Mùa xuân tháng ba, Sái Trạch từ đất Thục trở về Hàm Dương, tâm tư vốn đang phấn chấn bỗng chốc trầm xuống.
Đêm về đến kinh đô, Sái Trạch vừa xuống xe đã sai chủ thư lập tức đem bản tấu chương dạng thẻ tre bí mật soạn dọc đường phi ngựa ngày đêm đưa vào vương cung. Trong tấu chương dùng hơn hai trăm thẻ tre này, Sái Trạch đã bẩm báo đúng sự thật những đổi thay to lớn ở hai quận Ba Thục dưới sự cai quản của Lý Băng. Những điều khiến người ta phấn chấn chỉ thu gọn trong hai mươi bốn chữ: "Nước lụt đã yên, thủy lợi đại hưng, đất Thục phú quý, gần như thiên phủ, bách tính sung túc, có thể làm nền tảng!" Nếu chỉ là một tin mừng như vậy, Sái Trạch đã không vội vã dâng sớ, mấu chốt là bản tấu chương này báo cáo một việc lớn đang cần định đoạt – nước Sở đang mưu chiếm Di Lăng, nhân đó ngược dòng sông Tây tiến chiếm lấy Ba Thục, Lý Băng thiết tha thỉnh cầu lấy một vạn quân Tần đang trú đóng ở đất Thục làm nền tảng, mở rộng quân quận lên năm vạn, một mình gánh vác một phía để chống lại nước Sở, tránh việc chủ lực quân Tần ở xa không cứu kịp khiến kho lương sung túc rơi vào tay địch!
Theo pháp độ nước Tần: Đại quân trực thuộc quốc phủ, quận huyện không được thành quân. Lý Băng muốn lập quân của quận, lại là thủy quân chỉ đóng ở các yếu ẩm phòng thủ sông ngòi quận Ba mà chẳng có công trạng gì lớn với đại cục Trung Nguyên, Sái Trạch làm sao có thể tự mình quyết định? Thế nhưng vì đại cục nước Tần mà tính, chủ trương của Lý Băng quả thực là mưu lược lâu dài để đảm bảo an toàn cho Ba Thục, với tư cách là phong quân kiêm thừa tướng, Sái Trạch thật sự không có lý do gì để không ủng hộ. Suy nghĩ đắn đo hồi lâu, Sái Trạch cuối cùng cũng đập bàn quả quyết trong bữa yến tiệc tiễn biệt: "Quận thủ không né tránh điều kiêng kỵ, Sái Trạch sao có thể thấy khó mà lui được! Lão phu xin phụ họa mưu kế của ngươi, đồng thời dâng sớ lên Tần vương định đoạt!"
Lý Băng không khỏi chấn động động dung, đối diện với Sái Trạch vái dài một cái: "Cương Thành Quân dám gánh vác nghị luận trái phép, đó là phúc của Ba Thục, cũng là phúc của đại Tần!"
Nếu không phải vì thế, Sái Trạch vốn từ xưa cực kỳ ưa thích du lịch đã không phải chắt chiu từng chút thời gian vụn vặt lúc nấu ăn dọc đường và dựng lều ngủ đêm để viết ra bản tấu chương này. Dẫu sao, mưu hoạch này có liên quan quá mức trọng đại, nếu được thi công, ảnh hưởng đối với pháp độ nước Tần cũng là vô cùng sâu xa. Dựa theo truyền thống xử lý chính vụ nhanh chóng của nước Tần, cùng với sự quan tâm sâu sắc của lão Tần vương đối với hai quận Ba Thục, Sái Trạch cho rằng thế nào ngài cũng sẽ ban chiếu triệu hắn nhập cung trong đêm, để bẩm báo chi tiết và thương thảo đối sách.
Nào ngờ đâu, Sái Trạch tắm gội thay y phục dùng cơm xong xuôi mà vẫn không có hồi âm, đội mão canh giữ ở thư phòng đến canh năm, vẫn không có hồi âm.
Cho đến tận sáng hôm sau, chủ thư tuân theo dặn dò của Sái Trạch canh chừng ở phòng dài sử chờ vương mệnh lúc này mới khoác đầy sương giá vội vã trở về phủ.
"Vương mệnh thế nào?" Sái Trạch đột ngột đứng phắt dậy.
"Trường sử đêm qua vào vương thư phòng, liền không đi ra. Cho đến sáng sớm nội thị mới truyền lời, bảo đừng chờ nữa."
"Không có lời gì khác sao?"
"Không có."
Hơn một tháng bôn ba nhọc nhằn dãi nắng dầm sương, Sái Trạch vốn dĩ đã mệt mỏi đến mức lưng mỏi gối chồn hoa mắt chóng mặt, nghe được câu này, một cái ngáp còn chưa đánh xong, liền ngả ngửa nằm vật xuống chiếc án thư dài rộng, đống thẻ tre chất cao như núi trên khắp mặt án lập tức ào ào đè lên người hắn. Chủ thư vội vàng sải bước chạy tới, thì Sái Trạch đã ngáy khò khò những tiếng to và nặng.
Mặt trời đỏ chiếu qua cửa sổ, Sái Trạch cuối cùng cũng tỉnh lại, câu nói đầu tiên khi mở đôi mắt già nua còn ngái ngủ là: "Mấy thời gian rồi?"
Đứa hầu gái cạnh giường đáp: "Hai ngày hai đêm, trời vừa sáng."
Lời chưa dứt, Sái Trạch đã để chân trần lao ra khỏi màn giường lớn gào lớn: "Một đám phế vật! Vương mệnh triệu gọi mà không đánh thức lão phu!"
Hứa hầu gái cuống cuồng dùng một chiếc đại bào tơ lụa quấn lấy hắn nói: "Đại nhân chớ vội, vương mệnh triệu gọi, chúng ta há dám giấu giếm?"
Sái Trạch chợt trợn trừng hai mắt: "Ngươi nói, không có vương mệnh?"
"Không có." Hứa hầu gái nghiêm túc lắc đầu.
"Thật vô lý! Lão phu không tin!" Sái Trạch vung tay hất văng hầu gái, "Gọi chủ thư! Gọi gia lão! Kẻ nào dám đem lão phu ra làm trò đùa, liền lột da kẻ đó!"
Trong chớp mắt, chủ thư và gia lão vội vã chạy đến tựa gió cuốn. Sau một hồi đối đáp, trước mắt Sái Trạch tức thì tối sầm một một mảng, không phân biệt nổi là do ghèn dính hay mây mù che phủ, miệng thốt lên một tiếng "Hừ!" rồi khoa tay múa chân: "Trời tối rồi! Mau! Thiên cẩu thực nhật! Đánh trống khua chuông, xua đuổi thiên cẩu... Các ngươi, sao còn không động đậy?"
Đại sảnh chợt chìm vào tĩnh lặng, bọn gia nhân thư lại ngẩn người trố mắt!
"Chủ đông!" Gia lão đi theo Sái Trạch từ nước Yên vào nước Tần kêu lên một tiếng thất thanh rồi lao tới ôm lấy Sái Trạch đặt vào trong màn giường, quay người cất tiếng khóc lớn quát tháo, "Mau! Mời thái y!"
Khoảng thời gian một bữa cơm, thái y lệnh tự mình dẫn theo một vị lão thái y giỏi chữa các bệnh về mắt đã đến nơi. Sau một hồi vọng, văn, vấn, thiết, lão thái y nói: "Cấp hỏa công tâm, mây mù che mắt, mà dẫn đến mù lòa tạm thời, sau khi uống thuốc tĩnh tâm nghỉ ngơi mấy ngày tự khắc sẽ khá hơn. Chỉ là thị lực sau này sẽ bị tổn hại, Cương Thành Quân cần phải chú ý điều dưỡng mới được."
Sái Trạch dài giọng thở dài, nước mắt già giàn giụa, nhưng lại đến một câu cũng không thốt ra được.
Lúc chập tối, gia lão cẩn thận dè dặt đến bẩm báo: "Lão thái tử Doanh Trụ đến thăm, chủ đông vẫn chưa bỏ thuốc ở mắt, lão phu muốn từ chối thay ngài, không biết có được không?"
Sái Trạch lầm bầm một câu hồ đồ, giật phăng miếng vải thuốc băng trên mắt rồi lật mình xuống giường lảo đảo đi ra tiền sảnh.
"Cương Thành Quân!" Doanh Trụ đang đi vòng quanh trong sảnh, vừa thấy Sái Trạch râu tóc xù xơ y phục mỏng manh hai tay vẫn đang sờ soạng bước tới, không khỏi kêu lên một tiếng kinh ngạc rồi sải bước tới đỡ lấy Sái Trạch, đang định lấy chiếc đại bào da cáo của mình khoác lên người Sái Trạch, thì thấy một hầu gái đang ôm áo da và gậy trúc vội vã chạy tới, bèn đỡ Sái Trạch ngồi xuống chiếc giường nhỏ. Đợi hầu gái hầu hạ Sái Trạch mặc xong y phục, một hầu gái khác cũng đã nhóm lò sưởi cho bén lửa và đun nước pha trà xong xuôi, lúc này Doanh Trụ mới ngồi xuống bên cạnh Sái Trạch, chưa cất lời đã là một tiếng thở dài.
"An Quốc Quân thở dài vì chuyện gì?" Sái Trạch lạnh lùng hỏi một câu.
"Mở mắt mà không thể nhìn thấy mặt trời, há chẳng phải bi ai lắm sao!"
"An Quốc Quân đang nói lão phu đấy ư?"
"Cương Thành Quân mù mắt vẫn còn có thể chữa, còn Doanh Trụ đây tâm trí u muội, lấy gì chữa đây!"
“Thái tử kiêm lãnh thừa tướng phủ, thân ở chốn trung sô, sao lại tâm trí u muội?”
“Con quay chịu roi, mờ mịt quay cuồng, thân bất do kỷ, lòng há có sáng?”
Gậy trúc của Sái Trạch nện 'pập' một tiếng xuống đất, nhưng đột nhiên hạ thấp giọng xuống: “An Quốc Quân cũng không gặp được lão vương ư?”
“Thật là một lời khó nói hết!” Doanh Trụ nhíu chặt mày, khuôn mặt trắng bệu bị ánh lửa từ lò sưởi chiếu vào đỏ bừng, “Đêm Cương Thành Quân dâng sớ, ta liền bị triệu gấp vào cung. Phụ vương nửa nằm trên giường, bảo trường sử giao cho ta một cuộn thư giản. Ta vừa đọc xong, cảm sâu sắc sự tình khẩn cấp, liền đương thời kiến nghị: Việc liên quan đến pháp độ đại Tần, nên trước tiên thương nghị với Cương Thành Quân cùng một bấy đại thần, rồi sau đó giao cho triều hội đại điển đầu xuân quyết định. Nào ngờ phụ vương một câu cũng không nói, phất phất tay liền để ta lui ra. Lui thì lui, nào ngờ ta còn chưa kịp ra khỏi cửa cung, lão nội thị lại đuổi theo mời ta quay về cung, chờ đợi bên ngoài vương thư phòng. Cứ đợi mãi cho đến tận sáng hôm sau trời quang mây tạnh, lão nội thị lại đi ra nói bảo ta về phủ chờ triệu kiến. Về phủ ba ngày, khắc khắc trong lòng không dám yên giấc, thế nhưng chẳng đợi được chút âm tín nào. Cương Thành Quân hãy nói xem, sự tình lớn nhường này, ta đường đường là một vị phong quân thái tử kiêm lãnh thừa tướng phủ vậy mà giống như ở trong sương mù năm dặm, ngay cả đến thăm Cương Thành Quân cũng mang nặng một nỗi lòng, chỉ sợ đột ngột có chiếu triệu. Chấp chính mà thế này, há chẳng phải là một con quay bằng gỗ hay sao!”
Lắng nghe thật kỹ, tảng đá trong lòng Sái Trạch lập tức rơi xuống đất. Điều hắn vốn lo lắng trước đó, chỉ sợ lão Tần vương bỏ qua mình, tự quyết định việc này cùng thái tử và các nguyên lão nước Tần. Nếu quả thật như vậy, thì đó chính là ngày tận thế rồi. Bản thân hắn một mình đơn độc vào nước Tần, dùng tài năng kinh tế để nắm giữ thừa tướng, thế nhưng lại vừa vặn gặp phải thời kỳ cuối triều chính của lão Tần vương, việc nước vô cùng mờ mịt khó lường. Công trình thủy lợi làm giàu dân chúng ở vùng bụng địa nước Tần liên tục bị nhiễu loạn bởi chính sự mà không thể khởi công, tài năng kinh tế của hắn không những không thể vẫy vùng một cách sảng khoái thỏa chí, mà còn phải chật vật xoay xở trong sở trường của người khác – đó là sự luồn lụy quyền lực. Nhiều năm không có công lao, chuốc lấy cái danh thừa tướng tầm thường, lại bị Doanh Trụ lão thái tử này “kiêm lãnh” mất! Tước vị phong quân hư danh ở vị trí cao mà lại mất đi thực quyền ở thừa tướng phủ, đối với một đại thần đương triều mà nói thì đó chính là nguy cơ đích thực! Vào lúc này, Sái Trạch vì để vãn hồi cục diện suy vi, mới có hành động quả quyết đi sứ Ba Thục phụ họa theo Lý Băng. Mưu hoạch của Sái Trạch là: Lão Tần vương nếu thương nghị với mình mà chấp nhận chủ trương này, thì bản thân hắn sẽ có công định cõi an bang, có thể đứng vững chân trong thời kỳ giao thay cũ mới; nếu lão Tần vương không thu nhận chủ trương này, thì đó chính là thời điểm hắn cáo lão lui về ở ẩn; nếu lão Tần vương bỏ qua hắn mà tự quyết định với các nguyên lão Doanh Tần, thì dù thu nhận hay không thu nhận, cũng đều là ngày tàn trên quan lộ của hắn. Chính vì thế, ba ngày không nghe thấy Tần vương triệu gọi, Sái Trạch mới tức đến mức thoáng chốc mù lòa! Bây giờ nghe Doanh Trụ nói vậy, Sái Trạch sao có thể không thấy nhẹ nhõm trút được gánh nặng?
“Thân phận con quay, chung quy cũng có kỳ hạn, có gì mà phải lo lắng chứ?” Lòng nhẹ nhõm, Sái Trạch tức thì hoạt bát trở lại.
“Ta dẫu không lo, Lý Băng tính sao đây? Chẳng lẽ phải đợi đến ngày Ba Thục thất thủ, chúng ta mới lên tiếng sao!”
“Ý của thái tử là, thúc đẩy Tần vương quyết đoán?”
“Đúng vậy!” Doanh Trụ đập bàn đứng dậy, “Quân nếu sợ khó, ta tự mình gánh vác!”
Sái Trạch cười ha hả: “Ngươi hãy nói trước một cái lý do xin yết kiến đi. Bằng không, không thể vào cung thì cũng là uổng công.”
“Nước Sở mưu đồ Ba Thục! Chẳng lẽ còn có lý do nào lớn hơn việc này nữa ư?” Doanh Trụ mặt mày đỏ bừng.
“An Quốc Quân chớ vội nóng nảy.” Sái Trạch chống gậy trúc đứng lên, “Lão vương tuổi già chính sự khác xưa lắm rồi. Một là, lão vương đã biết việc này, không quyết đoán chưa chắc đã không suy nghĩ, suy nghĩ chưa định, chúng ta dùng việc này để xin yết kiến, chính là tự chuốc lấy sự tẻ nhạt. Hai là, tâm ý của lão vương, không nằm ở chỗ này, chỉ sợ có gặp thì cũng là tâm trí để đi đâu chứ không màng tới.”
“Lạ thật!” Doanh Trụ cười mỉa mai, “Lòng vua không ở chỗ sự an nguy của bang quốc, thì ở chỗ nào?”
“Vua lúc tuổi già chính sự, đại khái không phải người thường. An Quốc Quân thực sự không biết sao?”
“Theo ý ngươi, vẫn là việc lập đích tử ư?”
“Muôn sự vô vàn, chỉ có việc này là lớn nhất.” Sái Trạch thảnh thơi cười.
“Nói như vậy, việc Ba Thục đành gác lại ư?”
“Không phải.” Sái Trạch cười đầy vẻ bí hiểm, hạ thấp giọng lầm bầm một hồi.
“Cũng được.” Doanh Trụ cười khổ, “Thành hay không thành, đành phó mặc cho trời định vậy.”
Sái Trạch thấy Doanh Trụ tán thành, vô cùng khoan khoái, liền gọi ngay chủ thư đến dặn dò một trận, chủ thư liền hân hoan rời đi. Doanh Trụ lại bán tín bán nghi, mặt ủ mày ê định cáo từ về phủ. Sái Trạch nổi hứng, kiên quyết đòi đấu một ván cờ vây với Doanh Trụ để đợi tin tức tại chỗ. Doanh Trụ cười nói: “Đợi thì cứ đợi, bệnh đau mắt của Cương Thành Quân vẫn chưa lành hẳn, đấu cờ thì miễn đi cũng được.” Sái Trạch lại giậm gậy trúc liên tục phân phó bày cờ. Chẳng mấy chốc bộ cờ đã được bày xong, Sái Trạch chỉ tay bảo hầu gái: “Lão phu ra lệnh, ngươi chỉ việc bày quân là được.” Doanh Trụ kinh ngạc cười nói: “Cương Thành Quân có thể chơi cờ mù sao?” Sái Trạch cười ha hả: “Ngươi chỉ thắng được một nửa quân cờ, thì đã được coi là cao thủ rồi.” Doanh Trụ cảm thấy vô cùng mới lạ, lập tức ngồi xuống tung quân cờ: “Bốn bốn bên trái!” Sái Trạch thảnh thơi nhón gậy trúc: “Ba ba bên phải!” Hai người liền hừng hực khí thế chém giết lẫn nhau.
Quân cờ vừa đánh qua một trăm nước, chủ thư đã vội vã bước vào sảnh: “Bẩm báo Cương Thành Quân: Mật kiện vừa dâng lên được chốc lát, trường sử liền đi ra tuyên chiếu: ‘Giao cho Cương Thành Quân Sái Trạch cùng thái tử Doanh Trụ, lập tức nhập cung.’”
Doanh Trụ vừa kinh ngạc vừa vui mừng, đẩy hộp cờ đứng phắt dậy chắp tay: “Cương Thành Quân liệu sự như thần, Doanh Trụ xin khâm phục!”
Sái Trạch xua xua tay cười bí hiểm: “Việc ứng đối thế nào, lại ở chỗ An Quốc Quân rồi.”
Doanh Trụ quả quyết nói: “Ở vị trí nào, nói việc ấy, cần gì phải nói nhiều!”
Trong lúc nói chuyện hầu gái đã chỉnh tề mão đai cho Sái Trạch, hai người liền bước ra khỏi sảnh lên xe ngựa hướng về vương cung mà đi.
Từ khi Tần Chiêu Vương bị trúng gió không thể di chuyển, Hàm Dương cung liền giới nghiêm vô cùng. Xe mành đen vừa tiến vào đại đạo Chính Dương hướng Bắc là phải kìm cương cho ngựa đi chậm, mới đi vỏn vẹn hai dặm mà đã có tới ba trạm kiểm tra chiếu thân lệnh tiễn gọi là “nhai quan”. Doanh Trụ phiền lòng không chịu nổi, mấy lần muốn phát tác đều bị Sái Trạch liên tục kéo tay áo ngăn lại. Đến cách cửa chính vương cung tầm trăm bước, xe mành đen liền bị vệ sĩ chặn lại, nói là chỉ có thể đỗ xe ở cửa cung rồi đi bộ vào trong. Doanh Trụ rốt cuộc không nén nổi nữa, bước một bước ra khỏi cửa xe liền lớn tiếng quát mắng: “Thật vô lý! Vương cung đại Tần từ khi nào có chuyện đỗ xe bên ngoài cửa cung? Bổn thái tử có quốc vụ khẩn cấp, cứ nhất định phải đánh xe vào cung, kẻ nào dám ngăn cản!”
Một vị tướng quân mang kiếm sải bước chạy tới chắp tay: “Chúng tôi vừa phụng tướng lệnh: Sau canh ba cấm xe ngựa vào cung. Kính xin thái tử không được vượt quá pháp độ.”
Doanh Trụ lại chuẩn bị phát tác, Sái Trạch lắc lư cái dáng đi lắc la lắc lư qua kéo áo Doanh Trụ cười nói: “Gió xuân dịu ngọt, tản bộ vừa vặn lắm thay, đi thôi!” Nói rồi không cho phân trần kéo Doanh Trụ đi thẳng.
Bước vào trong cửa cung, chỉ thấy bãi xe ngựa rộng lớn trống hoác gió quét lá rụng như một thung lũng u tịch, Doanh Trụ không khỏi cảm khái: “Từ khi tiên tổ Hiếu Công dời đô về Hàm Dương, thành cung này chưa bao giờ là xe ngựa ngừng suốt ngày đêm. Từ thuở nào mà lại trở nên tiêu điều thế này cơ chứ!”
Sái Trạch hạ giọng nói: “Thái tử nếu muốn làm nên chuyện lớn, thì xin hãy câm miệng!”
Doanh Trụ thở dài một tiếng thật dài, từ đó không nói thêm gì nữa, chỉ lủi thủi lặng lẽ đi theo Sái Trạch bước lên những bậc thềm ngọc trắng cao ngút.
Dưới hành lang đại điện quả nhiên có một vị lão nội thị đang đứng chờ, dẫn hai người vòng vèo qua mấy khúc hành lang xuyên qua đại sảnh rồi đến bên ngoài vương thư phòng.
Lão nội thị khẽ ho nhẹ một tiếng, cửa lớn thư phòng vô thanh vô tức trượt mở, lão trường sử Hoàn Lịch bước nhẹ ra phất tay một cái, liền dẫn hai người đi vào một đường hầm dài.
Sái Trạch nhớ rất rõ, đường hầm này vốn dĩ là hai đầu thông gió ở giữa không hề có vật gì che chắn, nay không những hai đầu bị bịt kín, mà ngay cả bức tường lớn ở giữa đường hầm cũng được khoét âm vào ba gian phòng tối, trong mỗi gian phòng đều đứng bốn tên kiếm sĩ mặc thường phục. Bên ngoài cánh cửa ở tận cùng đường hầm, cũng đứng bốn tên nội thị trẻ tuổi tráng kiện ánh mắt sắc bén.
“Tinh thần của đại vương thế nào?” Sái Trạch hạ giọng hỏi một câu bên tai trường sử Hoàn Lịch.
Lão Hoàn Lịch lại giống như điếc không nghe thấy gì, đẩy cửa thư phòng rồi bước thẳng vào.
Lại qua hai lớp cửa chắn bằng bình phong gỗ, đi đến đại sảnh rộng rãi và ấm áp, lão Hoàn Lịch cúi mình cất cao giọng: “Khẩm bẩm đại vương: Cương Thành Quân, An Quốc Quân phụng chiếu yết kiến!”
Phía sau tấm màn che chính diện vang lên một tiếng ho già nua, Hoàn Lịch bèn quay người lại nói: “Cương Thành Quân, An Quốc Quân, mời vào đây ngồi ghế.”
Hai chiếc bàn ngồi được bày cách phía trước tấm màn lớn màu trắng ba bước. Đợi hai người ngồi xuống, một lão nội thị tiến lên nhẹ nhàng kéo tấm màn che chạm đất ra, lúc này chỉ còn lại một lớp màn sa mỏng manh tựa cánh ve rủ xuống cách đó ba bước. Phía bên trong màn sa, chiếc giường nằm to lớn thấp thoáng có thể nhìn thấy, một mái đầu bạc phơ lớn tựa vào chiếc gối lớn vậy mà hoàn toàn không có chút động tĩnh nào; phía trước giường nằm áp sát vào một chiếc bàn dài lớn có chiều cao bằng chiếc giường, hai đầu bàn được xếp ngay ngắn hai chồng sách thẻ tre, ở chính giữa lại là một chiếc rương mây cũ kỹ cùng với vài cuộn thẻ tre cũng cũ kỹ không kém.
Bất thình lình, bên trong màn sa vang lên giọng nói già nua đứt quãng, nhưng thực sự quá mơ hồ rất khó nghe cho rõ.
Đúng lúc hai người đang bối rối, một vị trung niên nội thị đang quỳ trước giường bỗng cất cao giọng nói: “Đại vương nói: Sái Trạch trả lời, ‘Chất Tri đại sự lục’ đi theo con đường nào để vào nước Tần?”
“Thần bẩm đại vương,” Sái Trạch liếc mắt nhìn khóe mắt, thấy lão trường sử Hoàn Lịch đã bắt đầu ghi chép bên bàn, liền biết Tần Chiêu Vương tuy nói khó khăn tai nghễnh ngãng, nhưng trong lòng lại rất minh mẫn không hề lú lẫn, chỉ riêng câu hỏi đầu tiên này đã chém thẳng vào chỗ hiểm, lập tức thu lại tâm thần chắp tay cất cao giọng nói, “Bản thẻ tre này do mật sứ của Lã Bất Vi đưa tới, lão thần chỉ tuân theo vương mệnh, ở giữa làm cầu nối liên lạc mà thôi.”
“Đại vương nói: Ý kiến của Cương Thành Quân, bản thư lục này là thật hay giả?”
“Thần bẩm đại vương: Đại sự lục này rất khó làm giả. Căn cứ có ba: Thứ nhất, ty thám sự của hành nhân thự đã bí mật liên thông với lão nội thị, lão hầu gái tùy tùng của công tử Dị Nhân, tra rõ công tử Dị Nhân làm con tin ở nước Triệu mấy năm, mỗi tối nhất định ghi chép sự việc rồi mới đi ngủ; Thứ hai, Lã Bất Vi là một thương nhân nghĩa hiệp rất có uy tín của thương gia vùng Sơn Đông, phò tá công tử, thay mặt truyền đạt, dọc đường không có sai sót; Thứ trí, những năm gần đây công tử giao du với giới sĩ lâm Hàm Đàm, tiếng tăm tài năng nổi như cồn, thần cũng từng nghe thấy. Theo lẽ thường suy đoán, tài lực của hắn ắt hẳn đảm đương nổi.”
Trong màn im lặng một lát, lại vang lên một thứ âm thanh khàn khàn mơ hồ, nội thị quỳ phục bên mép giường quay người cất cao giọng: “Đại vương nói: Doanh Trụ nói xem, tài năng của đứa trẻ này thế nào?”
“Khẩm bẩm phụ vương,” Doanh Trụ nín hơi ho khan một tiếng, dè dặt nói, “Dị Nhân khi sang nước Triệu lúc đó vẫn chưa làm lễ đội mão trưởng thành, mà nay đã qua tuổi ba mươi, khoảng thời gian đó biến đổi thế nào, nhi thần khó mà lường trước được. Nếu nói về tài tình thuở thiếu thời, Mông Vũ tướng quân từng cùng đồng song với Dị Nhân mấy năm, có lẽ có thể nói được. Nhi thần thực sự không dám cả gan phán định đánh giá.”
Lại một hồi trầm mặc, nội thị trong màn đột nhiên quay người: “Đại vương nói: Chữ Trác văn của Dị Nhân, theo học người nào?”
“Chữ Trác văn?” Doanh Trụ chợt giật mình, “Thầy của vương tôn, đều xuất thân từ thuộc viên của thái tử phó, không có ai dạy được chữ Trác văn thời thượng cổ cả.”
“Thần bẩm đại vương,” Sái Trạch đột ngột chen lời, “Lã Bất Vi khi trẻ học thức uyên bác tạp nham, biết đọc chữ Trác văn, có lẽ có thể làm thầy.”
Trong màn vang lên một tiếng thở dài già nua, tiếp theo lại là một tiếng lầm bầm khàn khàn mơ hồ, nội thị cất cao giọng: “Đại vương nói: Cương Thành Quân Sái Trạch, lập tức lệnh cho hành nhân thự đi sứ nước Triệu, thăm dò xem công tử Dị Nhân trở về nước Tần có khả thi hay không? An Quốc Quân Doanh Trụ, việc lập đích ở thái tử phủ tạm hoãn lại, đợi vương mệnh định đoạt. Cứ thế đi.”
Vừa nghe thấy hai chữ “cứ thế đi”, Sái Trạch liền đứng phất dậy vái dài một cái, ba chữ “thần cáo từ” còn chưa kịp thốt ra, thì đã nghe Doanh Trụ kêu lớn một tiếng: “Phụ vương hãy khoan, nhi thần có lời.”
Trong màn một trận tĩnh mịch, giọng nói già nua đột nhiên thốt ra một âm tiết rõ mồng một: “Nói.”
Doanh Trụ chợt rời khỏi bàn tiến sát đến bên giường vái dài: “Phụ vương soi xét cho: Nước Sở mưu đồ Ba Thục, Lý Băng khẩn thiết xin thành lập quân đội. Việc liên quan đến sự an nguy bang quốc, pháp độ đại Tần, cúi xin phụ vương lập tức quyết đoạn!”
Lại một trận trầm mặc một trận lầm bầm, nội thị trong màn cất cao giọng: “Các ngươi đã biết pháp độ, thì khắc biết nên đi nơi nào. Cứ thế đi.”
Khuôn mặt trắng bệu đầy thịt của Doanh Trụ bỗng chốc đỏ lựng, đang định căn cứ theo lẽ phải để biện luận rõ ràng, lão Hoàn Lịch bước tới chắp tay hạ giọng nói: “An Quốc Quân chớ vội nóng nảy, quân thượng suốt đêm chỉ nghỉ ngơi được hơn một canh giờ, đã là canh tư rồi.”
Sái Trạch bước qua kéo vạt áo Doanh Trụ, khom người cất tiếng thần đẳng cáo từ, rồi bước ra khỏi thư phòng.
Đi đến bên ngoài môn sảnh, Doanh Trụ rốt cuộc không nén nổi nữa: “Cương Thành Quân sao lại nhát gan thế, quên mất ý định ban đầu khi chúng ta vào cung rồi ư?”
Sái Trạch cũng không nói gì chỉ kéo Doanh Trụ ra khỏi cửa cung lên xe, lúc này mới hạ giọng nói: “Phủ thượng tướng quân, giờ này đi được sao?”
“Đúng vậy! Ta sao lại quên mất lão Mông Ngao chứ!” Doanh Trụ vỗ đét vào thành xe ra vẻ chợt hiểu.
“Cười cái gì? Cái mặt đen sì già nua đó nhìn không đẹp mắt đâu.”
“Không sao cả! Ta với lão tướng quân là giao tình thông gia. Đi!”
Doanh Trụ dậm mạnh chân xuống sàn xe, chiếc xe mành đen liền lộc cộc lăn bánh trên đại đạo Chính Dương hướng về phía Nam mà đi.
Đêm sâu vắng lặng, các quan phủ dọc đường đều tắt đèn đóng cửa, duy chỉ có phủ thượng tướng quân ở tận cùng đại đạo là đèn gió sáng rực cửa lớn mở toang xe ngựa nườm nượp không dứt.
Doanh Trụ hơi suy nghĩ một chút, liền phân phó ngự thủ đánh xe đến cửa phụ để báo danh.
Cửa phụ này là lối đi ra vào vận chuyển đồ đạc của gia nhân, do gia lão trong phủ quản chế, chứ không phải quân sĩ hộ vệ. Lão bộc canh cửa ở hành lang vừa nghe thấy ngự thủ báo danh, liền lập tức mở cánh cửa đường xe ra, chiếc xe mành đen liền từ cửa phụ đánh thẳng vào trong viện. Đến lần dừng xe thứ ba, Doanh Trụ liền dẫn Sái Trạch đi qua cửa trong để tới chính viện.
Chính viện thứ ba này là thư phòng và phòng khách của Mông Ngao, theo sự tính toán của Doanh Trụ, lúc đêm hôm khuya khoắt cho dù có việc gì đi nữa, Mông Ngao cũng tất sẽ xử lý ở thư phòng. Nào ngờ sân viện thứ ba lại lạnh lẽo vắng tanh, thư phòng tuy vẫn sáng đèn, thế nhưng chỉ có một văn lại đang cúi đầu cặm cụi bên án thư, hoàn toàn trái ngược với cảnh tượng ở cửa phủ.
“Đi, ra tiền viện.” Doanh Trụ kéo Sái Trạch đi thẳng.
Đến tiền viện, Doanh Trụ vô cùng kinh ngạc! Sân thứ hai đèn đuốc sáng trưng, mười sáu thuộc thự vây quanh ba mặt Đông Nam Tây đều mở toang cửa, các loại quân lại vội vã ra vào, dẫu là hoàn toàn không có tiếng hô hào ồn ào, thế nhưng rõ ràng vẫn bao trùm một bầu không khí vô cùng căng thẳng.
Cửa Binh phù đường ở phía Bắc khép hờ, bên hành lang bốn tên giáp sĩ đứng nghiêm trang, giọng nói sục sôi vang lên văng vẳng, rõ ràng là đang tiến hành cuộc họp tướng quân.
Doanh Trụ hạ giọng nói: “Đi, tới Binh phù đường.”
Sái Trạch lại lắc đầu: “Hội nghị tướng quân tất là quân vụ trọng đại, chớ nên đường đột, vẫn nên đến thư phòng chờ đợi là tốt nhất.”
Doanh Trụ ngẫm nghĩ rồi gật đầu, nói một câu cũng được, dặn dò vài câu với văn lại ở trung quân thự, rồi cùng Sái Trạch quay trở lại viện thứ ba.
“Đợi lâu nhọc lòng rồi, lão phu thất lễ rồi.” Khoảng nửa khắc sau, Mông Ngao cuối cùng cũng bước vào thư phòng.
“Lão tướng quân vì nước lao tâm khổ tứ, khiến người ta vô cùng khâm phục!” Sái Trạch vội vã đứng dậy nghiêm cẩn hành lễ.
Mông Ngao mệt mỏi cười cười, phất tay một cái ngồi vào chiếc bàn lớn đối diện với hai người, nhấp một ngụm nước trà nóng hổi cười nói: “Hai vị quân thượng đến vào lúc đêm hôm khuya khoắt, ắt có trọng vụ, cứ nói thẳng là được.”
“Ba Thục thành lập quân sự, có phải do lão tướng quân xử lý không?” Doanh Trụ đột ngột cất lời hỏi.
“Hai vị quân thượng có phải phụng vương mệnh mà đến không?” Mái tóc trắng phau râu trắng ngút ngàn tôn lên gương mặt đen sì chằng chịt những nếp nhăn như ruộng bậc thang, Mông Ngao không hề có chút ý cười nào.
“Lão tướng quân, vốn là sự tình như thế này.” Sái Trạch cười chắp tay, “Ba Thục thành lập quân đội, vốn do lão phu và Lý Băng cùng dâng sớ thỉnh cầu. Nhiều ngày không thấy quân thượng triệu tập hội nghị, trong lòng chúng ta bất an. Hôm nay lão phu cùng An Quốc Quân đồng thời phụng chiếu nhập cung, cuối cùng có nhắc đến việc này, vương nói: Các ngươi đã biết pháp độ, đều biết nên đi đâu. Cho nên mới đến đây thỉnh giáo. Lão tướng quân nếu cho rằng vương mệnh chưa từng minh bạch thông báo cho người khác, chúng ta lập tức cáo từ là được.”
Doanh Trụ đập bàn cười nói: “Sao lại không minh bạch? Rõ ràng chính là muốn chúng ta đến thỉnh giáo lão tướng quân chứ gì nữa!”
“Đã là việc này, hai vị quân thượng ngồi xuống rồi hãy nói.” Lão Mông Ngao thở dốc một cách nặng nhọc, nhận lấy chiếc khăn mặt nóng hổi do văn lại đưa tới lau mạnh lên mặt một hồi lâu, khuôn mặt đỏ bừng bốc hơi nóng ngút ngàn nói, “Sân quân nước Sở có biến động, thám tử quân ta ở sông Hán từ lâu đã phi ngựa báo về. Lão phu lúc đó đã xin lệnh, tự mình thống lĩnh năm vạn đại quân nam hạ Di Lăng bố phòng. Dâng sớ đã mười ngày, quân thượng lại không có tin tức gì. Ba ngày trước, lão phu phụng chiếu nhập cung, mới biết tấu chương của Sái Trạch và Lý Băng. Quân thượng tham khảo ý kiến của lão phu, lão phu cho rằng: Mưu kế này không mất đi là một diệu kế cứu nguy, thế nhưng lại liên quan đến pháp độ thống thuộc của quân Tần, nên không dám nhẹ giọng nói có thể hay không. Quân thượng suy nghĩ đằng đẵng lâu ngày, chỉ nói một câu ‘Sách bất loạn pháp, quân bất nhị thuộc!’ rồi bắt lão phu về phủ mưu tính, vừa phải không làm loạn quốc pháp, lại vừa phải hóa giải nguy cục Ba Thục. Lão phu suy nghĩ suốt ngày đêm, thế nhưng thực sự rất khó.”
Doanh Trụ không khỏi vô cùng lo lắng: “Nói như vậy, lão tướng quân vẫn chưa có đối sách sao?”
“Nếu không có đối sách, quân thượng sao có thể đẩy hai vị đến chỗ này?” Mông Ngao cười nhạt một tiếng, “Lão phu triệu tập mấy vị lão tướng đang ở Hàm Dương tới thương nghị, cũng không có đối sách hay, bèn phi ngựa đến đại doanh Lam Điền tập hợp các tướng quân để mưu tính. Nào ngờ, một tên thiên phu trưởng trẻ tuổi lại đưa ra đối sách: Quốc quân quận dưỡng, trú đóng lâu dài ở Ba Thục. Chỉ có tám chữ này, vừa mới được mổ xẻ ra, các vị tướng quân liền đồng loạt vỗ tay hô hoán khen ngợi!”
“Hay lắm!” Sái Trạch hân hoan đập bàn, “Đây chính là nói, do phủ thượng tướng quân phái đại tướng dẫn theo một đoàn quân lại vào Ba Thục, chiêu mộ trai tráng Ba Thục để thành lập thủy lục tam quân; quân đội được thành lập vẫn là đại quân của quốc phủ, do phủ thượng tướng quân thống nhất tiết chế; điểm khác biệt duy nhất là, hai quận Ba Thục cung cấp lương thảo quân tư, quân đội ấy cũng sẽ đóng giữ lâu dài ở Ba Thục.”
“Đúng vậy!” Lão Mông Ngao cười nói, “Xét theo thực tế, Ba Thục vốn dĩ nên có một đại quân trú đóng. Năm xưa Ba Thục nghèo đói, dân số thưa thớt. Tư Mã Thác chiếm lấy Ba Thục, chỉ để lại một vạn quân mã trú đóng ở đất Thục, quân tư lương thảo của họ đều do quốc phủ cung cấp. Một đội mãnh thú từ vùng Tần Trung qua cửa ải Đại Tản tiến vào Ba Thục, ba tháng mới có thể đến nơi, muốn nuôi một đại quân cũng là lực bất tòng tâm. Còn nay Lý Băng trị thủy thành công, đất Thục vô cùng giàu có. Yếu hiểm Di Lăng cũng nằm trong tay ta nhiều năm, thủy đạo ngược dòng sông nước Tây tiến cũng đã có sự cải thiện lớn, đi qua Thương Vu vào giang thủy Hán thủy, rồi lại ngược dòng sông Tây tiến, nửa tháng là có thể đến nơi. Vào lúc này, cho dù là Ba Thục cung cấp lương thảo quân tư, hay là quốc phủ tiết chế đại quân trú Thục, đều có thể dễ dàng thi công. Thời thế thay đổi, thành lập đại quân để đảm bảo kho lương Ba Thục, đây chính là thời điểm rồi!”
Sái Trạch không khỏi thán phục: “Kế sách này thật cao minh! Quả nhiên là ‘Sách bất loạn pháp, quân bất nhị thuộc’!”
Doanh Trụ nghe xong trong lòng nhẹ nhõm, hứng thú bừng bừng hỏi: “Lão tướng quân, vị thiên phu trưởng đó tên là gì? Nghe khiến người ta liên tưởng đến Bạch Khởi!”
“Ha ha, không tệ.” Lão Mông Ngao gật đầu, “Người này tên là Vương Tiễn, hai mươi sáu tuổi.”
“Đời nào cũng có anh hùng hào kiệt, đúng là phúc lớn của quân Tần!” Sái Trạch quả quyết đập bàn.
“Cương Thành Quân dùng từ hay lắm!” Doanh Trụ cười lớn một trận, nhìn thấy lão Mông Ngao viền mắt thâm quầng đầu bạc gật gù buồn ngủ, liền đứng dậy chắp tay nói: “Chính sự đã xong, chúng tôi xin cáo từ.”
Mông Ngao giật mình ngẩng đầu lên, đứng dậy rời bàn vừa chắp tay, thế nhưng bỗng lảo đảo một cái rồi ngã nhào xuống bên bàn một cách rầm rộ! Hai người kinh hãi, vội vã sải bước tới đỡ, nhưng lại nghe tiếng ngáy nặng nề đã vang lên như sấm, nước dãi lấp lánh đã vương vãi trên bộ râu trắng của Mông Ngao.
Doanh Trụ túm lấy trung quân tư mã đang vội vã chạy đến hỏi: “Lão tướng quân hôm nay không được nghỉ ngơi sao?”
Trung quân tư mã hạ giọng nói: “Năm ngày sáu đêm không ngủ rồi.”
Nói xong liền cùng quân lại ở thư phòng khiêng Mông Ngao lên chiếc giường quân sự phía sau tấm bình phong.
Sái Trạch và Doanh Trụ ngẩn người chốc lát, vội vã đi ra khỏi cửa phủ, lúc này ánh rạng đông đã lấp ló xuất hiện. Sắp sửa lên xe, Sái Trạch kéo Doanh Trụ lại hạ giọng nói: “Sự việc hôm nay, đủ để chứng minh quân thượng sẽ không làm lỡ việc nước. Ý kiến của lão phu là, An Quốc Quân vẫn phải thu lại tâm trí, dồn sức an đốn ổn thỏa đại sự lập đích.”
Doanh Trụ thở dài một tiếng nói: “Không phải Doanh Trụ không dồn sức, mà là không có chỗ nào để dồn sức cả!”
Sái Trạch cười đầy vẻ thâm thúy: “Cương Thành Quân cứ dưỡng tinh hôi nhược, chẳng mấy chốc sẽ ngã ngũ thôi.”
Nói xong chắp tay rồi lên xe đi thẳng.