cầu Giao Long. Tháng năm tiết Đoan Dương lửa xanh ngút trời, đốt cho tiểu Nhật Bản kia khóc cha gọi mẹ. Chồng của con mông bị thương nặng. Đêm qua gió tuyết trời đất trắng xóa, chồng của con dẫn đội đi phá cầu sắt...

Tiếp theo nhị tỷ làm động tác đập băng, làm động tác giặt quần áo trong nước đá. Toàn thân nàng run lẩy bẩy, giống như một chiếc lá khô treo trên ngọn cây tháng Chạp.

Khán giả bước vào cảnh kịch, có người trầm trồ khen ngợi không thôi, có người dùng tay áo chấm nước mắt.

Đột nhiên một hồi chiêng trống vang lên, nhị tỷ của ta đứng dậy nhìn ra xa —

Nghe nói phía tây nam chấn động trời đất, lại nhìn thấy ánh lửa ngút trời trong đêm tối, chắc chắn là chồng của con phá cầu đại thắng, xe lửa quân sự Nhật Bản gặp Diêm Vương.

Ta về nhà mau chóng hâm nóng rượu, lại giết hai con gà hầm một nồi canh gà —

Sau đó nhị tỷ làm động tác thu quần áo, làm động tác leo bờ đê, hát tiếp:

Ngẩng phắt đầu phát hiện ra bốn con sói dữ —

Bốn kẻ chân tay lộn xộn mặt mày bôi hóa trang khiêng chiếu sậy ra lúc nãy, lộn một chuỗi lộn nhào không trung từ trong đại cổng lăn ra. Chúng vây chặt lấy nhị tỷ của ta, ngươi một vuốt, ta một vuốt, giống như bốn con mèo vây chặt một con chuột nhắt.

Tên vẽ mặt như con lửng mặt hoa kia, bằng giọng điệu quái dị hát rằng:

Ta vốn là đội trưởng Quy Điền nước Nhật Bản, ra ngoài tìm một cô gái đẹp, sớm nghe nói vùng Đông Bắc mỹ nữ tụ tập, ngẩng đầu lên liền nhìn thấy giai nhân mỹ mạo — Tiểu nương tử ơi, đi thôi, theo đại thái quân đi hưởng phúc liền.

Ngay sau đó bọn chúng xốc bổng nhị tỷ của ta lên.

Nhị tỷ của ta người ưỡn một cái, căng cứng thẳng tắp như một cái gậy, bị bốn tên "quỷ Nhật" giơ cao lên trời, quay vòng vòng trên bãi chiếu.

Chiêng trống đánh dồn dập, tựa như gió táp mưa sa. Khán giả xôn xao, tiến sát về phía trước.

Mẹ gào lên: "Thả con gái của tao ra!" Mẹ vừa hô to vừa lao xông lên trước.

Tôi căng thẳng đôi chân đứng trong bao tải bông, cảm giác này khá tương đồng với cảm giác tôi cưỡi ngựa sau này.

Mẹ vươn hai tay ra, giống như diều hâu vồ thỏ, bấu lấy đôi mắt của "đội trưởng Quy Điền".

Hắn tru lên rồi buông tay, ba kẻ còn lại cũng buông tay, nhị tỷ của ta ngã nhào xuống bãi chiếu.

Ba tên diễn viên kia chạy mất, mẹ cưỡi lên eo "đội trưởng Quy Điền", điên cuồng cào xé trên đầu hắn.

Nhị tỷ của ta kéo lấy mẹ tôi, lớn tiếng la làng lên: "Mẹ ơi, mẹ ơi, đây là hát kịch, không phải thật đâu!"

Lại có mấy người xông lên, tách mẹ và "đội trưởng Quy Điền" ra.

“Đội trưởng Quy Điền” mặt đầy máu, chạy trốn chui tút vào trong đại cổng.

Mẹ thở hồng hộc, dư hận chưa tan nói: "Dám bắt nạt con gái của tao, dám bắt nạt con gái của tao?!"

Nhị tỷ tức giận nói: "Mẹ, một vở kịch hay, bị mẹ làm rối tung lên hết rồi!"

Mẹ nói: "Chiêu Đệ, nghe lời mẹ, chúng ta về nhà thôi, vở kịch thế này, chúng ta không thể diễn."

Mẹ vươn tay kéo nhị tỷ, nhị tỷ hất cánh tay ra, bực bội nói: "Mẹ, mẹ đừng có mất mặt thay con ở đây nữa!"

Mẹ nói: "Là mày làm tao mất mặt! Về cùng tao!"

Nhị tỷ nói: "Con cứ không về đấy."

Lúc này, Tư Mã Khố cất cao giọng hát bước ra sân —

Phá xong cầu sắt quất ngựa trở về —

Khuôn mặt Tư Mã Khố cứng như sắt, vừa lạnh vừa cứng, nghiêm túc đến chết đi được, không có một chút lanh chanh nông nổi nào —

Chợt nghe trên bờ đê hỗn loạn tưng bừng, quất roi phi nhanh đuổi tới nào —

Hí rồ —

Đàn hồ mô phỏng tiếng ngựa hý: Hí hí hí hí...

Lòng cấp bách tựa lửa ngựa tựa gió, một bước coi như nửa bước đi, ba bước coi như hai bước chạy —

Chiêng trống dồn dập, dậm chân, dịch bước, én liệng lộn mình, tung người xoạc háng trên không; trâu già nghẹn hơi, sư tử vờn cầu thêu —

Tư Mã Khố biểu diễn toàn bộ tuyệt kỹ của mình trên bãi chiếu, rất khó tưởng tượng trên mông hắn vẫn dán một miếng cao to bằng nửa cân.

Nhị tỷ vội vàng đẩy mẹ ra ngoài.

Mẹ miệng lầm bầm cãi cọ, miễn cưỡng quay trở về vị trí ban đầu.

Ba người đàn ông đóng vai lính Nhật, khom lưng chui vào giữa, cố gắng nhấc nhị tỷ lên một lần nữa, tên "đội trưởng Quy Điền" kia đã mất tăm mất tích, hết cách đành phải ba người miễn cưỡng chịu trận, hai người nâng phía trước, một người nâng hai chân.

Cái đầu hoa hòe hoa sói của hắn, kẹp giữa hai chân nhị tỷ, trông vô cùng buồn cười, khán giả cười khúc khích, cái đầu kia nhăn mặt nhíu mày giữa hai chân, khán giả càng cười, hắn càng hăng, cuối cùng phát triển thành cười lớn, khiến Tư Mã Khố mặt mày khó chịu, nhưng vẫn tiếp tục hát nối tiếp phần trước:

Chợt nghe đám đông ồn ào náo nhiệt, hóa ra lính Nhật lại giở thói hung ác, không màng hiểm nguy xông lên trước —

Vươn tay bắt lấy một cái xương sống chó —

Dừng tay!

Tư Mã Khố vươn tay túm lấy tên "lính Nhật" có cái đầu kẹp giữa hai chân nhị tỷ, hét lớn một tiếng.

Tiếp theo là màn võ thuật, vốn dĩ phải là bốn chọi một, bây giờ đành phải ba chọi một, sau một hồi giao tranh, Tư Mã Khố chế ngự được "người Nhật", cứu được "vợ".

“Người Nhật” quỳ trên bãi chiếu, Tư Mã Khố níu tay nhị tỷ của tôi, trong giai điệu vui tươi chúc mừng, đi ngược về đại cổng.

Sau đó bốn người mặc đồ đen khiêng đèn va-si đột ngột sống dậy, khiêng đèn chạy vào trong đại cổng.

Ánh sáng bất ngờ biến mất, trước mắt chúng ta tối đen như mực...

Rạng sáng ngày hôm sau, lính Nhật thật sự đã bao vây ngôi làng.

Tiếng súng, tiếng pháo, tiếng chiến mã hí vang đánh thức chúng ta khỏi giấc ngủ say.

Mẹ ôm lấy tôi, dẫn theo sáu người chị của tôi, nhảy xuống hầm củ cải, bò một đoạn trong bóng tối ẩm ướt lạnh lẽo, tiến vào một không gian rộng rãi, mẹ châm đèn dầu đậu phộng lên.

Dưới ánh đèn nhợt nhạt, chúng ta ngồi trên cỏ khô, vểnh tai nghe ngóng động tĩnh mơ hồ truyền xuống từ phía trên.

Không biết đã qua bao lâu, từ trong đường hầm tối tăm phía trước, truyền đến tiếng thở phì phò, mẹ vươn tay chộp lấy một chiếc kìm sắt dùng để rèn sắt, thổi phắt một hơi tắt ngấm ngọn đèn trong hốc vách tường, trong hầm tức thì tối thui.

Tôi khóc lên. Mẹ dùng một cái đầu vú bịt chặt miệng tôi lại.

Tôi cảm thấy cái đầu vú đó lạnh ngắt, cứng đờ, mất đi độ đàn hồi, lại còn có một vị mặn lẫn vị đắng.

Tiếng thở phì phò càng lúc càng gần, mẹ giơ cao chiếc kìm sắt lên.

Lúc này, tôi nghe thấy giọng nói đã biến dạng của nhị tỷ Thượng Quan Chiêu Đệ: "Mẹ ơi, đừng đánh, là con..."

Mẹ thở phào một hơi, đôi tay đang giơ cao chiếc kìm sắt vô lực buông thõng xuống.

“Chiêu Đệ, mày làm mẹ sợ chết khiếp rồi.” Mẹ nói.

“Mẹ ơi, châm đèn lên đi, đằng sau vẫn còn người.” Nhị tỷ nói.

Mẹ tốn rất nhiều sức, mới châm nổi ngọn đèn dầu lên.

Ánh sáng nhợt nhạt soi rọi hang động trở lại.

Chúng ta nhìn thấy nhị tỷ người đầy bùn đất. Trên má nàng có một vệt máu, trong ngực nàng ôm một bọc đồ.

Đây là cái gì? Mẹ kinh ngạc hỏi.

Miệng nhị tỷ méo xệch, những giọt nước mắt trong trẻo từ gương mặt bẩn thỉu của nàng tuôn rơi.

"Mẹ ơi," nàng nghẹn ngào nói, "đây là con trai của tam di thái nhà họ."

Mẹ sững người, tức giận nói: "Bồng từ đâu tới, lại bồng trả về chỗ đó cho tao!"

Nhị tỷ quỳ gối bò lên trước mấy bước, ngẩng mặt nhìn mẹ: "Mẹ ơi, mẹ rủ lòng thương đi, người nhà họ đều đã bị giết sạch rồi, đây là một mầm mống duy nhất của nhà họ Tư Mã..."

Mẹ vén một góc bọc vải lên, lộ ra khuôn mặt dài vừa đen vừa gầy của đứa con trai út nhà họ Tư Mã.

Thằng nhãi này đang ngủ say sưa, thằng nhãi này thở đều đặn, thằng nhãi này đang mím đôi môi nhỏ màu hồng, hình như đang mơ thấy bú sữa.

Trong lòng tôi tràn ngập sự thù hận đối với thằng nhãi này. Tôi nhổ cái đầu vú ra, lớn tiếng gào khóc, mẹ lại nhậm cái đầu vú càng lạnh lẽo hơn, càng đắng ngắt hơn của mình vào miệng tôi.

"Mẹ, mẹ đồng ý thu nhận nó rồi chứ?" Nhị tỷ hỏi.

Mẹ nhắm mắt lại, không thốt một lời.

Nhị tỷ nhét đứa bé vào ngực tam tỷ Thượng Quan Lĩnh Đệ, cúi rạp xuống, dập đầu lạy mẹ một cái, khóc lóc nói: "Mẹ, con sống là người nhà họ, chết là quỷ nhà họ, mẹ đã cứu đứa con này, con gái suốt đời sẽ ghi nhớ đại ân đại đức của mẹ!"

Nhị tỷ đứng phắt dậy chui ra ngoài, mẹ vươn tay tóm lấy nàng, khàn cả cổ họng hỏi: "Mày đi đâu?"

Nhị tỷ nói: "Mẹ, chân anh ấy bị thương, đang trốn dưới cối đá, con phải đi tìm anh ấy."

Lúc này, bên ngoài truyền đến tiếng móng ngựa và tiếng súng sắc bén.

Mẹ nghiêng người chặn ngang cửa động thông ra hầm củ cải, nói: "Mẹ cái gì cũng đồng ý với con, nhưng không thể để con ra ngoài chịu chết."

Nhị tỷ nói: "Mẹ ơi, chân anh ấy máu chảy không ngừng, con mà không đi, anh ấy sẽ mất máu mà chết mất, anh ấy mà chết, con gái sống còn có ý nghĩa gì nữa? Mẹ, thả con đi đi..."

Mẹ rú lên một tiếng khan đục, nhưng ngay lập tức lại ngậm miệng lại.

Nhị tỷ nói: "Mẹ, con gái dập đầu lạy mẹ đây."

Nhị tỷ quỳ xuống dập đầu xong, áp mặt vào đùi mẹ dừng lại một lát. Sau đó, nàng đẩy chân mẹ ra, khom lưng bò ra bên ngoài.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.