Đại Tần Đế Quốc 4: Dương Mưu Xuân Thu

Lượt đọc: 189 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tiết Sáu
Mưu Kế Kỳ Lạ Của Binh Gia, Đại Nghĩa Đồng Lòng

❊ ❊ ❊

Giữa tháng chín, binh mã sáu nước cuối cùng cũng tề tựu đông đủ.

Cuộc hợp tung lần này không giống trước đây, binh mã sáu nước đều tập kết một cách bí mật. Đây là ý chỉ cốt lõi mà Tín Lăng quân đặc biệt dặn dò các nước: Quân hợp tung nhất định phải đi qua thung lũng, ban ngày ẩn nấp, ban đêm hành quân; chiến móng ngựa phải ngậm tăm, quấn vải; toàn quân mang trang bị nhẹ, cấm nấu nướng; không cần tốc độ, cốt sao phải thật bí mật! Bức mật thư này khiến các vị tướng quân các nước vô cùng kinh ngạc. Từ trước tới nay, hợp tung vốn dĩ toàn là xuất binh rầm rộ, thanh thế chỉ sợ không lớn, cớ sao lần này xuất binh lại lén lút như ăn trộm thế này? Đại quân hành quân trên đất nước mình, vậy mà còn phải ngậm tăm quấn móng, mang trang bị nhẹ cấm nấu nướng, chẳng phải là làm nhục người ta sao? Làm cái trò quỷ quái bí ẩn thế này, quân Tần không có lính thám báo chắc? Các tướng quân các nước hoàn toàn đồng thanh tương ứng, coi bức mật thư này như gió thoảng tai qua, lần lượt đại tập trung binh mã, muốn làm một đạo quân hạo hạo đãng đãng đi đánh dẹp kẻ có tội.

Đúng lúc này, quân thư của Tín Lăng quân lại tới, ngoài việc nhắc lại ý chính của thư trước, còn dùng khẩu khí nghiêm khắc để hạ ước định: Nước nào không xuất binh tiến vào một cách bí mật thì khỏi cần xuất binh nữa, quân ba nước Ngụy, Triệu, Hàn kháng Tần là đủ rồi!

Đây quả là chuyện xưa nay chưa từng có trong thời Chiến Quốc — từ trước tới nay, hợp tung chỉ sợ nước nào không xuất binh, sợ binh lực không đủ; thế mà khi các nước đều muốn hưng binh rồi lại bảo có thể không cần, quả là chuyện kỳ lạ chôm chôm! Rốt cuộc cái tên Ngụy Vô Kị này muốn giở trò huyền bí gì đây? Nghi ngờ thì nghi ngờ, cằn nhằn thì cằn nhằn, quân thần các nước suy đi tính lại, cuối cùng vẫn ban chiếu chỉ nghiêm khắc: Nhất định phải tuân theo quân lệnh của Tín Lăng quân hành sự, tiến vào một cách bí mật đúng hạn!

Đây chính là uy vọng của Tín Lăng quân Ngụy Vô Kị. Chiến Quốc vẫn luôn có hợp tung kháng Tần, trước đó từng thành lập bốn lần liên quân sáu nước, duy chỉ có lần liên quân do Tín Lăng quân thống suất là một trận đánh tan quân Tần, cứu lấy nước Triệu, cứu lấy Sơn Đông. Mã phục quân Triệu Xa là vị danh tướng thắng Tần đầu tiên ở Sơn Đông, nhưng uy vọng của ông ta thì không thể nào đem ra so sánh với Tín Lăng quân được. Vì sao? Triệu Xa thắng Tần là chiến tranh núi non, binh lực hai bên đều trong giới hạn dưới mười vạn, hẹp đường gặp nhau chỉ có liều mạng chém giết mà thôi, tuy rằng đáng quý nhưng rốt cuộc khó mà thành hình mẫu về binh pháp mưu lược được. Trận chiến hợp tung cứu Triệu lại là chiến trận đồng bằng, binh lực hai bên đều từ ba mươi vạn trở lên, chưa nói đến việc điều động chiến trường hoàn toàn không thể so sánh với cuộc chiến nhỏ ở vùng núi, chỉ riêng việc có thể gom sáu đạo quân có sức chiến đấu khác nhau, xưa nay chưa từng chịu sự thống lĩnh, tạm thời ghép lại với nhau thành một đám ô hợp thành một đội quân dũng mãnh, tuyệt đối không phải người thường có thể làm được. Tín Lăng quân không chỉ là một vị mãnh tướng trên chiến trường, mà còn là một kỳ tài binh gia thông thạo binh pháp. Con người này dường như sinh ra đã có mệnh mang binh đao, không có chiến tranh mà bàn về chính trị quốc gia, thì chẳng giỏi hơn ba vị công tử Mạnh Thường quân, Bình Nguyên quân, Xuân Thân quân là mấy, thậm chí còn không bằng ba vị công tử ở chốn miếu đường uyển chuyển linh hoạt; thế nhưng hễ có chiến tranh, tất cả những điểm yếu của Tín Lăng quân trong chính sự miếu đường lập tức biến thành điểm phi thường mà tỏa sáng rực rỡ, bản tính cương nghị nghiêm cẩn hóa thành uy quyền thống soái hiếm có, sự kết giao hào hiệp thượng võ hóa thành sức hút thân thiện nhất với tướng sĩ, phương pháp làm việc coi trọng thực chất, biết dùng người hiền tài tự nhiên chính là đức phong của vị chủ soái ngưng tụ đại quân, uyên bác hiểu biết thiên văn địa lý, trận chiến binh gia, kỳ tài thông suốt đủ loại binh khí công phòng cỡ lớn, việc điều binh mưu hoạch mỗi lần đều khiến người ta bất ngờ, quân lệnh trên chiến trường mỗi lần đều khiến người ta kinh ngạc! Lâm nguy thì phấn khích, cục diện rối ren thì bình tĩnh. Tất cả những điều đó đều khiến Tín Lăng quân bước vào Mạc phủ như cá gặp nước, điều binh khiển tướng như Bàn Đinh mổ trâu. Điều khiến các tướng lĩnh Sơn Đông kính ngưỡng hơn cả, chính là khí thế quyết chiến quyết thắng vào thời điểm cận kề trận chiến của Tín Lăng quân! Năm xưa năm nước tập trung binh lực cứu Triệu, chỉ thiếu mỗi đại tướng đến nơi. Vì lòng nghi kỵ, Ngụy vương cứng rắn không chịu bổ nhiệm Tín Lăng quân làm tướng. Ngay vào lúc liên quân năm nước rắn mất đầu, cứu Triệu sắp trở thành mây khói, Tín Lăng quân đã đánh cắp binh phù, liều chết giết chết đại tướng tâm phúc của Ngụy vương, cướp đoạt binh quyền của quân Ngụy, cứ thế hừng hực khí thế chạy đến đại doanh liên quân, một trận cứu Triệu đánh tan quân Tần. Sự dũng lược và gan dạ thế này, nếu không phải do trời phú thì không thể làm được! Chính vì thế, Tín Lăng quân ở trọ Hàm Đan mà có ba ngàn thực khách, khiến cho thực khách của Bình Nguyên quân cũng lần lượt đến đầu, trong chốc lát khiến cho nước Triệu vốn dĩ thô kệch trở thành vùng đất phong vân hội tụ của sĩ tử trong thiên hạ. Tín Lăng quân đã viết một bộ binh thư ở Hàm Đan, cũng trở thành bộ binh pháp Chiến Quốc được các danh sĩ Sơn Đông sùng bái nhất sau Tôn Tẫn. Hơn một trăm năm sau, Thái sử công viết truyện cho Tín Lăng quân, đến cuối cũng phải từ đáy lòng cảm thán: "Tín Lăng quân tên tuổi đứng đầu chư hầu, không phải là hư danh!" Đây là chuyện sau này.

Lại nói sáu đạo quân chia đường tiến nhanh trong bí mật, cuối cùng vào đầu tháng chín cũng đến được vùng núi Tây Bắc Đại Dã Trạch.

Vùng núi Đại Dã Trạch là chiến trường được Tín Lăng quân lựa chọn vô cùng kỹ lưỡng. Vào thời Chiến Quốc, Đại Dã Trạch còn gọi là Cự Yêu Trạch, cùng với Phùng Trạch, Cự Lộc Trạch là ba hồ nước lớn ở khu vực Trung Nguyên, trừ Cự Lộc Trạch nằm ở lưu vực Hoàng Hà trong lãnh thổ nước Triệu, Đại Dã và Phùng Trạch đều nằm trong lưu vực sông Tế. Phùng Trạch nằm trong lãnh thổ nước Ngụy, Đại Dã Trạch nằm ở khu vực biên giới giữa nước Ngụy và nước Tề. Dù rằng lãnh thổ thành trì thời kỳ Chiến Quốc thường xuyên thay đổi co giãn, nhưng Ngụy và Tề đều là nước lớn, giao chiến với nhau không nhiều, lãnh thổ đại khái vẫn luôn lấy Đại Dã Trạch làm ranh giới, phía đông trạch là nước Tề, phía tây trạch là nước Ngụy. Sau này, Đại Dã Trạch cùng với sự khô cạn tiêu vong của sông Tế đã dần khô cạn teo lại, chỉ để lại vùng nước hẹp mà hậu thế gọi là Đông Bình Hồ và Lương Sơn Bạc. Thủy bạc nơi các anh hùng Lương Sơn tụ tập mà người Trung Quốc hậu thế quen thuộc, chính là dấu vết mà Đại Dã Trạch để lại. Thời kỳ Chiến Quốc, sông Tế là một trong bốn con sông lớn nổi tiếng trong thiên hạ (Sông Trường Giang, sông Hoàng Hà, sông Hoài, sông Tế), lượng nước dồi dào, chạy ngang qua ba nước Ngụy, Tề, Triệu rồi độc lập đổ ra biển, là một trong những con sông mẹ xứng đáng ở khu vực Trung Nguyên. Đại Dã Trạch do dòng hồng thủy sông Tế tích tụ mở rộng ra có sóng nước mênh mông cuồn cuộn, rộng gần ngàn dặm, đường nước phía đông nối liền với sông Hôi Tứ, trở thành đầm lướt lớn nuốt chửng hai con sông lớn, thời đó gọi là đứng đầu trong ba đầm lớn ở Trung Nguyên. Cho đến thời nhà Đường khi khô cạn, Đại Dã Trạch vẫn còn mặt nước rộng ba trăm dặm Nam Bắc, có thể tưởng tượng được sự phồn thịnh thời cực thịnh của nó. Sách "Thư. Vũ Cống" có câu: "Đại Dã đã đọng nước." "Chu Lễ. Chức Phương. Duyện (Yển) Châu" viết: "Đầm bùn của nó gọi là Đại Dã." "Tả Truyện" năm Ai công thứ năm (năm 481 trước Công nguyên) chép rằng: "Săn bắn phía tây ở Đại Dã." Những điều này đủ cho thấy danh tiếng hiển hách của Đại Dã Trạch!

Xung quanh Đại Dã Trạch không có ngọn núi cao nổi tiếng nào, đồi núi nối liền rừng cây rậm rạp, thoạt nhìn có vẻ bình thường không có gì lạ, nhưng thực chất lại là những con đường thung lũng hiểm trở đan xen chằng chịt, người bình thường khó mà nhìn thấu được bí ẩn của nó. Trận Quê Lăng, trận Mã Lăng mà Tôn Tẫn hai lần đánh bại Bàng Quyên năm xưa, đều là những trận mai phục đánh ở vùng núi này. Việc đầu tiên sau khi Tín Lăng quân trở về Đại Lương tiếp nhận ấn Thượng tướng quân, chính là phái thám báo tinh nhuệ cùng với lão thương nhân có quan hệ buôn bán với nước Tần, đồng thời thăm dò tỉ mỉ ở Hàm Đan và đại doanh quân Tần. Hơn một tháng sau, tình hình được tổng hợp lại là: Quân Tần đông tiến đánh Tề, con đường của chúng là đi từ quan đạo phía đông bắc Đại Dã Trạch vượt qua Đại Dã Trạch, tiến ra đồn trú ở nguyên núi Lư Huyện phía đông Đại Dã Trạch; mưu đồ của Mông Ngao là: Trước tiên đánh chiếm hơn hai mươi thành ở Tế Bắc của nước Tề, sau đó nam hạ đánh chiếm nước Tiết và nước Lỗ vốn đã bị nước Tề và nước Chu tiêu diệt, một trận uy hiếp hai nước lớn Tề - Chu; người họ Mông vốn là người nước Tề, không muốn nước Tề biến thành phế tích biển lửa, cho nên muốn trước tiên triển khai uy lực quân sự thật lớn, sau đó ép nước Tề phải đầu hàng; vì vậy, đại quân Mông Ngao đông tiến không hề tấn công mãnh liệt chớp nhoáng như khi càn quét Tam Tấn, mà là ung dung bày binh bố trận hướng về Tế Bắc trước. Hiện tại đã xuất động một đạo quân đánh chiếm năm thành, Mông Ngao dẫn dắt đại quân chủ lực bày trận ở biên giới quận Tiết (nước Tiết cũ), vẫn chưa chính thức khai chiến với Tiết và Lỗ. Nhờ có lợi thế về địa hình, quân Ngụy do Tín Lăng quân dẫn dắt đã đến đại doanh bí mật ở Đại Dã đầu tiên.

Đại doanh vừa được cắm cọc ổn định, Tín Lăng quân liền hạ lệnh: Trừ việc tu sửa quân khí binh khí và tiếp ứng binh mã các đường ra, các tướng sĩ còn lại lập tức khai phá đại doanh, chuẩn bị thức ăn nguội cho đại quân các nước chưa đến. Tướng sĩ quân Ngụy vô cùng kinh ngạc, từ trước tới nay liên quân hợp tung đều là các quân tự lo liệu lương thảo trọng (tư) trọng, các việc quân như dựng doanh nấu nướng vốn dĩ là bổn phận của mỗi quân, không chà đạp lẫn nhau đã là may mắn lắm rồi, làm gì có chuyện đạo quân đến trước lại đi dựng doanh chuẩn bị thức ăn cho kẻ đến sau chứ? Kinh ngạc thì kinh ngạc, dựa trên sự khâm phục đối với Tín Lăng quân, tướng sĩ quân Ngụy vẫn lập tức bận rộn ngay.

Tín Lăng quân có sự lo lắng sâu sắc đối với trận chiến của liên quân. Nói cách khác, lần này có thắng được quân Tần hay không, trong lòng ông cũng hoàn toàn không có đáy. Nỗi lo không nằm ở chiến trận, mà nằm ở lòng dạ của tướng sĩ. Có lẽ không ai nhìn thấu suốt hơn Tín Lăng quân, sự mục nát suy tàn của sáu nước Sơn Đông hiện nay đã không thể cứu vãn nổi nữa rồi, quân thần chèn ép lẫn nhau, quân chính kìm chân nhau đã trở thành thói quen xấu khó bỏ. Binh mã dẫu đã xuất phát, ai biết được có những hậu hoạ khôn lường nào hay không? Dù cho các quân đều đến đủ, có hay không có cái chí quyết chiến quyết thắng, thật sự cũng không thể biết chắc được. Suy đi tính lại nhiều lần, Tín Lăng quân đã ấn định ba điểm cơ bản: Một là trận chiến này không thể kéo dài, kéo dài thì nội bộ liên quân tất sinh biến cố; hai là nhất định phải có chí hướng đồng lòng liều chết chiến đấu, nếu không các quân tranh thủ tự bảo vệ mình, tất sẽ bại trận; ba là trận chiến này bắt buộc phải dùng mưu kỳ lạ để dụng binh, không kỳ lạ thì không đủ để quyết chiến nhanh chóng. Trong ba điểm, việc đồng lòng liều chết chiến đấu là quan trọng nhất, không có gốc rễ này, mặc cho ngươi có muôn vàn kế sách kỳ lạ thì cũng chỉ đổ sông đổ bể mà thôi.

Năm sáu ngày sau, các quân lần lượt đến được vùng núi Đại Dã.

Trong khu rừng rậm ở thung lũng, Tín Lăng quân lần đầu tiên triệu tập các tướng lĩnh tới Mạc phủ đơn sơ của liên quân để hội nghị thương lượng tình hình quân sự.

Trung quân Tư mã trước tiên đọc bản tóm tắt hội binh của liên quân: Kỵ binh tinh nhuệ nước Triệu năm vạn, bộ binh hai vạn, chủ soái là Bình Nguyên quân; bộ binh và kỵ binh nước Sở mười vạn, chủ soái là Xuân Thân quân; nỏ mạnh bộ tốt (bộ binh) nước Ngụy sáu vạn, thiết kỵ ba vạn, chủ soái là Tín Lăng quân; bộ binh và kỵ binh nước Hàn tám vạn, chủ soái là lão tướng Hàn Bằng; kỵ binh nhẹ nước Yên sáu vạn, chủ soái là Tướng Cừ; bộ binh và kỵ binh nước Tề sáu vạn, chủ soái là Trần Lộc; tổng cộng binh lực sáu nước là bốn mươi sáu vạn, năm mươi ba vị tướng quân.

— Ồ chà, quân Tần hai mươi sáu vạn, phe ta vượt hơn nhiều rồi! Xuân Thân quân dài giọng thở dài.

Bình Nguyên quân liên tục lắc đầu: — Không so sánh thế được đâu! Có trận hợp tung nào mà binh lực không vượt quân Tần mười hai mươi vạn chứ?

— Dám xin Tín Lăng quân nói trước một cách đánh xem nào, lão phu bức bối lắm rồi! Lão tướng Hàn Bằng không nhịn được nữa.

— Đúng vậy đấy! Việc hành quân bí mật này làm con người ta mệt mỏi đừ cả người, mau nói cách đánh thế nào đi! — Tướng Tề là Trần Lộc lập tức phụ họa.

— Xuân Thân quân, Bình Nguyên quân, chư vị tướng quân, — Tín Lăng quân điềm tĩnh thong thả đứng dậy từ tấm ván gỗ lớn được chống đỡ bởi một chiếc giá mà gọi là bàn soái nhưng thực chất chỉ là một chiếc bàn gỗ, — Sở dĩ phải bắt buộc các quân tiến quân một cách bí mật, là nằm ở chỗ liên quân chỉ có xuất kỳ bất ý đánh úp không phòng bị, mới có thể giành chiến thắng! Mấy chục năm trước, khí thế của sáu nước Sơn Đông đang độ thịnh vượng, các nước đều có quân đội tinh nhuệ, vẫn không thể hợp tung thắng Tần, huống chi là vào thời điểm quốc lực tàn tạ ngày nay? Sức mạnh của phe ta giảm sút nghiêm trọng, nước Tần thì đang thời kỳ phát triển, lại càng phải cẩn trọng hơn nữa, làm việc quân sự phải thật kín kẽ! Nói theo thực tế, trận chiến này không thể so sánh với việc hợp tung ngày trước. Ngày trước có thể bại một lần, bại lần thứ hai, nền tảng các nước vẫn có thể chống đỡ được. Trận chiến ngày nay lại hoàn toàn khác biệt. Sự sống còn của sáu nước đều nằm trọn ở trận chiến này! Trận chiến này nếu thắng, sáu nước hãy còn cơ hội quật khởi trở lại. Trận chiến này nếu bại, thì quân lực sáu nước sụp đổ, ngày vong quốc đã ở ngay trước mắt! Chính vì thế, đây có thể gọi là trận chiến tử chiến tiến thoái lưỡng nan của sáu nước! Chư vị hãy thử đặt tay lên ngực tự hỏi mà xem, trận chiến này nếu bại, nước nào sẽ phải gánh chịu mũi nhọn của quân Tần? Khi đó cho dù không mưu tính hợp tung, binh lực ở đâu? Quân tư trọng ở đâu? Kết quả chỉ có thể là sụp đổ tan rã, thiên hạ về tay nước Tần, chứ còn có thể có gì khác nữa! Trong đại sướng chợt chìm vào sự nghiêm nghị, Tín Lăng quân thở dốc một hơi nặng nề, — Vô Kị nói lời nguy hiểm trước, không phải để dọa người nghe, mà là để thức tỉnh chư vị: Trận chiến này chỉ ôm lấy cái tâm tử chiến để sinh tồn, mới có thể đồng tâm hiệp lực mưu tính kín kẽ mà đánh thắng được!

— Tử chiến để sinh tồn! Đồng tâm hiệp lực! — Các đại tướng đồng thanh gầm lên một tiếng.

— Ồ chà — Xuân Thân quân thở dài một hơi thật dài, — Cảnh tượng thế này, lão phu ngỡ như mình đang nằm mộng vậy!

Bình Nguyên quân rưng rưng hai hàng lệ: — Cùng chung cừu hận, sáu nước đã nhiều năm lắm rồi không còn thấy cảnh này nữa!

— Tín Lăng quân đã nói tận đáy lòng rồi, ai mà sợ địch tiếc mạng, thì lập tức quay về đi! — Xuân Thân quân vỗ bàn đứng phắt dậy, — Nước Sở đề xuất hợp tung, lão phu xin phát một lời thề trước: Trận chiến này không thắng, lão phu sẽ tự sát để tạ tội với đất nước!

— Triệu Thắng cũng xin như vậy!

— Ngụy Vô Kị cũng xin như vậy!

Khi ba đôi bàn tay lớn nắm chặt vào nhau, ba cái đầu tóc bạc phơ chụm lại một chỗ, các đại tướng chấn động tâm can, đồng thanh hô lớn một cách hào sảng: — Không thắng quân Tần, tự sát tạ tội với đất nước!

— Chỉ cần có cái tâm này! Quân ta tất thắng! — Tín Lăng quân phất tay hô lớn, quay người bước lớn đến trước bàn soái, — Mở bản đồ ra!

Trung quân Tư mã kéo tấm màn lớn phía sau bàn ra, một tấm bản đồ gỗ lớn rộng hơn một trượng mang tên "Sơn Xuyên Đại Dã" hiện rõ trước mắt. Tín Lăng quân dùng thanh trường kiếm trong tay chỉ điểm lên bản đồ và nói: — Trận chiến này mô phỏng theo chiến pháp Quê Lăng của Tôn Tẫn, mai phục đánh tan quân Tần ở bờ tây bắc Đại Dã Trạch. Điểm cốt lõi của mai phục nằm ở chỗ: Một là đánh vào yếu hại của địch, ép chủ lực Mông Ngao phải quay về cứu viện; hai là đại quân phải ẩn nấp khéo léo, khiến cho địch không thể phát hiện ra; ba là vào thời điểm giao chiến phải dốc toàn lực tử chiến, không để cho quân Tần dễ dàng xé thủng chiến trường mai phục! Với sức chiến đấu của liên quân, không đòi hỏi tiêu diệt toàn bộ quân Tần, chỉ cần tiêu diệt được từ mười vạn quân địch trở lên, thì quân Tần tất sẽ rút khỏi Sơn Đông, đó chính là đại thắng! Chư tướng thấy có khả thi không?

— Hay lắm! —

— Tín Lăng quân cứ việc hạ lệnh, chư tướng quân không có dị nghị gì nữa đâu. — Xuân Thân quân nghiêm túc gật đầu.

— Tốt! — Kiếm trong tay Tín Lăng quân chỉ thẳng vào tấm bản đồ lớn, — Chư vị hãy xem, vị trí của quân Tần và quân ta chính là ở hai đầu của Đại Dã Trạch, quân Tần ở Đông Bắc Đại Dã, quân ta ở Tây Nam Đại Dã, cách nhau xa tới hơn bốn trăm dặm; quân Tần còn có một đạo quân của Vương Lăng đang đánh Tế Bắc, cách quân ta tới hơn tám mươi dặm. Mưu tính của quân ta, chính là mai phục quân Tần ở vùng rừng nguyên núi thuộc phía đông bắc Quê Lăng này!

Đại tướng quân nước Yên là Tướng Cừ chợt cắt ngang nói: — Tôn Tẫn bày trận phục kích ở chiến trường cũ, quân Tần làm sao mà sập bẫy cho được?

— Tướng quân lầm rồi! — Bình Nguyên quân lắc đầu, — Binh không chán ghét việc lừa gạt, mai phục lần hai chắc chắn thắng. Đây là câu cửa miệng trong binh gia rồi. Xét theo tình hình quân sự, quân Tần khinh thường sáu nước đã lâu, lần này quân Tần liên tục tấn công Sơn Đông mà không gặp phải sự kháng cự nào, sự coi thường sáu nước lại càng sâu sắc hơn! Mông Ngao chỉ chia năm vạn quân tấn công hơn hai mươi thành ở Tế Bắc, rõ ràng là coi mười vạn quân Tề ở Tế Bắc như cỏ rác. Một quân Tần như thế, sao có thể nghĩ tới chuyện liên quân mai phục chứ? Dù có nghĩ tới, thì cũng cho rằng phe ta không chịu nổi một đòn, trái lại còn cho rằng đây là cơ hội trời cho để tiêu diệt sạch sẽ đại quân sáu nước. Chính vì thế, khiến cho quân Tần sa vào bẫy mai phục, không có gì phải lo lắng cả!

Các tướng quân lần lượt gật đầu, đồng tình với lời nói của Bình Nguyên quân.

Tín Lăng quân nghiêm nghị nói: — Những gì Bình Nguyên quân vừa nói, chính là điểm yếu của quân Tần. Chỉ có điểm yếu này, quân ta mới có thể đánh được! — Thanh trường kiếm lại chỉ lên tấm bản đồ lớn, — Chiến pháp của quân ta là: Binh chia làm bốn đường, hai lần mai phục. Mưu tính cụ thể là: Một đạo quân kỵ binh phi nhanh về phía bắc, tấn công mãnh liệt năm vạn thiết kỵ của Vương Lăng rồi tháo chạy về phía nam, nhử cho chúng truy kích đuổi theo về phía nam; ở thung lũng cách nam năm trăm dặm, một đạo quân gồm sáu vạn bộ binh mai phục, bao vây thiết kỵ của Vương Lăng, giả vờ làm thế giằng co rằng Vương Lăng không thể phá vây mà quân ta cũng không thể tiêu diệt được bọn chúng, nhử cho đại quân chủ lực của Mông Ngao đến cứu viện; quân ta giả vờ chống đỡ không nổi, vòng mai phục thứ nhất sụp đổ tháo chạy về phía nam; quân Tần tất sẽ dốc toàn lực truy sát, chủ lực quân ta đã sớm mai phục ở cách đó trăm dặm, giáng cho quân Tần một đòn chí mạng!

— Xin nghe quân lệnh! — Các đại tướng đồng thanh đáp, rõ ràng là lòng tin đã tăng lên rất nhiều.

— Bốn đạo đại quân. — Tín Lăng quân cầm lấy mũi tên lệnh thứ nhất từ trên bàn soái, — Đạo quân thứ nhất là kỵ binh phi nhanh về phía bắc, do tám vạn kỵ binh hai nước Triệu - Ngụy cấu thành, tấn công địch cốt phải mãnh liệt chớp nhoáng để chọc giận Vương Lăng! Đạo quân này do lão phu trực tiếp thống lĩnh. — Đặt mũi tên lệnh xuống lại cầm lấy một mũi tên khác, — Đạo quân thứ hai là sáu vạn bộ tốt, mai phục ở thung lũng cách quân Tần năm trăm dặm về phía nam, do Xuân Thân quân thống lĩnh. — Xuân Thân quân hô lớn một tiếng rồi nhận lấy mũi tên lệnh, Tín Lăng quân lại cầm lấy mũi tên lệnh thứ ba, — Đạo quân thứ ba là sáu vạn kỵ binh phi nhanh nước Yên, chuyên làm nhiệm vụ tiếp ứng yểm hộ cho bộ binh của vòng mai phục thứ nhất sau khi giả bại rút lui, sau khi hợp làm một thì chạy đến vòng ngoài của chiến trường cuối cùng để chặn sát quân Tần đột phá vòng vây, do Tướng Cừ thống lĩnh. — Tướng Cừ hào sảng nhận lệnh, Tín Lăng quân cầm lấy mũi tên lệnh thứ tư, — Chiến trường chủ lực mai phục là hai mươi sáu vạn bộ kỵ, bao vây giáng đòn chí mạng cho đại quân của Mông Ngao, do Bình Nguyên quân tinh thông chiến trận tọa trấn thống soái!

Bình Nguyên quân lại không nhận lệnh, chỉ trừng đôi mắt sáng ngời nhìn Tín Lăng quân mà không nói gì. Trong trướng lập tức chìm vào sự tĩnh lặng chết chóc — Quân Triệu là chủ lực của liên quân, nếu Bình Nguyên quân mà sứt mẻ tình cảm với Tín Lăng quân, thì cuộc hợp tung kháng Tần này chính là ngàn cân treo sợi tóc! Xuân Thân quân cực kỳ nhạy bén, lập tức cười ha hả: — Ồ chà Bình Nguyên quân, không gánh nổi trọng trách nữa sao? — Ý ban đầu của Xuân Thân quân vốn là muốn khích tướng, không ngờ Bình Nguyên quân lại thở dài một tiếng thật dài: — Kẻ hiểu ta là Xuân Thân quân! Tín Lăng quân ở đây, Triệu Thắng thật sự không thể gánh vác trọng trách ở chiến trường chính được nữa rồi! — Xoay người hướng về phía Tín Lăng quân chính là một vái thật sâu, — Triệu Thắng hiểu ý tốt của ngài, xin tạ ơn trước. Đạo quân bắc thượng là hiểm nguy nhất, đòi hỏi chủ soái phải tự mình mặc giáp cầm vũ khí xông pha trận mạc, cho nên ngài tự mình thống lĩnh là phải. Chiến trường chính tuy là trận chiến ác liệt chém giết đẫm máu, nhưng chủ soái coi trọng việc điều động, ít có nguy hiểm đến tính mạng, cho nên giao cho Triệu Thắng. Chém giết trên chiến trận, Triệu Thắng tự nhận là mạnh hơn Tín Lăng quân. Tọa trấn điều động, Tín Lăng quân mạnh hơn Triệu Thắng rất nhiều. Sự bổ nhiệm của ngài, chính là dùng sở trường của hai người để đổi cho nhau, dùng sở đoản của hai người. Nếu Triệu Thắng thản nhiên nhận lấy, há chẳng phải là tội nhân của sáu nước hay sao!

Các đại tướng lúc thì nghiêm nghị lúc thì lúng túng. Xuân Thân quân nhất thời cũng không biết nên nói thế nào — Hai vị quân vương đều là những tráng sĩ hào hiệp kiên cường, lời lẽ vừa rồi của Bình Nguyên quân rõ ràng mang ý trách cứ Tín Lăng quân, nhưng cũng không nói rõ ràng việc mình xin lãnh đạo đạo quân thứ nhất; Tín Lăng quân cũng im lặng không đáp, nếu khuyên nhủ không đúng lời, thì hiềm khích trước đó lại tái diễn, cục diện sẽ rất khó thu xếp. Thế nhưng không nói thì lại càng lúng túng hơn, không những hai vị quân vương không thể hóa giải, mà ngay cả bản thân mình là kẻ khởi xướng hợp tung cũng sẽ bị các đại tướng nghi ngờ là không công bằng. Đang lúc suy nghĩ, Xuân Thân quân dứt khoát lên tiếng: — Ồ chà Tín Lăng quân, Hoàng Huyết nói thẳng, vạn sự lấy việc kháng Tần làm trọng!

Lời vừa dứt, ánh mắt của các đại tướng đồng loạt đổ dồn lên bàn soái của Tín Lăng quân.

Tín Lăng quân bước xuống khỏi bàn soái, vái sâu một cái trước Bình Nguyên quân: — Bình Nguyên quân hiểu rõ đại nghĩa, Vô Kị xin cung kính tuân theo lời dạy! — Quay người vái các đại tướng một cái nữa, — Chuyện này là do tâm tư bù đắp tư tình của Vô Kị quá mức, dẫn đến việc quân lệnh sai sót, Vô Kị xin tạ tội!

— Huynh Vô Kị! Triệu Thắng tính toán quá mức, trách lầm người rồi! —

— Huynh Triệu Thắng! Vô Kị tư tâm mà quên việc công, còn nói gì được nữa! —

Hai bên vái chào lẫn nhau, bốn bàn tay nắm chặt lấy nhau, trong trướng vang lên một tiếng reo hò, Xuân Thân quân nước mắt già tuôn rơi.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.