Gió Lùa Sóng Vỗ: Khúc Tình Ca Biển Cả

Lượt đọc: 63 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 25
~ Một Thiếu Nữ Và Món Nợ Danh Dự

❊ ❊ ❊

Mayo nhanh chóng được thông báo rằng thuyền trưởng Downs và các thủy thủ đoàn tàu Alden đều bình an vô sự.

"Ông ấy bắt được tín hiệu pháo sáng của chúng ta, khởi động lại được động cơ và lách vào cửa biển trong một lần may mắn," viên trạm trưởng trạm cứu hộ bờ biển giải thích. "Nhưng hắn ta không ngờ lại có dịp gặp lại mấy người. Sao cậu ta lại không nói với tôi là trên tàu có một phụ nữ nhỉ?"

"Ông phải đi mà hỏi hắn thôi."

"Cô ấy là ai?"

"Cả điều đó ông cũng phải hỏi hắn nốt. Tôi chỉ là một thủy thủ."

Viên trạm trưởng dò xét anh với vẻ đầy nghi ngờ: Áo của anh bị rách và để lộ làn da trắng bên dưới. Trận mưa tầm tã và hơi nước muối đã tàn phá lớp cải trang của anh; phần lớn màu nhuộm đã bị rửa trôi.

"Cậu có điều gì đặc biệt muốn nói về bản thân mình không?"

"Không, thưa ông."

Viên trạm trưởng quay lưng về phía các thuộc hạ và chồm người lại gần Mayo. "Ảnh của cậu đã lên mặt báo tuần này rồi," ông ta nói. "Cậu chính là vị thuyền trưởng mà họ đang truy lùng trong vụ án ở Montana. Họ đang săn đuổi cậu đấy. Tôi buộc phải báo cáo về việc này, cậu hiểu chứ!"

"Rất được, thưa trạm trưởng."

"Nhưng tôi cho rằng chúng ta sẽ bàn kỹ mọi chuyện sau khi về đến trạm," viên chủ trạm ân cần nói. "Biết đâu trong đó lại có chuyện gì mà tôi chưa hiểu thấu."

"Bản thân tôi lúc này cũng có khối chuyện chẳng hiểu nổi, nhưng tôi sẽ tìm cho ra lẽ," thuyền trưởng Mayo tuyên bố.

Họ giao Ahpa Marston cho vợ viên trạm trưởng chăm sóc ngay khi đặt chân lên bờ an toàn tại cửa biển. Sự tình cờ may mắn đã đưa người phụ nữ ấy đến trạm vào đúng ngày hôm đó để thăm chồng.

Thuyền trưởng Downs, sau khi đã được ăn uống ấm cúng, ngồi nhìn những người mới đến ăn cạnh bếp lò và lắng nghe câu chuyện mà Mayo kể cho ông nghe.

Con mèo lông xơ xác đang liếm sữa, được gã đầu bếp chột một mắt bảo vệ khỏi sự ghen tị đầy hằn học của con mèo chính thức thuộc quyền sở hữu của trạm.

Và sau đó, khi đã đóng cửa bàn bạc riêng với thuyền trưởng Downs và viên trạm trưởng, Mayo thuật lại toàn bộ vụ việc của mình.

"Tôi phải nói là cậu có vẻ đã mắc cạn khá hiểm hóc ở một vùng nước vô cùng rối rắm đấy," viên trạm trưởng cứu hộ bờ biển nhận xét. "Đó không phải là chuyện riêng của tôi — nhưng cậu định tính sao đây?"

"Tôi đoán là sẽ đến New York và chịu trừng phạt thôi. Lẽ ra tôi nên ở lại đó và đối mặt với mọi chuyện. Việc bỏ trốn chỉ càng làm cho tình hình của tôi thêm tồi tệ. Nhưng lúc ấy tôi đã quá hoảng loạn."

"Những người giỏi nhất đôi khi cũng hoảng loạn," người chủ nhà an ủi nói. "Tôi không phải là cảnh sát, cảnh sát trưởng hay thám tử đâu, anh bạn trẻ ạ. Tôi sẽ báo cáo vụ việc này là thuyền trưởng Downs cùng một số sinh mạng đã được cứu khỏi chiếc thuyền buồm Alden. Tốt hơn hết là cậu nên lên thành phố và đối mặt với họ như một người đàn ông thực thụ. Tôi sẽ trang bị cho cậu vài bộ quần áo của tôi. Người bạn già Wass của cậu có dụng ý tốt khi giục cậu chạy trốn, nhưng tôi luôn nhận ra rằng trong cuộc chiến của một người đàn ông, cậu chẳng thể làm được gì nhiều trừ khi đứng sát đối thủ để có thể đấm hắn khi hắn vươn tay ra."

Nửa giờ sau, trông đã tươm tất trong bộ đồ thường phục của viên trạm trưởng cứu hộ bờ biển, Mayo bước qua nhà bếp. Bradish và tay đầu bếp vẫn đang đứng trước lò sưởi.

Vợ viên trạm trưởng, đang đứng ở khung cửa dẫn vào căn phòng bên trong, giơ một ngón tay ra hiệu cho chàng trai rồi gật đầu mời gọi. "Cô tiểu thư muốn gặp cậu đấy, thưa cậu," bà thì thầm khi anh bước đến bên cạnh. "Vào đi!" Bà khép cửa lại sau lưng anh và ở lại trong nhà bếp.

Anh đứng giữa phòng và ngắm nhìn cô gái một lúc lâu, cả hai đều không nói lời nào. Cô quấn kín trong những chiếc chăn và thu mình trên một chiếc ghế lớn; khuôn mặt cô phờ phạc và đôi mắt lộ rõ vẻ mệt mỏi. Nhưng giọng cô vẫn quả quyết và nghiêm túc khi cất lời với anh.

“Thuyền trưởng Mayo, những điều tôi sắp nói với anh nghe sẽ rất lạ lùng. Hãy hứa với tôi rằng anh sẽ lắng nghe tôi như cách anh lắng nghe một người đàn ông.”

“Tôi e rằng—” anh ấp úng.

“Thật tệ là đàn ông và phụ nữ hiếm khi có thể đối thoại với nhau trên cùng một bình diện như giữa nam nhân với nam nhân. Nhưng lúc này tôi không muốn được coi là một cô gái. Tôi là một con người, anh cũng là một con người, và tôi nợ anh một ân huệ phải được trả, bằng không tôi sẽ hổ thẹn vì một món nợ cứ dằn vặt tôi suốt cuộc đời.” Cô giơ hai tay ra, đan chặt các ngón tay vào nhau đầy cầu khẩn. “Hiểu cho tôi—giúp tôi đi!”

Anh cảm thấy không được tự nhiên. Anh sợ hãi đến tận đáy lòng khi phải đối mặt với một vấn đề lớn lao nhường ấy.

“Khi chúng ta tưởng rằng mình sắp chết, tôi đã nói với anh rằng dường như tôi đã sống cả một cuộc đời chỉ trong vài tiếng đồng hồ—rằng khi nhìn vào tận sâu suy nghĩ của mình, tôi thấy mình không còn giống như con người cũ nữa. Thuyền trưởng Mayo, điều đó là sự thật. Giờ đây, khi đã có thời gian để soi rọi tâm can, tôi càng thấy điều đó rõ ràng hơn. Ồ, tôi không còn là Alma Marston từng được nuông chiều hư hỏng—một kẻ ngốc nghếch nhảy nhót khắp nơi theo từng phút bốc đồng—thấy một cô gái trong nhóm của mình làm trò ngớ ngẩn liền làm theo một trò ngớ ngẩn hơn nữa chỉ để gây kinh ngạc cho cô ta. Cuộc sống của chúng tôi ở thành phố vốn là thế đấy. Tôi chưa từng biết thế nào là một con người bé nhỏ đứng trước ranh giới cái chết. Anh biết rõ chính anh đã cứu tôi khỏi cái chết đó mà!”

“Tôi chỉ làm những gì một người đàn ông nên làm thôi, thưa cô Marston.”

“Có thể. Nhưng anh đã làm được, đó mới là vấn đề. Vẫn có những người đàn ông khác—” Cô ngập ngừng. “Tôi đã có một cuộc nói chuyện với ông Bradish,” cô nói với anh. “Đó là một sai lầm. Anh đã cứu tôi khỏi sai lầm ấy. Anh đã làm điều đó ngay trong khoang tàu. Ông ta đã kể lại cho tôi nghe. Điều đó đối với tôi còn quý giá hơn cả việc cứu lấy mạng sống.”

“Nhưng chỉ vì một người đàn ông không phải là thủy thủ—không quen với hiểm nguy—” anh phản biện.

“Không phải thế. Ý tôi là tôi vừa mới nói chuyện với ông Bradish xong! Tôi đã nhận ra chính xác hắn ta là loại người gì. Tôi đã không nhận ra điều đó khi khiêu vũ với hắn. Nhưng giờ đây, khi đã cùng hắn trải qua lằn ranh sinh tử, tôi đã nhìn thấu con người hắn.” Những vệt hồng trên má cô tố cáo cả sự hổ thẹn lẫn nỗi căm phẫn. “Một kẻ hèn nhát sẽ phơi bày toàn bộ bản chất trước khi kịp kiểm soát lại bản thân, và ông Bradish đã cho tôi thấy rằng hắn sẵn sàng hủy hoại và bôi nhọ tôi chỉ để trục lợi cho bản thân mình. Và không còn gì để nói về hắn nữa!” Cô dừng lại.

“Thuyền trưởng Mayo, tôi thừa biết anh phải có ấn tượng tồi tệ thế nào về tôi—về một cô gái dám làm những chuyện như tôi đã làm! Nhưng anh có khinh miệt tôi đến đâu đi nữa thì cũng không bằng một nửa sự tự khinh miệt của chính tôi dành cho bản thân—dành cho cô gái mà tôi từng là. Nhưng giờ đây tôi đã lấy lại được lòng tự trọng! Tôi tôn trọng người phụ nữ mà tôi đang là vào khoảnh khắc này sau trải nghiệm đó! Có thể anh không hiểu. Nhưng tôi thì có! Tôi mừng vì mình còn giữ được lòng tự trọng ấy. Tôi sẽ đối mặt với những gì đang chờ đợi phía trước. Từ nay trở đi tôi sẽ hành động đúng đắn.” Cô nói nhanh và đầy nhiệt huyết, anh muốn nói điều gì đó nhưng cái lưỡi nhà binh của anh lại ngập ngừng. “Tôi sẽ không nhắc lại một vấn đề nào đó—không phải lúc này! Mọi thứ quá thiêng liêng. Tôi quá khốn khổ và hổ thẹn! Một lần nữa, thưa thuyền trưởng Mayo, tôi muốn đứng ngang hàng với anh như người đàn ông với người đàn ông! Tôi muốn đền đáp những gì anh đã làm cho tôi. Anh đã mất đi mọi thứ có giá trị trong cuộc đời mình. Tôi muốn anh lấy lại tất cả những thứ đó. Anh sẽ nghe tôi nói chứ?”

“Vâng, thưa cô Marston.”

“Anh hãy đến gặp cha tôi mang theo một bức thư của tôi. Tôi tin rằng ông không hề biết những thủ đoạn mà bọn tay chân của ông ấy đã sử dụng, nhưng ông có thể tìm hiểu ra. Anh hãy bảo ông rằng ông phải tìm cho ra—rằng ông phải bắt chúng thú nhận. Anh hãy bảo ông rằng đây là một cuộc chiến của nam nhi, và anh đang chiến đấu trả đũa bằng tất cả sức mạnh mà anh có thể huy động. Anh hãy bảo ông rằng tôi đang được anh che giấu, và tôi không thể trốn thoát—như chính bức thư của tôi sẽ nói rõ với ông. Anh hãy bảo ông rằng ông phải trao đổi sòng phẳng với anh—trả lại cho anh những gì thuộc về anh trước khi ông có thể lấy lại những gì thuộc về ông.”

Mayo lùi lại một cách rũ rượi, đôi tay quờ quạng tìm bức tường phía sau rồi tựa lưng vào đó.

“Anh chỉ có một mình—đó là một ván bài lớn mà bọn chúng bày ra ở thành phố khi săn tiền bạc—và anh phải chấp nhận bất kỳ quân bài nào được chia,” cô kiên quyết, thể hiện sự khôn ngoan vốn có của dòng họ Marston.

“Ý cô là tôi sẽ đến gặp cha cô cứ như thể tôi đang bắt cóc cô để tống tiền vậy chắc?” anh há hốc miệng.

“Đại loại thế,” cô háo hức đáp. “Cơ hội duy nhất để anh đạt được điều mình muốn—và đạt được nó một cách nhanh chóng—là chơi một ván bài lừa bịp thật ngoạn mục. Em đã thấy vài minh chứng về lòng dũng cảm của anh rồi, thuyền trưởng Mayo. Anh hoàn toàn có thể làm việc đó một cách tuyệt vời.”

“Nhưng tôi không đời nào làm thế!”

“Tôi bảo là anh sẽ làm!”

“Không đời nào có chuyện—” Cảm xúc đang lấn át anh. Anh quên mất rằng mình đang giao du với một cô gái bốc đồng. Cơn giận trong anh đang dâng trào. Cô đang hạ thấp anh xuống ngang hàng với một kẻ bịp bợm.

“Cứ việc nói năng mạnh bạo tùy thích đi, thuyền trưởng Mayo. Như thế càng làm cho mối quan hệ giữa chúng ta giống chuyện làm ăn của đàn ông hơn.”

“Những mánh khóe đó có thể rất ổn ở Phố Wall, nhưng chúng không dành cho tôi. Và cô có cái nhìn quá tồi tệ về tôi nếu nghĩ rằng tôi sẽ làm thế.”

“Đừng có cư xử ngớ ngẩn kiểu Đông-ki-sốt như thế,” cô thiếu kiên nhẫn phản đối. “Chúng ta đang sống trong thời đại hiện đại mà, thuyền trưởng Mayo. Một số tên tay chân đó đã chơi một vò hiểm độc với anh. Chúng phải bị vạch mặt.”

“Đây chỉ là ý nghĩ điên rồ của một cô gái!”

“Thuyền trưởng Mayo, đây là cách anh giúp tôi trả món nợ của mình sao?”

“Cô chẳng nợ nần gì tôi cả.”

“Và giờ thì anh lại sỉ nhục tôi! Danh dự của một thiếu nữ và tính mạng của tôi chẳng đáng một xu chắc? Anh đã cứu được cả hai thứ đó.”

“Tôi không biết cách nói chuyện với cô. Tôi chẳng có kinh nghiệm gì trong việc trò chuyện với phụ nữ cả. Tôi chỉ nói đơn giản là tôi sẽ không đến gặp cha cô theo bất kỳ cách nào như thế. Chắc chắn là không!”

“Anh không nhận ra tôi đang đề nghị với anh điều gì sao?” cô nài nỉ. “Anh đang hất hủi sự hy sinh của tôi vào mặt tôi đấy. Cục diện hiện tại là tôi có thể phóng ngay về nhà một cô bạn gái nào đó và bịa ra một câu chuyện nhỏ về một chuyến đi chơi dại dột, và cha tôi sẽ chẳng bao giờ biết được chuyện gì đã xảy ra. Ông ấy vốn dĩ vẫn mong đợi tôi làm khối trò ngớ ngẩn cơ mà.”

“Đó là chuyện của cô—và của ông ấy,” anh đáp lại một cách khô khốc.

“Thuyền trưởng Mayo, tôi đã cố gắng chứng minh cho anh thấy rằng tôi đủ tư cách để được coi trọng chứ không chỉ là một cô gái ngốc nghếch. Tôi muốn anh biết rằng tôi có ý thức về nghĩa vụ. Kế hoạch này có vẻ giống như một ý tưởng lãng mạn vẩn vơ của con gái. Nhưng không phải đâu. Nó rất táo bạo, và vụ việc của anh đang cần sự táo bạo. Tôi đang cố chứng minh rằng tôi không hèn nhát. Tôi định sẽ thú nhận với cha mình những gì tôi đã làm và bắt đầu lại một cách sòng phẳng với ông ấy. Anh lại vứt bỏ tất cả vào mặt tôi—anh lăng mạ kế hoạch của tôi bằng cách gọi nó là điên rồ.”

“Đúng là thế thật,” anh kiên quyết bướng bỉnh. “Và tình trạng của tôi đã đủ tồi tệ lắm rồi!”

“Ồ, thế ra anh sợ hãi rồi sao?”

Anh cau mày. Lời mỉa mai của cô chẳng khác nào một sự xúc phạm vô cớ.

Anh vốn chẳng hiểu gì về cái thứ mưu mẹo đàn bà kiểu đó—cái thói tìm cách thúc ép hành động đối với một kẻ từ chối bị dắt mũi.

“Tôi ngưỡng mộ sự táo bạo ở một người đàn ông khi hoàn cảnh của anh ta lâm vào bước đường cùng và anh ta đang cố gắng tự cứu lấy mình. Tôi đã sống giữa những người đàn ông luôn táo bạo theo đuổi thứ họ muốn.”

“Tôi đã có chút ít kinh nghiệm với thể loại hải tặc trên cạn đó, và tôi không thích cái hệ thống ấy chút nào.”

“Tôi sẽ không hy sinh thêm bất cứ thứ gì vô ích nữa,” cô tuyên bố với giọng sắc lạnh, nhưng khóe mắt đã ngânấn ngấn lệ. “Tôi đã làm những gì có thể để giúp anh khi anh đang cố cứu lấy tôi. Sao anh lại vô ơn đến mức từ chối giúp tôi lúc này?”

“Đó là hành vi lợi dụng cô—lợi dụng hoàn cảnh của cô.”

“Nhưng chính tôi đề nghị mà—tôi cầu xin anh làm điều đó cơ mà.”

“Tôi sẽ không làm đâu.”

“Anh hoàn toàn từ chối sao?”

“Vâng, thưa cô Marston.”

“Vậy thì tôi sẽ mặc kệ số phận của anh, thuyền trưởng Mayo. Chẳng lẽ anh lại nghĩ tôi sẽ tự mình đến gặp cha để kể câu chuyện đó chắc?”

“Chắc chắn là không.”

“Bây giờ tôi sẽ tự lo liệu và bảo vệ bản thân bằng hết khả năng. Tôi tin chắc rằng thuyền trưởng Downs sẽ giữ kín bí mật cho tôi. Tôi sẽ quên đi chuyện mình từng bước lên con tàu buồm đó. Tôi đoán là anh sẽ lại bôi nhọ mặt mũi rồi trốn chạy tiếp thôi!”

“Tôi sẽ đến New York.”

“Để vào tù à?”

“Có lẽ thế.”

“Anh làm tôi tức điên lên được. Sau khi đã chứng tỏ mình biết chiến đấu, đúng lúc cần phải chiến đấu quyết liệt nhất thì anh lại co vòi trốn tránh để mặc cho người ta quất roi tơi tả.”

“Vâng, thưa cô Marston, nếu cô muốn diễn đạt theo cách đó.”

“Vậy thì, vĩnh biệt!”

“Vĩnh biệt!”

Có lẽ cả hai đều hy vọng đối phương sẽ phá vỡ bức tường lạnh lùng vào khoảnh khắc chia tay này. Anh ngập ngừng giây lát—một khoảnh khắc gượng gạo—rồi cúi đầu bước ra khỏi phòng.

Thuyền trưởng Downs đi cùng Mayo một đoạn qua những cồn cát khi anh bắt đầu lên đường ra ga xe lửa gần nhất. Viên thuyền trưởng dự định sẽ ở lại cửa biển cho đến khi đại diện chủ tàu Alden đến nơi.

Họ để lại Bradish vẫn đang co ro phía sau chiếc lò sưởi trong nhà bếp.

“Trừ khi mắt tôi có vấn đề, bằng không thì theo suy nghĩ của tôi, tên công tử bột đó đang hoài phí thời gian khi cứ lảng vảng quanh cô gái ấy đấy,” thuyền trưởng Downs gợi ý. “Cô ta đã đưa hắn lên ụ tàu tình ái của cuộc đời mình, khảo sát kỹ càng, và quyết định rằng cô ta thà chết chứ không muốn giương buồm ra khơi cùng hắn trên con thuyền hôn nhân. Cậu không nghĩ thế à?”

“Tôi nghĩ ông là một người tinh mắt, thuyền trưởng Downs.”

“Tôi đoán là tôi và cậu, với tư cách là những quý ông kiêm thuyền trưởng, sẽ ngậm miệng kín bưng chuyện cô ấy có mặt trên tàu Alden chứ?”

“Chắc chắn rồi, thưa ông.”

“Đám thủy thủ trạm cứu hộ không biết cô ấy là ai, và họ cũng chẳng thể tìm ra. Cho nên cô ấy có thể về nhà và lo việc của mình từ nay trở đi. Hầu như người phụ nữ nào cũng làm một điều ngớ ngẩn tột cùng trong đời—rồi sau đó vẫn ổn thỏa cả thôi. Nhưng giờ hãy nói về một chủ đề thực tế hơn đi! Cậu định làm gì tiếp theo?”

“Đút đầu vào tròng chứ gì. Đó gần như là việc duy nhất tôi có thể làm.”

“Nhưng thế nào cậu cũng sẽ đối chất thẳng thừng với họ chứ?”

“Tôi sẽ đánh mấy quân bài ít ỏi trong tay theo cách tốt nhất mình biết, thưa ông. Điều tôi có thể hy vọng nhất là buộc họ bãi bỏ vụ án ngộ sát đó. Có lẽ tôi sẽ nói đủ điều để họ thấy sợ mà không dám đưa tôi ra xét xử. Còn về việc lấy lại giấy phép hành nghề của mình, tôi e rằng điều đó là không tưởng. Tôi sẽ phải bắt đầu lại cuộc đời bằng một nghề khác thôi.”

“Mayo, sao cậu không đến văn phòng của ngài thuyền trưởng lớn ấy nhỉ?” Ông đáp lại ngay cái nhìn đầy thắc mắc của chàng trai trẻ. “Chính Julius Marston là ông chủ tối cao của cái đế quốc hợp nhất tàu thủy đó. Bradish đã khai ra toàn bộ phần đó khi kể về mấy tấm séc; dẫu cho tất nhiên, tất cả chúng ta đều biết về Marston từ trước rồi. Rất có thể Marston vẫn vạch hải trình đúng đắn cho đám tay chân của ông ta. Nếu tụi nó có lén đi tắt đón đầu qua các phao tiêu để đến đích cho nhanh, tôi dám cá là ông ta chẳng hay biết gì đâu. Hãy đến gặp ông ta và thuật lại, đường đường chính chính kiểu nam nhi, những gì đã xảy ra với cậu.”

“Có hai lý do khiến tôi có lẽ sẽ chẳng bao giờ gặp được ngài Marston,” Mayo lạnh lùng đáp. “Thứ nhất, tôi sẽ bị tóm cổ trước khi kịp đặt chân qua New York để đến văn phòng của ông ta; thứ hai, tôi sẽ chẳng bao giờ bén mảng vào được phòng ngoài đâu. Nghe nói ông ta được bảo vệ cẩn mật chẳng khác nào Sa hoàng nước Nga vậy.”

“Con gái ông ta có biết gì về vụ án của cậu không?”

“Tôi đã lỡ mồm khai tuốt tuột với cô ấy—như một thằng ngốc—lúc chúng tôi ở trên xuồng. Sao cứ hễ lúc say xỉn, kích động hay gặp rắc rối là đàn ông lại đem toàn bộ câu chuyện cuộc đời mình ra kể lể với phụ nữ nhỉ?” Mayo càu nhàu.

“Chính tôi đôi khi cũng ngẫm nghĩ về điều đó,” thuyền trưởng Downs thừa nhận. “Nhất là trong những dịp tôi tỉnh táo lại và nhận ra mình đã lỡ bép xép những gì. Tôi đoán nguyên nhân đại loại thế này: Đàn ông không bao giờ đi kể lỗi lầm của mình cho gã đàn ông khác, vì hắn biết gã kia thường sẽ thầm mừng trong bụng khi thấy bạn mình gặp nạn. Nhưng sự đồng cảm của phụ nữ thì giống như một miếng cao dán hạt lanh—nó vừa xoa dịu nỗi đau vừa hút mủ độc ra.”

Mayo lầm lũi bước đi trong im lặng, chân đá văng những hạt cát.

“Tôi thấy việc nhỏ nhặt nhất mà cô gái đó có thể làm là ngỏ ý giúp cậu có một buổi tạ từ đối chất với lão già bố cô ta. Cậu đã làm một việc tày đình cứu mạng cô ta cơ mà, anh bạn!”

“Tôi buộc phải tự cứu mình thôi. Thêm vài mạng trên xuồng cũng chẳng thấm vào đâu.”

“Đám tiểu thư quyền quý này lúc nào chẳng đặt bản thân lên trên hết! Chắc cậu chẳng thèm đếm xỉa gì đến lời khuyên của tôi đâu, thuyền trưởng Mayo, nhưng tôi nói với cậu bằng tất cả sự chân thành trên đời đấy.”

“Tôi biết là thế, thuyền trưởng Downs,” chàng trai trẻ đáp, vẻ bẳn tính đã vơi đi. “Tôi không có ý giở thói xù lông với ông đâu! Tôi sẽ thử tìm gặp Marston xem sao. Sẽ là một thử thách khó khăn đây. Nhưng tôi đang ở tâm trạng sẵn sàng thử mọi cách. Chết tiệt thật! Nếu họ có lôi cổ tôi vào tù, tôi cũng sẽ vào trong tư thế chống cự đến cùng!”

“Đúng tinh thần của một trang nam nhi đấy, nhóc ạ. Và nếu cậu có thể tung ra vài cú đá hiểm mà Julius Marston nhìn thấy được, biết đâu chúng sẽ có tác dụng. Lão ta mới là kẻ nắm quyền sinh quyền sát! Tôi nghĩ mình không đi cùng cậu nữa đâu. Đường sá chỗ này quá khó đi đối với một gã lạch bạch già cả như tôi rồi. Chúc may mắn nhé!”

Họ bắt tay nhau rồi quay lưng đi theo phong cách dồn nén cảm xúc đặc trưng của những người đi biển.

Chàng trai trẻ tiếp tục bước đi, trong lòng mang theo nỗi tuyệt vọng tê tái tự hỏi tại sao mình lại có thể chia tay Alma Marston chỉ bằng một lời từ biệt cụt ngủn.

Tối hôm đó, Mayo lảng vảng ở những khu ổ chuột thuộc Jersey City, rồi vượt sông sang đô thị này vào thời điểm sau nửa đêm trên một chuyến phà vắng khách, chọn cho mình một góc tối để ở một mình. Anh tìm được một chỗ trọ tồi tàn ở khu phía Đông.

Sáng hôm tới, anh tự trấn an tinh thần để đối mặt với thử thách bước chân ra đường. Niềm tin vào sự vô tội của bản thân càng làm cho nỗi thống khổ của anh thêm sâu sắc khi anh ngóng chờ cảm giác một bàn tay nặng nề giáng xuống vai cùng giọng điệu quát tháo của viên cảnh sát. Anh biết tầm mắt của Chú Sam rất sắc bén và cánh tay của ngài cũng vươn rất dài. Anh đặt niềm tin vững chắc vào sự cảnh giác gần như kỳ quái của các quan chức chính phủ. Anh cảm thấy khá ngạc nhiên khi cuối cùng mình lại đứng ở phòng ngoài của công ty Marston & Waller.

Anh ngồi xuống một chiếc ghế băng và chờ đợi một lúc để lấy lại sự bình tĩnh. Anh muốn kiểm soát nét mặt và giọng nói trước khi tiếp cận một trong những kẻ gác cổng của ông trùm tài chính. Nhưng sự săm soi của đám nhân viên không cho phép những kẻ lang thang được nán lại đó lâu mà không có lời giải thích. Một kẻ kiễng chân bước đến hỏi tên và mục đích công việc của anh.

"Tên tôi không quan trọng," Mayo nói. "Nhưng tôi có việc rất quan trọng cần gặp ngài Marston. Nếu anh nhắn với ông ấy rằng đây là việc tối quan trọng—rằng đó là điều ông ấy cần phải biết, và rằng—">

"Vậy là anh không có lịch hẹn trước rồi?"

"Không."

"Bộ anh nghĩ chỉ cần xộc vào đây là gặp được ngài Marston ngay mà không cần khai tên tuổi lẫn giải thích trước bản chất công việc chắc?"

"Tôi hy vọng là được, vì đây là chuyện quan trọng."

"Chuyện gì nào?"

"Đó là việc riêng—đây là chuyện dành riêng cho ngài Marston."

"Không thể nào!" là câu trả lời cụt lủn của gã đó. Hắn quay về vị trí trực chiến của mình. Chỉ ít phút sau, hắn quay lại chỗ Mayo. "Anh không được phép ở đây. Anh không thể gặp ngài Marston đâu."

"Anh không thể chuyển lời giúp tôi vào trong được sao? Tôi sẽ giải thích—"

"Giải thích với tôi này. Đó là lý do tôi có mặt ở đây."

Việc nói với kẻ máu lạnh đó rằng vị khách này chính là người thuyền trưởng sa cơ của chiếc Montana là điều không thể. Nhắc đến vụ án tàu Montana trước mặt con chó canh cửa này rất nguy hiểm. Nhưng Mayo lại vô cùng sợ hãi viễn cảnh phải quay lại đường phố.

Mayo bắt đầu: "Tôi sẽ ở đây một lát và biết đâu tôi có thể—"

"Nếu anh còn chày cối ngồi đây mà không chịu giải thích mục đích, tôi sẽ gọi cảnh sát tống cổ anh xuống đường đấy, bạn ạ."

Mayo đứng dậy và vội vã chuồn ra ngoài.

"Cảnh sát!" Ngay cả trong hành trình tuyệt vọng và đầy oan ức để tìm kiếm một cơ hội được giãi bày, anh vẫn bị đe dọa bắt giữ! Anh lủi thủi bò về chỗ trọ, tự giam mình trong căn hộ tồi tàn để gặm nhấm nỗi đau đớn trong tâm hồn.

Đêm đó Mayo ngồi liền mạch đến khuya, cặm cụi viết một bức thư gửi cho Julius Marston.

Anh sai người đi gửi nó từ sáng tinh mơ, rồi đến giữa buổi sáng lại xốc lại tinh thần tự mình bước theo sau. Anh cố ra vẻ bạo dạn dẫu trong lồng ngực đang run lẩy bẩy khi tiếp cận người gác cổng ở phòng ngoài.

“Anh làm ơn hỏi ngài Marston xem ông ấy có chịu tiếp người đã gửi thư cho ông ấy qua đường bưu điện sáng nay không?” “Thư gì cơ? Ký tên gì?” “Ông ấy sẽ hiểu tôi muốn nhắc tới bức thư nào.” “Hắn sẽ hiểu á?” Gã nhân viên nhìn xoáy vào kẻ đang đứng trước mặt đầy dò xét. Bộ quần áo thường phục của viên trạm trưởng cứu hộ trông chẳng lấy gì làm oai vệ, mà cũng chẳng vừa vặn cho lắm. Mayo phơi bày sự lúng túng của một kẻ biết mình đang bị săn đuổi. “Bộ anh nghĩ ngài Marston mỗi sáng chỉ nhận được đúng một bức thư qua người đưa thư chắc? Này anh bạn, hôm qua anh đã bén mảng ở đây rồi, và tôi coi anh là một phần tử khả nghi đấy. Anh không thể gặp ngài Marston với cái lý do củ chuối đó đâu. Biến khỏi cái cửa đó trong vòng một phút, bằng không tôi gọi cảnh sát đấy nhé!”

Và một lần nữa Mayo phải tháo chạy trước hiểm họa đang bủa vây. Anh tạt vào một sạp báo vỉa hè mua một chồng báo; những giờ phút cô độc trong căn phòng nhỏ ngày hôm qua đã hành hạ tinh thần anh kiệt quệ. Anh ngồi thụp xuống và bắt đầu đọc chúng. Tin tức về việc hãng Vose sáp nhập vào liên minh tàu thủy là một thông tin đầy thú vị và mang ý nghĩa lớn. Hiển nhiên là việc chiếc Montana bị đình hoạt đã làm nản lòng đại bộ phận cổ đông. Anh có quá nhiều thời gian để giết và cần dập tắt mọi suy nghĩ vẩn vơ; anh cặm cụi đọc từng chữ, nán lại ở những vấn đề chẳng mảy quan tâm, cố gắng lấp đầy tâm trí để xua đi những ký ức cay đắng cùng nỗi sợ hãi. Chưa bao giờ trong đời anh lại đi đọc mấy chuyện tầm phào xã hội trên mặt báo. Tuy nhiên, khi rê mắt dọc theo các cột báo, anh khựng lại trước một đoạn văn và cứ thế ngẩn người đọc đi đọc lại rất lâu. Bản tin cho biết tiểu thư Marston ở Đại lộ số 5 vừa lái xe hơi trở về sau buổi tiệc tại nhà một người bạn ở vùng Catskills, đi cùng cô là tiểu thư Lana Vanadistine, người sẽ ở lại làm khách trong nhà tiểu thư Marston vài ngày.

Mẩu tin đó mang một ý nghĩa vô cùng lớn lao. Cô đã thiết lập xong lời ngoại phạm cho mình; cô đã khôi phục lại vị thế và chìa ra một bộ mặt hoàn hảo trước thế giới.

Mayo thầm chắc mẩm trong lòng rằng anh quá hiểu rõ bản chất con người cô. Những ảo tưởng của anh đã tan thành mây khói. Giờ đây, khi trải nghiệm bi thảm đã lùi lại phía sau, khi cô đã quay về với thế giới quen thuộc, khi ngọn lửa lãng mạn đã nguội lạnh, cô đang tạ ơn Chúa, tự anh nhủ thầm như thế, vì cô đã không dại dột hy sinh bản thân vì bất kỳ ai. Anh thực lòng mừng cho cô vì cô đã về nhà, mừng vì manh mối mà đoạn báo hé lộ—rằng bí mật của cô vẫn chỉ là của riêng cô, ít nhất là đối với gia đình và giới thượng lưu.

Đêm đó Mayo tiếp tục tự suy ngẫm cho bản thân. Đến sáng hôm sau, quyết định cuối cùng đã được đưa ra. Anh sẽ tìm cách gặp Julius Marston thêm một lần nữa. Anh quả quyết rằng mình sẽ đường hoàng bước thẳng vào phòng ngoài, dõng dạc xưng tên, tuyên bố mình đến để vạch trần một tội ác, và cảnh cáo rằng nếu ngài Marston từ chối tiếp chuyện, anh sẽ đem những gì mình biết tung lên mặt báo cho dư luận tường tận; khi đó anh sẽ thách họ gọi cảnh sát đến bắt nếu cửa văn phòng của Marston cứ tiếp tục đóng chặt trước mặt anh. Anh sẽ thu hút sự chú ý của công chúng vào bản thân và vụ án của mình bằng tất cả sự náo động mà anh có thể gây ra. Một khi đã phải vào tù, anh sẽ bước vào trong sự chứng kiến của đông đảo quần chúng. Hãy để Marston và cái lũ tài phiệt bạn bè của lão ta thưởng thức cảm giác đó xem có vừa ý không nào!

Đó là một kế hoạch liều lĩnh và thô thiển, nhưng Mayo vốn chẳng phải nhà ngoại giao—anh chỉ là một gã thủy thủ.

Anh hiên ngang bước đi với chiếc cằm ngẩng cao và ngọn lửa quyết tâm rừng rực trong lồng ngực.

Những người đàn ông khác, có vẻ ngoài giàu có và bụng phệ, cùng bước lên thang máy với anh rồi đi thẳng vào văn phòng của Marston & Waller trước cả anh, bởi anh đã khiêm tốn lùi sang một bên để nhường đường cho họ.

Anh nghe thấy họ bàn tán về một "cuộc họp hội đồng quản trị". Rõ ràng là ngài Marston sẽ còn bận rộn một khoảng thời gian. Đây không phải là thời điểm thuận lợi để xộc vào đòi vị tài phiệt chú ý; anh cần một không gian thông thoáng hơn. Do đó, anh cứ đi lên đi xuống hành lang của tòa nhà văn phòng, dán mắt vào cửa thang máy, chờ đợi nhóm quý ông bụng phệ đó rút đi. Và với sự tập trung dồn cả vào đấy, anh nhìn thấy tiểu thư Alma Marston xuất hiện.

Cô đợi cho thang máy đi khuất hẳn, rồi tiến thẳng đến chỗ anh.

Biểu cảm trên khuôn mặt cô không hé lộ tâm trạng gì ngoài việc ngầm ra hiệu rằng cô đang rất điềm tĩnh.

"Tôi không lấy làm ngạc nhiên lắm khi bắt gặp anh ở đây," cô bảo anh. "Tôi tin là anh đã nói với thuyền trưởng Downs—như ông ấy thông báo lại với tôi—rằng anh sẽ tìm cách gặp cha tôi. Và những kẻ cố gặp cha tôi mà không có giấy giới thiệu đàng hoàng thường phải đứng chầu chực mòn mỏi bên ngoài văn phòng của ông ấy mấy ngày trời là cái chắc."

Phảng phất chút cao ngạo trong giọng điệu của cô. Cô vẫn giữ lại phần lớn sự sắc bén từng bao trùm thái độ của họ trong ngày chia tay. Anh sẽ không đời nào thừa nhận với bản thân rằng mình hy vọng cô sẽ đối xử với anh bằng một thái độ khác; anh ngoan ngoãn chấp nhận cách cư xử đó như một điều hiển nhiên. Anh chỉ là một thủy thủ, còn cô là con gái của Julius Marston.

"Anh có trách tôi vì đã hoài nghi ý đồ thực sự của anh khi muốn gặp cha tôi không?" cô chất vấn. "Tôi nói thẳng cho anh hay là tôi đến đây để tìm anh đấy. Chúng ta phải giải quyết cho dứt điểm chuyện của mình thôi."

“Tôi đang cố gắng xin gặp ông ấy về chuyện làm ăn của riêng tôi—đơn thuần là việc riêng của tôi thôi, thưa cô Marston.”

“Nhưng còn chuyện của tôi thì sao! Anh định nói gì với ông ấy về tôi đây? Anh còn nhớ tôi từng bảo rằng tôi có ý định tự bảo vệ mình chứ,” cô tuyên bố với vẻ trịch thượng nhất định.

“Tôi cứ nghĩ cô đánh giá tôi cao hơn thế chứ,” anh phản đối. “Thưa cô Marston, đối với tôi mà nói, cô chưa từng đặt chân lên con tàu buồm đó. Tôi hoàn toàn không biết gì về cô cả. Thậm chí tôi còn chẳng quen biết cô. Cô hiểu chứ?”

Anh vội vã quay đi. “Đừng ở lại đây. Đừng nói chuyện với tôi nữa. Lại có kẻ trông thấy bây giờ.”

“Quay lại đây ngay!”

Anh khựng lại.

“Tôi đòi hỏi anh một lời hứa chắc như đinh đóng cột rằng nếu có dịp trò chuyện với cha tôi, anh sẽ không bao giờ nhắc đến tên tôi hay tìm cách lợi dụng cái sai lầm tồi tệ mà tôi đã mắc phải.”

“Tôi xin hứa bằng danh dự của mình,” anh nói, người thẳng đơ.

“Cảm ơn anh.”

“Và giờ khi tôi đã hứa rồi,” anh nói thêm, gương mặt sạm nắng bỗng đỏ bừng lên, “tôi muốn nói cho cô hay, thưa cô Marston, rằng cô đã sỉ nhục tôi một cách vô cớ. Tôi đoán mình chẳng phải loại quý ông lịch lãm gì cho cam như những kẻ cô thường giao du trong giới thượng lưu. Tôi chỉ là một thủy thủ. Nhưng tôi không phải là kẻ chuyên bép xép hay tống tiền. Tôi biết điều gì nên làm khi liên quan đến một người phụ nữ, và tôi sẽ làm điều đó mà chẳng cần phải bị ép buộc bằng bất kỳ lời thề thốt nào.” Anh cúi đầu rồi bước đi.

Cô ngước nhìn theo bóng anh, đôi mắt lóe lên một tia sáng kỳ lạ. “Cứ chờ đấy rồi biết tay tao, cái đồ to xác ngốc nghếch này!” cô lẩm bẩm.

Cô bước vào phòng chờ của dãy phòng làm việc thuộc công ty Marston & Waller, và được thông báo rằng cha cô đang bận họp hội đồng quản trị.

"Nhưng đó chỉ là một chút công việc thường kỳ thôi. Sẽ nhanh xong thôi, thưa tiểu thư Marston—nếu cô vui lòng chờ một lát."

Một lúc sau, mấy vị quý ông lần lượt lục đục bước ra, nhưng cô vẫn kiên nhẫn chờ tiếp.

“Hãy báo với cha tôi rằng tôi đang ở đây và sẽ vào trong ngay bây giờ,” cô ra lệnh cho người gác cửa.

Chưa kịp để người đưa tin quay lại thì Mayo đã bước vào, vẻ mặt đầy dè dặt. Anh định né tránh cô, nhưng cô đã sải bước tiến đến giáp mặt và đon đả cất lời với anh.

“Bây giờ khi tôi đã buộc anh phải thề danh dự rồi, tôi chẳng việc gì phải sợ anh đem chuyện của tôi ra bàn tính với cha tôi nữa. Đi theo tôi. Tôi sẽ dẫn anh vào gặp ông ấy. Rồi chúng ta sẽ sòng phẳng nợ nần với nhau.”

“Được thôi,” anh nhượng bộ. “Sau tất cả những gì tôi đã trải qua ở đây, tôi thấy việc này đổi chác cho việc kia cũng đáng.” Mayo lẽo đẽo bước theo cô và tiến vào Căn phòng quyền lực.

Julius Marston đang ở một mình, thủ thế sau chiếc bàn làm việc, ngự trị trên chiếc ngai vàng thương trường của lão; phần tựa ghế màu sẫm cao vượt lên trên đầu lão càng làm nổi bật bộ đồ xám ngắt cùng gương mặt lạnh lùng; trong mắt Mayo, kẻ đang khựng lại đầy cung kính ngay sát cửa ra vào, lão trông hệt như một bức bách họa nổi bật trên phông nền ấy—một thứ vô tri vô giác, không có nổi đôi tai để lắng nghe hay một trái tim để rủ lòng trắc ẩn.

Cô gái vội vã tiến đến chỗ lão, thu hút sự chú ý của cha mình cho đến khi đã ngồi gọn lên tay vịn chiếc ghế của lão. Lúc bấy giờ lão mới trông thấy Mayo, nhận ra anh và định đứng dậy, nhưng cô đã ấn lão ngồi xuống, hối thúc bằng một giọng điệu đầy nài nỉ.

“Cha phải nghe con nói đấy! Chuyện này nghiêm trọng lắm! Nó cực kỳ quan trọng!”

Lão khua tay tìm hàng nút bấm trên bàn làm việc, nhưng cô đã nhanh tay chặn lại.

Thuyền trưởng Mayo sải bước tiến lên, được vực dậy lòng dũng cảm bởi sự hy sinh quả quyết của cô gái nên anh quyết định sẽ tự mình lên tiếng.

“Không một lời nào hết! Không một lời nào sất! Thật là thứ ngông cuồng tột độ!” Marston lặp lại câu cuối nhiều lần với âm điệu ngày một gắt gỏng hơn. Lão đẩy con gái khỏi tay vịn ghế rồi chật vật đứng dậy. Chỉ có những biện pháp quyết liệt mới cứu vãn được tình thế lúc bấy giờ—và cô gái quá hiểu rõ người cha của mình! Cô lao ra đứng chắn giữa lão và chiếc bàn làm việc.

“Tốt nhất là cha nên nghe đi!” cô cảnh báo với giọng đầy kích động. “Cách đây mấy ngày, con đã trốn nhà đi để kết hôn đấy!”

Lão đứng sững sờ chết trân tại chỗ, và cô liền đưa tay đặt lên ngực cha, ấn lão ngã ngửa trở lại ghế.

“Nhưng đây không phải là người đó đâu, thưa cha!”

Marston đang định hít một hơi thật sâu để tuôn ra một tràng mắng mỏ cay nghiệt, nhưng tuyên bố cuối cùng đó đã tước đi toàn bộ khả năng ngôn ngữ của lão.

“Con đã cảnh báo là cha nên nghe mà!”

Vào khoảnh khắc đó, cô chi phối toàn bộ cục diện hệt như thể cô đang đứng giữa hai người đàn ông với một quả bom đã châm ngòi trên tay.

Mayo còn bị choáng váng nặng nề hơn cả vị tài phiệt. Anh nhận ra rằng việc cô ép anh thề non hẹn biển hóa ra chỉ là một thứ mưu mẹo; đôi mắt đắc thắng của cô lóe lên toàn bộ thông tin về vở kịch ấy. Cả cơn giận lẫn sự bối rối khiến anh không tài nào thốt lên được một lời tỉnh táo nào để đòi quyền lợi với Marston vào lúc đó. Anh quay người và định bước ra cửa.

“Giữ gã đó lại cho tôi, cha. Cha sẽ phải hối hận nếu để hắn đi đấy! Hắn phải ở lại đây!”

“Quay lại đây ngay!” Marston quát lên.

Mayo ngoái đầu nhìn lại.

Vị tài phiệt đang đứng sững với ngón tay đặt hờ trên nút chuông bấm. “Ta bảo quay lại cơ mà!”

“Tôi phản đối. Đây hoàn toàn không phải chuyện của tôi. Tôi có mặt ở đây vì mục đích khác chứ không phải để ngồi nghe chuyện gia đình riêng tư của con gái ông.”

“Cậu có chịu quay lại đây không,” người cha ra lệnh với giọng điệu đe dọa thấp trầm, “bằng không tôi sẽ tống cổ cậu vào tay cảnh sát liên bang ngay giây phút cậu bước chân ra khỏi cái cửa kia.”

Tự tức tối với chính cái mưu hèn kế bẩn của cô gái khó hiểu này, thuyền trưởng Mayo lững thững bước về phía bàn làm việc; lúc này anh chợt nhận ra việc rút chân khỏi văn phòng của Julius Marston khó khăn chẳng kém gì lúc tìm đường bước vào.

“Tôi chưa hề bén mảng tới đây nếu mơ tưởng rằng con gái ông lại kể cho ông nghe mấy chuyện này. Tôi đang rơi vào một tình huống tai bay vạ gió. Tôi yêu cầu ông cho phép tôi rời đi.”

“Cậu chỉ được phép rời đi khi tôi đã làm sáng tỏ mọi chuyện đến tận gốc rễ! Nào, Alma, trò điên rồ gì thế này hả?”

“Con không hề phản đối từ ngữ mà cha dùng để gọi nó đâu,” cô đáp, kiên quyết đối mặt với lão. “Con đã làm thế—và con chịu chẳng hiểu tại sao mình lại làm vậy nữa!”

“Làm cái gì cơ chứ?”

“Con đã bỏ trốn. Con làm thế chỉ vì đám bạn gái thách thức con. Con đã hứa sẽ kết hôn với một người đàn ông.”

“Gã này chứ gì?”

“Không. Con đã nói với cha đây không phải là người đó mà.”

“Thế rốt cuộc là ai?” Sự hoài nghi hòa lẫn trong cơn thịnh nộ của người cha.

“Một trong những cậu trẻ được cha tin dùng đấy ạ. Ngài Ralph Bradish.”

“Hai người gặp nhau ở đâu?”

“Tại các buổi khiêu vũ ạ.”

“Không lẽ ở nhà chúng ta?”

“Con chẳng hiểu sao cha lại chắc chắn đến thế,” cô đáp lại, phảng phất một chút trách móc đầy chua xót trong giọng điệu. “Cha đã bỏ mặc con thui thủi trong căn nhà đó kể từ ngày mẹ đi xa. Nhưng không phải ở nhà chúng ta đâu—mà ở các phòng khiêu vũ công cộng cơ.”

“Địa ngục bày tiệc âm nhạc chắc!” lão nghiến răng. “Lẽ ra tao phải nhận thức được rằng mày vẫn chỉ là một đứa trẻ ranh!”

“Không; ngày hôm nay con đã là một người phụ nữ thực thụ rồi. Con đã sống trọn cả một cuộc đời chỉ trong một đêm lênh đênh trên biển. Con biết mình có đủ lý do để khiến cha phải hổ thẹn. Nhưng con sẽ không bao giờ tái phạm để cha phải bẽ mặt thêm lần nào nữa. Giờ thì cha định nói gì với người đàn ông đã cứu mạng con—người đã làm được nhiều hơn thế? Anh ấy đã cứu con khỏi chính bản thân con!”

Marston nheo mắt dò xét Mayo. “Tôi vẫn chưa tài nào hiểu nổi chuyện này! Câu chuyện nghe vô lý hết chỗ nói.” Lão quay phắt sang con gái. “Gã này cứu mạng mày bằng cách nào? Khai mau và nói ngắn gọn thôi!”

Lão ngắt lời cô ngay giữa đoạn cao trào đầy hào hứng. Vừa rồi lão vừa lầm rầm càu nhàu vừa đăm đăm nhìn vào khoảng không vô định để suy ngẫm.

“Một câu chuyện cổ tích nhảm nhí!” lão lớn tiếng tuyên bố với vẻ đầy thiếu kiên nhẫn, dẫu trong sự số ruột đó vẫn lấp ló một chút giả tạo. “Tao sẽ vô cùng hổ thẹn về mày đấy, Alma, nếu mày thực sự bỏ trốn như cái cách mày đang cố tẩy não tao. Nhưng—”

“Cha không tin con sao?”

“Câm miệng! Nhưng cái trò dựng chuyện bịp bợm này quá ư lộ liễu. Mày vẫn đang diễn trò ngu ngốc để bao che cho kẻ này đấy thôi, cậu kia. Này anh bạn, hôm nay anh đến đây vì vụ án chiếc Montana phải không nào?”

“Đúng vậy, thưa ông.”

“Tôi biết ngay mà. Sao anh lại dám mặt dày chun vào cái xó xỉnh công việc đó sau khi tôi đã tống cổ anh khỏi con tàu Olenia hả?”

“Chẳng có cái trò chun vén nào ở đây cả! Tôi được thuê bởi ngài Fogg và tôi—”

“Anh cứ yên tâm là tôi không hề hay biết chuyện anh có mặt trên tàu Montana. Nhưng tôi không thể quản lý xuể mọi chi tiết lặt vặt trong công ty được. Chắc anh thừa nhận rằng mình đang là một kẻ trốn chạy pháp luật đấy chứ?”

“Tôi chỉ là kẻ thế thân cho đám chó chết chuyên làm việc bẩn thỉu cho ông thôi!”

“Thế là đủ rồi đấy! Tôi đang điều tra vụ này đây. Ngồi xuống cái ghế đó ngay!”

Mayo ngoan ngoãn vâng lời, bị xoa dịu đôi chút bởi lời đảm bảo vừa rồi.

“Alma, con về nhà ngay cho tao!”

“Con sẽ ở lại đây, thưa cha, cho đến khi thuyền trưởng Mayo—”

“Tao đã nghe đủ thứ dối trá phát ngấy từ nãy đến giờ rồi!” Câu đáp trả này làm cho cả hai kẻ đang lắng nghe phải sững sờ. “Tao nhìn thấu tâm can vụ này đến tận gốc rễ rồi. Tao thực sự kinh ngạc khi tụi mày nghĩ cái mớ văn chương rẻ tiền này có thể bịp bợm được tao dù chỉ một phút.” Lão vừa nhấn một trong mấy cái nút trên bàn. Lão bảo gã nhân viên vừa đẩy cửa bước vào: “Bảo ngài Bradish ra gặp tôi ngay lập tức. Hắn đang có mặt ở văn phòng đúng không?”

“Vâng, thưa ngài! Tôi sẽ đi gọi ngay.”

Mayo và cô gái đưa mắt nhìn nhau đầy ý nhị; họ đã gạt phăng ngài Bradish ra khỏi mọi tính toán; họ đã loại bỏ hắn ta khỏi tâm trí; chuyện hắn ta dám trơ trẽn xuất hiện trở lại tại văn phòng Marston & Waller thực sự là một tin động trời.

Marston tóm lấy cánh tay con gái kéo xềnh xệch về phía cửa. “Tao bảo mày cút về nhà cơ mà!” lão hét lên giận dữ, chặn đứng mọi lời phản kháng. “Không, mày phải biến qua cái cửa bên hông này. Tao không tin dù chỉ một câu nửa lời mày vừa xạo ke đâu. Tất cả chỉ là một màn kịch lố bịch nhằm tiếp tục cái thói dại dột của mày thôi. Từ nay trở đi tao sẽ biết cách trông chừng cái thói hư tật xấu của mày!” Lão đóng sầm cửa lại sau lưng cô rồi khóa trái bên ngoài.

“Tôi xin thề mọi chuyện hoàn toàn là sự thật, thưa ông,” Mayo nài nỉ. “Tôi không hề có ý định lừa phỉnh ông qua con gái ông. Tôi chẳng hề hay biết những gì cô ấy định nói. Tôi chỉ muốn đòi lại quyền lợi của một người đàn ông bị chơi xỏ, bị hãm hại—”

Ngài Bradish xuất hiện, cúi đầu chào cung kính. Trông hắn một lần nữa lại hòa mình hoàn hảo vào cỗ máy trơn tru của văn phòng Marston & Waller. Hắn ta trông thật nhợt nhạt, bình thản, lạnh lùng, điềm tĩnh tiết chế mọi cảm xúc đúng như tiêu chuẩn đào tạo dành cho nhân viên của Julius Marston.

“Anh đã từng trông thấy gã này bao giờ chưa? Chắc chắn là chưa rồi còn gì!” vị tài phiệt hướng dẫn.

“Tôi chưa từng gặp hắn bao giờ, thưa ngài.”

“Dĩ nhiên rồi! Anh có gì để nói về cái câu chuyện lố bịch, nhảm nhí rằng anh đã mưu toan bỏ trốn cùng con gái tôi không?”

Chẳng thèm nháy lấy một cái mí mắt, kẻ chuyên bút sa gà chết với những tấm séc triệu đô hoàn toàn không lộ chút bối rối nào.

“Nếu một lời dối trá như thế đòi hỏi sự phủ nhận từ tôi thì tôi xin khẳng định là tôi hoàn toàn phủ nhận nó, thưa ngài.”

“Đồ phản bội rẻ tiền!” vị thuyền trưởng gầm lên.

“Thế là đủ rồi đấy, ngài Bradish!”

Gã nhân viên tuân lệnh cái phất tay của ông chủ và lủi thủi lui ra nhanh chóng.

“Ngài Marston,” Mayo điên cuồng gào lên, “tôi đang chiến đấu vì tất cả những gì đáng giá nhất trong cuộc đời mình. Uy tín của một thuyền trưởng tài ba, cơ hội kiếm sống bằng nghề nghiệp của tôi. Tôi đã là một thằng ngốc trên con thuyền của ông! Tôi thành tâm hối cải bằng tất cả tâm can. Tôi sẽ—”

“Đủ lắm rồi! Cậu dám bén mảng bàn tán về con gái tôi với tôi cơ à!”

“Tôi không hề có ý đó, thưa ông. Tôi vẫn đinh ninh rằng ông không hề hay biết những gì bọn tay chân dưới quyền đã gây ra cho tôi. Ông chỉ nhìn thấy kết quả cuối cùng. Nhưng hãy tìm hiểu xem những gì đang được thực hiện dưới chính danh nghĩa của ông đi, ngài Marston. Sẽ có ngày ông phải gánh hậu quả tai hại nếu không chịu chặn đứng bọn chúng lại đấy.”

“Cậu đang đe dọa tôi đấy phỏng?”

“Đó chỉ là tiếng kêu cứu công lý của tôi thôi. Lạy Chúa, thưa ông—”

“Công lý đang chờ sẵn cậu ở ngoài kia kìa.”

“Vậy thì gọi đám cảnh sát trưởng của ông ra đi. Cứ lôi cổ tôi ra tòa đi! Cái miệng của tên Bradish bây giờ có thể đang ngậm tăm, nhưng nó đã từng khai tá lả rồi đấy. Tôi thừa biết những gì đã được giở trò với tôi. Cứ để họ đẩy tôi lên bục khai báo xem. Ông chẳng dám để tôi đường hoàng đứng trước tòa và vạch trần những gì tôi biết đâu.”

“Cậu tưởng tôi là kẻ thao túng cả các tòa án liên bang đấy phỏng?”

“Tốt hơn hết là ông nên tự kiểm tra xem mình có quyền lực đó hay không đi. Vẫn có những con người trên thế giới này sẵn sàng tin tưởng vào câu chuyện chân thực của một người trung thực đấy!”

“Xin tiễn!” ngài Marston lạnh lùng thốt lên hàm ý đuổi khách.

Mayo ngập ngừng, đăm đăm nhìn vào gương mặt vô cảm của vị tài phiệt, rồi nhận thức rõ ràng về sự vô ích của mọi tranh cãi bỗng dội xuống đè bẹp anh. Anh quay người bước ra cửa.

“Vẫn có những việc thực tế có thể làm được đấy,” Marston gọi với theo lưng anh. “Cậu tốt nhất nên xéo khỏi New York đi. Nếu còn biết chỗ nào để chui rúc thì lo mà trốn kỹ vào.”

Mayo chẳng thèm đáp lại. Anh sải bước rảo qua các phòng làm việc, tụt xuống đường phố rồi cứ thế tiếp tục hành trình của mình.

Anh chẳng buồn để ý rằng có một chiếc xe hơi đang bám đuôi theo mình giữa dòng giao thông gầm rú trên phố, rồi tạt đầu dừng lại ngay phía trước khi anh vừa rẽ vào một con đường yên tĩnh hơn.

Chiếc xe dừng sát mép lề đường, và Alma Marston vươn tay ra hiệu gọi anh. “Ông ấy không cho anh chút hy vọng nào—chẳng có gì sất sao?”

“Không gì cả!”

“Em đã đợi. Em cứ nghĩ sẽ đề nghị anh ghé lại để nói chuyện với em.”

Anh lắc đầu.

“Có lẽ mọi chuyện cứ thế này lại hay hơn! Chẳng còn mấy thứ để bàn nữa đâu—tính đến lúc này!” Cô nhoài người qua mạn chiếc xe mui trần và tiếng ồn ào của xe cộ đủ giúp cô trò chuyện mà không sợ lọt vào tai gã tài xế nhiều chuyện. “Em không còn xứng đáng với những suy nghĩ hay sự tin tưởng của anh sau chuyện này nữa đâu, Boyd. Hôm qua em thế nào thì hôm nay không còn thế nữa; em đã nói với anh rồi mà. Không, đừng nói gì thêm nữa! Bây giờ em thừa biết rằng trước kia mình chỉ đang đùa giỡn với tình yêu. Em không thể gọi tên thứ cảm xúc em dành cho anh lúc này là gì nữa; trong quá khứ em đã lăng mạ hai chữ ‘tình yêu’ quá nhiều rồi. Em sẽ chẳng thèm bàn gì về nó nữa đâu. Liệu việc anh từng làm đắm tàu, sắp phải vào tù vì tội giết người như mấy tờ báo bóng gió có là cái cớ cho em không? Không, chẳng đời nào! Nhưng em đã tự cho phép mình biến nó thành cái cớ để dấn thân vào mấy trò điên rồ.”

“Cô chẳng biết thế nào là tình yêu đâu,” anh khẳng định. Giữa lúc sự suy đồi đang đè nặng trong đau khổ, anh chẳng màng màng đến những tình cảm ủy mị. Nhưng anh cũng chẳng dám ngước lên nhìn cô.

“Em đã không biết thật! Nhưng có lẽ đến một ngày nào đó em sẽ chứng minh cho anh thấy là giờ đây em đã hiểu,” cô nhún nhường đáp lời. “Đó sẽ là ngày em trao cho anh những bằng chứng chống lại bọn chúng—những kẻ đã tâm tối hủy hoại anh. Em đang nằm vùng ngay trong sào huyệt của kẻ thù anh đây, Boyd, và em sẽ giao cho anh những bằng chứng đó—thậm chí chống lại cả cha ruột mình nếu ông ấy nhúng chàm. Chỉ vậy thôi! Hãy chờ thêm chút thời gian nữa nhé. Nhưng trong lúc anh đang bươn chải, em mong là việc biết rằng em đang âm thầm chiến đấu vì anh sẽ tiếp thêm cho anh chút ít dũng khí!” Cô vỗ nhẹ lên má anh. “Lái đi thôi!” cô gọi tài xế.

Chiếc xe chồm tới trước và khuất lẫn vào dòng xe cộ đang gầm rú xuôi về phía thành phố Babylon hiện đại.

Hoàn toàn mất đi khả năng tự phân tích bản thân, chẳng thể thấu suốt những ngóc ngách sâu thẳm trong tâm hồn vào thời khắc khủng hoảng đó, anh cứ thế lầm lũi bước đi.

Một lúc sau, gần như hành động hoàn toàn vô thức theo bản năng, anh thấy mình đã đứng trước một văn phòng tàu thủy để mua vé. Anh đang quay trở lại chốn thâm sơn cùng cốc Maquoit. Nhưng anh thừa ý thức rõ ràng rằng mình không hề tuân theo lời dặn dò của Julius Marston là hãy đi trốn thật kỹ. Một tình cảm sâu sắc hơn đang lôi kéo anh về. Anh biết nơi nào vẫn tồn tại niềm tin mộc mạc và sự gắn bó dành cho mình, và anh đang khao khát cái sự xoa dịu ấy. Vẫn có những con người bình dị ở Maquoit sẵn sàng chào đón anh trở về.

“Ta sẽ quay về—ta sẽ về nhà,” anh lẩm bẩm. Có lẽ đã từng có lúc anh sẽ phì cười trước ý nghĩ rằng có ngày mình lại gọi cái thuộc địa Hue and Cry đó là “nhà”.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.