Chadber là tên của người chủ quán, có khuôn mặt đỏ hồng, thân hình đẫy đà, cùng tác phong vừa phô trương lại vừa nhã nhặn. Thế giới của ông ta chỉ thu hẹp trong những bức tường của quán Chequers, một quán trọ đã được ông cố của ông ta mua lại từ tận năm 1667, khi vị vua Stuart hào hiệp còn ngự trị trên ngai vàng nước Anh, và những Tuyển hầu tước xứ Hanover còn chưa xuất hiện trong giấc mơ của bất kỳ ai.
Ông Chadber là một người theo đảng Tory chính gốc. Không ai căm ghét gã người Đức nhỏ mỏ ấy bằng ông, và chắc chắn cũng chẳng ai mong mỏi sự xuất hiện của hoàng tử hào hoa Charles Edward hơn ông. Nếu ông chỉ giới hạn lòng yêu nước của mình trong việc nâng ly chúc mừng cho chiến dịch của Hoàng tử Charlie, thì ai nỡ trách ông? Và nếu như, khi một vài vị quý khách theo đảng Whig ghé lại quán Chequers trên đường ra bờ biển, gọi một chai rượu Rhenish và bảo tự tay ông rót một ly để chúc sức khỏe Quốc vương, thì một lần nữa, ai lại đi trách ông Chadber vì đã tuân lệnh? Việc nâng ly chúc tụng ấy có xá gì khi bạn đã từng chìa tay giúp đỡ thiết thực cho hai người trung thành với Điện hạ nhà Stuart?
Đó là niềm tự hào của ông Chadber, chỉ được đem ra khoe khoang với những người hàng xóm theo đảng Tory đầy ngưỡng mộ của ông, rằng ông đã bất chấp hiểm nguy tính mạng để che chở cho hai kẻ trốn chạy sau biến cố năm 'Forty-five thảm khốc, những kẻ đã lặn lội đến tận vùng Fallowfield yên bình này. Việc không một ai từng tận mắt nhìn thấy hai vị khách ấy chẳng phải là lý do để hoài nghi lời của một người chủ quán chân chính. Nhưng thực ra chẳng ai lại đi nghi ngờ bất kỳ lời khẳng định nào mà ông Chadber đưa ra. Chủ quán trọ Chequers là một nhân vật lớn trong thị trấn, bởi ông vừa biết đọc lại biết viết, và thuở trẻ từng có dịp đi xa tới tận thành phố London, ở lại đó mười ngày và tận mắt trông thấy không ai khác chính là vị Công tước xứ Marlborough vĩ đại khi vị quý ông ấy đang cưỡi ngựa dọc theo phố Strand trên đường đến cung điện St. James.
Thêm vào đó, một sự thật không thể chối cãi là thứ bia tự nấu tại nhà của ông Chadber ngon hơn hẳn thứ nước giải khát do chủ quán trọ đối địch ở đầu bên kia ngôi làng bán.
Nhìn chung, ông là một nhân vật cực kỳ quan trọng, và không ai nhận thức rõ tầm quan trọng ấy hơn chính bản thân ông.
Đối với những "quý tộc chính hiệu" — những người mà ông quả quyết rằng mình có thể nhận ra ngay từ cái nhìn đầu tiên — ông tỏ ra lịch sự đến mức khép nép, nhưng với các nhân viên, kẻ dưới, hay những kẻ không mang chút dấu hiệu sung túc nào trên người, ông hoàn toàn tiếc rẻ sự kính trọng của mình.
Cũng chính vì thế mà khi một vị luật sư nhỏ thó mặc áo xanh lục bước xuống từ xe ngựa bưu điện vào một ngày nọ và bước vào phòng giải khát của quán Chequers, ông ta đã được đón tiếp bằng thái độ phô trương cùng sự ban ơn chẳng màng che giấu.
Trông ông ta có vẻ hồi hộp, và bận tâm nhiều hơn một chút. Ngay từ đầu, ông ta đã khiến ông Chadber chướng mắt khi ám chỉ rằng mình đến đây để gặp một vị quý ông có lẽ ăn mặc khá tồi tàn, túi tiền eo hẹp, thậm chí còn có tiếng tăm không mấy tốt đẹp. Ông Chadber đã nghiêm khắc cho vị khách hiểu rằng những vị khách có miêu tả như vậy là hoàn toàn xa lạ tại quán Chequers.
Vị luật sư phảng phất một vẻ huyền bí, và dường như ông ta đang cố gắng dò xét chủ quán. Ông Chadber hơi khựng lại, trở nên xa cách và kiêu kỳ.
Khi vị luật sư cả gan hỏi thẳng xem gần đây ông có dính líu gì đến bọn cướp đường hay không, ông đã thực sự và triệt để nổi giận.
Vị luật sư bỗng nhiên trở nên thoải mái hơn. Ông ta đăm chiêu ngắm nghía ông Chadber, trong tay kẹp một nhúm thuốc lá đưa lên một bên mũi.
"Có lẽ ông đang có một vị khách... à... Ngài Anthony Ferndale lưu lại đây chứ?" ông ta ướm hỏi.
Vẻ tổn thương dịu dàng liền biến mất khỏi gương mặt ông Chadber. Chắc chắn là có rồi, và ngài ấy mới chỉ đến vào ngày hôm qua cốt để gặp luật sư của mình.
Vị luật sư gật đầu.
"Tôi chính là vị đó. Xin hãy phiền ông thông báo cho Ngài Anthony biết về sự có mặt của tôi."
Ông Chadber cúi gập người vô cùng cung kính, và khẩn khoản mời vị luật sư đừng nán lại căn phòng giải khát lộng gió này. Ngài Anthony sẽ không bao giờ tha thứ cho ông nếu ông để vị luật sư của mình phải chờ đợi ở đó. Ngài có muốn sang phòng riêng của Ngài Anthony không?
Một nụ cười vô cùng nhạt thoáng qua trên khuôn mặt gầy gò của vị luật sư khi ông bước đi dọc theo hành lang theo sau lưng ông Chadber.
Ông được dẫn vào một căn phòng trần thấp, dễ chịu nhìn ra con đường nhỏ yên tĩnh, rồi được để lại một mình trong lúc ông Chadber đi tìm Ngài Anthony.
Căn phòng có tường và trần ốp gỗ sồi, với rèm cửa màu xanh dương che khung cửa sổ và những chiếc đệm màu xanh trên chiếc ghế dài lưng cao đặt cạnh lò sưởi. Ở giữa phòng kê một chiếc bàn trải khăn trắng tinh cùng bộ đồ ăn dọn sẵn cho hai người. Một chiếc bàn nhỏ hơn nằm bên cạnh lò sưởi, đi kèm một ghế tựa và một ghế đẩu.
Vị luật sư lặng lẽ quan sát xung quanh, và ngầm suy ngẫm về thái độ quay ngoắt đột ngột của ông chủ quán. Xem ra Ngài Anthony là một nhân vật có thế giá tại quán Chequers.
Tuy vậy, người đàn ông nhỏ thó rõ ràng vẫn đang phiền muộn, ông bắt đầu đi bách bộ qua lại, cằm gục xuống ngực và hai tay đằng sau lưng. Ông đến đây để tìm kiếm người con trai đã thất sủng của một vị Bá tước, và ông sợ hãi những gì mình sắp phải đối mặt.
Sáu năm trước, Lord John Carstares, người con trai cả của Bá tước xứ Wyncham, đã cùng người em trai là Tôn sư Richard tham dự một bữa tiệc đánh bài, để rồi ra về như một kẻ nhơ nhớp.
Việc Jack Carstares gian lận là điều khó tin, nực cười, và thoạt đầu chẳng ai tin vào câu chuyện lan truyền nhanh chóng ấy. Nhưng chính anh ta đã xác nhận câu chuyện đó một cách thách thức và không mêm chút hổ thẹn, trước khi cưỡi ngựa bỏ đi, theo lời đồn là sang Pháp và những vùng đất nước ngoài. Người em Richard thì ở lại, theo lời đồn đại trong vùng, để kết hôn với người tiểu thư mà cả hai anh em đều đem lòng yêu mến. Kể từ đó không ai còn hay tin gì về Lord John nữa, và vị Bá tước đầy phẫn nộ đã cấm nhắc đến tên anh tại Wyncham, đồng thời thề sẽ tước quyền thừa kế của đứa con hoang đàng. Richard kết hôn với tiểu thư Lavinia xinh đẹp và đưa nàng về sinh sống tại dinh thự lớn, giờ đây bỗng trở nên quạnh hiu lạ lùng khi thiếu vắng sự hiện diện đầy sức hút của Lord John; thế nhưng, thay vì ra vẻ của một chú rể hoan hỉ, anh ta dường như mang cả nỗi ảm đạm từ tuần trăng mật trở về, trầm ngâm và bất hạnh xiết bao.
Sáu năm trôi qua chậm chạp mà chẳng mang lại bất kỳ tin tức nào về Lord John, để rồi hai tháng trước, trong chuyến hành trình từ London về Wyncham, xe ngựa của Richard đã bị chặn đường bởi một tên cướp đường hóa ra lại chính là vị quý tộc lêu lổng ấy.
Cảm xúc của Richard lúc đó có thể tưởng tượng được. Riêng Lord John thì hoàn toàn dửng dưng trước mọi thứ ngoại trừ sự hài hước của tình huống trớ trêu đó. Điểm này đã tác động mạnh mẽ nhất đến anh, và anh đã bật cười sảng khoái khiến Richard nghẹn đắng cổ họng, đồng thời khoét sâu thêm một vết đau trong tim.
Trước sự nài nỉ của em trai, John đã đọc địa chỉ quán trọ "phòng khi có bất trắc", và dặn cậu ta hãy hỏi tìm "Ngài Anthony Ferndale" nếu có lúc cần đến mình. Rồi với một cái bắt tay thật chặt, anh quất ngựa phi vào màn đêm tĩnh mịch...
Vị luật sư ngừng bước đi bất định để lắng nghe. Vọng lại từ cuối hành lang là tiếng gót giày cao nện trên sàn gỗ, đi kèm với một tiếng sột soạt nhè nhẹ như tiếng lụa là cứng cáp.
Người đàn ông nhỏ thó bỗng đưa tay giật giật chiếc khăn quàng cổ. Giả sử... giả sử Lord John hào hoa ngày nào giờ đây không còn hào hoa nữa thì sao? Giả sử... ông không dám giả sử thêm điều gì nữa. Cẩn trọng và lo lắng, ông rút một cuộn giấy da từ trong túi ra và đứng mân mê nó.
Một bàn tay vững chãi đặt lên tay nắm cửa, xoay một vòng dứt khoát. Cánh cửa mở ra để lộ một bóng người tựa như ảo ảnh, rồi sập lại kêu cái rắc.
Vị luật sư sững sờ nhận ra mình đang đối mặt với một quý ông dáng người mảnh khảnh, hơi cao, đang cúi chào ông thật sâu, một tay duyên dáng vẫy chiếc mũ tam giác lịch lãm, tay kia nâng niu nhẹ nhàng chiếc gậy ba toa và chiếc khăn tay thơm thoảng mùi hương. Anh ăn mặc theo đúng mốt thời thượng ở Versailles, khoác chiếc áo khoác chít eo vạt rộng màu tử đinh hương nhạt thêu viền bạc, mặc quần chẽn và tất màu trắng, cùng chiếc áo ghi lê bằng sa tanh thêu hoa. Dưới chân anh đi đôi giày gót đỏ cao gắn khóa bạc, trong khi mái tóc chải chuốt theo mốt mới nhất, được uốn xoăn và xịt phấn cầu kỳ mang đậm phong cách Paris, đang tô điểm cho đầu người thanh niên tuấn tú. Nằm ẩn mình trong lớp ren sủi bọt ở chiếc cổ áo là một viên kim cương lấp lánh, còn trên bàn tay thon thả, nửa bị che khuất bởi những lớp ren rũ xuống, là một viên ngọc lục bảo to bản đang ánh lên những tia sáng rực rỡ.
Vị luật sư cứ ngẩn người nhìn mãi nhìn mãi, và chỉ đến khi một cặp mắt xanh thẳm, có phần đượm buồn nhìn thẳng vào ông với ánh nhìn tiếu lâm, ông mới tìm lại được tiếng nói của mình. Lúc bấy giờ, vẻ kinh ngạc hiện lên trên gương mặt ông, và ông bước lên nửa bước.
"Thiếu gia Jack!" ông thảng thốt. "Thiếu gia... Jack!"
Vị quý ông lịch lãm bước tới và giơ một bàn tay ra hiệu ngăn lại. Miếng dán ở khóe miệng anh khẽ run rẩy, và đôi mắt xanh ánh lên vẻ tinh nghịch.
"Ta thấy ngài có vẻ không nhận ra ta, ngài Warburton," anh nói, giọng điệu mang theo sự thú vị, nhè nhẹ kéo dài. "Cho phép ta tự giới thiệu: Ngài Anthony Ferndale, xin sẵn sàng phục vụ ngài!"
Một nét hài hước xuất hiện trong đôi mắt vị luật sư khi ông siết lấy bàn tay đang đưa ra.
"Tôi nghĩ có lẽ ngài cũng không nhận ra chính mình đấy, thưa quý ngài," ông đáp lại khô khốc.
Lord John đặt chiếc mũ và gậy xuống chiếc bàn nhỏ, tỏ vẻ hơi tò mò.
"Ý ngài là sao, ngài Warburton?"
"Tôi đến đây, thưa quý ngài, để báo cho ngài biết rằng Đức ông, thân phụ ngài, đã qua đời cách đây một tháng."
Đôi mắt xanh mở lớn, bỗng chốc đanh lại, rồi lại nheo nheo.
"Thật vậy sao? Chà chà! Chắc chắn là do đột quỵ rồi phải không?"
Đôi môi vị luật sư giật giật không kiểm soát được.
"Không, thưa thiếu gia Jack; đức ông qua đời vì trụy tim."
“Thế ư? Trời ạ! Nhưng ngài không định ngồi xuống sao, thưa ngài? Chỉ chốc lát nữa thôi là người hầu của ta sẽ giục đầu bếp dọn cơm tối. Mong ngài sẽ nể mặt ta chứ?"
Vị luật sư lầm bầm bày tỏ lòng biết ơn rồi ngồi xuống chiếc ghế dài, ánh mắt đầy vẻ khó hiểu dõi theo người đối diện.
Vị Bá tước kéo một chiếc ghế lại gần và duỗi chân về phía lò sưởi.
"Sáu năm, hử? Ta quả thực thấy thật tuyệt vời khi được nhìn thấy lại gương mặt ngài, ngài Warburton... Và ta đã thành Bá tước rồi ư? Vừa là Bá tước lại vừa là một tên cướp đường khét tiếng, lạy Chúa!" Anh khẽ cười.
"Tôi đang giữ các văn kiện đây, thưa quý ngài..."
Carstares nheo mắt nhìn cuộn giấy qua chiếc kính cận cầm tay.
"Ta thấy rồi. Xin hãy cất nó trở lại túi đi, ngài Warburton."
"Nhưng có những thủ tục pháp lý nhất định phải tuân theo, thưa quý ngài..."
"Chính xác. Xin đừng nhắc đến chúng làm gì!"
"Nhưng thưa ngài!"
Bấy giờ vị Bá tước mỉm cười, nụ cười ngọt ngào và cuốn hút đến lạ kỳ.
"Ít nhất là cho đến khi dùng bữa tối xong xuôi đã chứ, Warburton! Thay vào đó, ngài hãy kể cho ta nghe ngài đã tìm ra ta bằng cách nào đi?"
"Chính ngài Richard đã chỉ đường cho tôi đến đây, thưa ngài."
"À, phải rồi! Ta quên mất là mình đã khai ra chỗ ẩn náu của mình khi chặn đường cậu ta."
Vị luật sư suýt rùng mình trước lời nhắc đến cái nghề nghiệp tai tiếng của vị quý tộc một cách thản nhiên và trơ trẽn đến thế.
"Ơ... quả thật vậy, thưa ngài. Ngài Richard rất mong ngài trở về."
Gương mặt trẻ tuổi tuấn tú bỗng tối sầm lại. Vị Bá tước lắc đầu.
"Không thể nào, ngài Warburton thân mến ạ. Ta tin chắc Dick chưa bao giờ thốt ra một lời đề nghị ngớ ngẩn đến thế. Nào, thú nhận đi! Đó là do ngài tự bịa ra phải không?"
Warburton phớt lờ giọng điệu trêu chọc và nói một cách rất từ tốn.
"Dù sao đi nữa, thưa quý ngài, tôi tin rằng cậu ấy rất khao khát được chuộc lại... lỗi lầm."
Carstares ném cho ông một cái nhìn sắc sảo và đầy nghi ngờ.
"A!"
"Vâng, thưa ngài. Chuộc lỗi."
Vị Bá tước nheo mắt nhìn viên ngọc lục bảo của mình qua hàng mi khép hờ.
"Nhưng tại sao lại phải... chuộc lỗi, hả Warburton?" anh hỏi.
"Đó chẳng phải là từ đúng sao, thưa ngài?"
"Ta thú nhận là mình thấy nó có vẻ không phù hợp lắm. Chắc là do đầu óc ta kém cỏi chăng."
"Trước đây ngài đâu có thế, thưa quý ngài."
"Không ư? Nhưng sáu năm có thể làm thay đổi một con người, Warburton. Xin hỏi, ngài Carstares vẫn khỏe chứ?"
“Tôi tin là vậy, thưa ngài,” vị luật sư đáp, cau mày trước màn chuyển chủ đề một cách khéo léo ấy.
"Còn phu nhân Lavinia?"
"Vẫn khỏe." Ngài Warburton đăm đăm nhìn thẳng sang phía anh, nhận thấy điều đó, đôi mắt vị Bá tước lại ánh lên vẻ tinh nghịch tràn ngập sự trêu chọc.
"Ta rất đỗi vui mừng khi nghe điều đó. Xin hãy gửi lời thăm hỏi của ta tới ngài Carstares và bảo cậu ta cứ tùy nghi sử dụng dinh thự Wyncham theo ý mình."
"Thưa ngài! Thiếu gia Jack! Tôi khẩn khoản xin ngài!" vị luật sư thốt lên, rồi chồm dậy, bước đi đầy vẻ kích động, hai tay run rẩy, gương mặt phờ phạc.
Vị Bá tước khựng lại trên ghế. Anh lo lắng dõi theo từng chuyển động giật cục của người kia, nhưng giọng nói khi cất lên vẫn điềm tĩnh và lạnh lùng.
"Sao nào, thưa ngài?"
Ngài Warburton quay phắt lại, tiến về phía lò sưởi, đăm đăm nhìn xuống vẻ mặt dửng dưng của vị Bá tước với sự khẩn khoản. Phải mất một lúc cố gắng ông mới kìm nén được cảm xúc của mình.
"Thiếu gia Jack, tốt hơn hết là tôi nên nói ra những gì ngài đã đoán trước được. Tôi biết rồi."
Một bên mày kiêu kỳ khẽ nhướng lên.
"Ngài biết điều gì cơ, ngài Warburton?"
"Rằng ngài vô tội!"
"Vô tội trong chuyện gì, ngài Warburton?"
"Về vụ gian lận đánh bài, thưa ngài!"
Vị Bá tước thả lỏng người, phủi nhẹ một hạt bụi trên cổ tay áo lớn.
"Ta cảm thấy tiếc vì phải làm ngài vỡ mộng đấy, ngài Warburton ạ."
"Thưa ngài, xin đừng quanh co với tôi nữa! Chẳng lẽ ngài không thể tin tưởng tôi sao?"
"Tất nhiên là ta tin, thưa ngài."
"Vậy thì xin đừng tiếp tục diễn kịch với tôi nữa; đúng vậy, cũng đừng nhìn tôi với vẻ mặt lạnh lùng thế! Tôi đã nhìn ngài lớn lên từ trong cái nôi, cả thiếu gia Dick nữa, và tôi thấu hiểu cả hai người đến chân tơ kẽ tóc. Tôi biết ngài chưa bao giờ gian lận ở nhà đại tá Dare hay bất cứ nơi nào khác! Lúc đó tôi có thể thề có Chúa—phải, ngay khi nhìn thấy sắc mặt của thiếu gia Dick, tôi đã nhận ra ngay chính cậu ta mới là kẻ chơi xấu, còn ngài chỉ đứng ra gánh tội thay!"
"Không!"
"Tôi rõ quá mà! Thiếu gia Jack, ngài có dám nhìn thẳng vào mắt tôi và phủ nhận những lời tôi vừa nói một cách thành thật không? Có dám không? Có dám không?" Vị Bá tước ngồi lặng thinh.
Thở dài một tiếng, Warburton lại sụp xuống ghế dài. Khuôn mặt ông đỏ bừng, đôi mắt sáng rực, nhưng ông lại cất giọng điềm tĩnh trở lại.
"Tất nhiên là ngài không dám rồi. Tôi chưa từng thấy ngài nói dối bao giờ. Ngài không cần phải sợ rằng tôi sẽ phản bội ngài. Tôi đã giữ im lặng suốt ngấy ấy năm vì lợi ích của đức ông, và giờ tôi sẽ không hé răng cho đến khi ngài cho phép."
"Mà ta sẽ chẳng bao giờ cho phép đâu."
"Thiếu gia Jack, xin ngài hãy nghĩ lại cho thấu đáo! Giờ đây khi đức ông đã qua đời..."
"Nó chẳng thay đổi được gì cả."
"Không thay đổi ư? Không phải vì nghĩ cho ngài ấy sao? Không phải vì ngài biết đức ông yêu thương thiếu gia Dick nhường nào sao?"
"Không."
"Thế thì là vì phu nhân Lavinia..."
"Không."
"Nhưng mà..."
Vị Bá tước mỉm cười buồn bã.
"À, Warburton! Thế mà ngài cứ quả quyết là thấu hiểu chúng tôi đến tận chân tơ kẽ tóc cơ đấy! Ngoài ngài ấy ra thì còn vì ai vào đây nữa chứ?"
"Tôi đã sợ điều đó mà!" Vị luật sư có cử chỉ tuyệt vọng buông thõng hai tay. "Ngài vẫn không chịu trở về sao?"
"Không, Warburton, ta sẽ không về; Dick có thể quản lý các điền trang của ta. Ta vẫn sẽ ở lại với con đường này."
Warburton tung ra nỗ lực cuối cùng.
"Thưa quý ngài!" ông kêu lên trong tuyệt vọng, "Lẽ nào ngài không mảy may nghĩ đến nỗi nhục nhã giáng xuống gia tộc nếu ngài bị bắt hay sao?"
Bóng tối bỗng tan biến khỏi đôi mắt vị Bá tước.
"Ngài Warburton, ta phải phàn nàn là ngài có một tư duy thật ảm đạm đấy! Ngài biết không, ta vốn chẳng hề nghĩ đến một tình huống khó chịu đến thế đâu! Ta thề là ta sinh ra không phải để lên giá treo cổ!"
Vị luật sư hẳn đã nói thêm nếu như sự xuất hiện của một người hầu mang theo chiếc khay đầy ắp đồ ăn không đặt dấu chấm hết cho mọi cuộc trò chuyện riêng tư. Gã đặt các món ăn lên bàn, thắp nến và sắp xếp hai chiếc ghế.
"Bữa tối đã được dọn xong, thưa ngài," hắn nói.
Vị Bá tước gật đầu, ra hiệu nhẹ nhàng về phía các khung cửa sổ. Lập tức người hầu bước đến kéo sập những tấm rèm dày che kín lại.
Vị Bá tước quay sang ngài Warburton.
"Ý ngài thế nào, thưa ngài? Chúng ta dùng rượu vang đỏ burgundy hay claret đây, hay ngài thích rượu sack hơn?"
Warburton quyết định chọn claret.
"Rượu claret nhé, Jim," Carstares ra lệnh, rồi đứng phắt dậy.
"Ta hy vọng quãng đường đi đã làm ngài thèm ăn rồi đấy, Warburton, bởi vì lão Chadber chân chất sẽ tổn thương ghê lắm nếu ngài không thưởng thức trọn vẹn những con gà mái béo tốt của lão ta đấy."
“Tôi sẽ cố gắng không làm tổn thương tình cảm của lão,” vị luật sư đáp lại với đôi mắt lấp lánh nụ cười, rồi ngồi vào bàn.
Dù ông Chadber có những khuyết điểm gì đi nữa, thì ông ta vẫn sở hữu một đầu bếp xuất sắc. Ngài Warburton đã có một bữa tối vô cùng ngon miệng, bắt đầu với món vịt béo và tiếp nối qua vô số các món ăn cấu thành bữa tiệc.
Khi bàn ăn đã được dọn sạch, người hầu lui ra và chai rượu vang Bồ Đào Nha được đặt trước mặt họ, ông lại cố gắng lái câu chuyện trở lại quỹ đạo ban đầu. Nhưng ông đã tính toán sai vị Bá tước, để rồi chẳng mấy chốc lại thấy mình đang bàn luận về cuộc nổi loạn gần đây của phe Kẻ Giả Mạo. Ông bỗng ngồi thẳng người dậy.
“Có những lời đồn đại rằng ngài đã từng đi theo Hoàng tử, thưa ngài.”
Carstares đặt ly rượu xuống với vẻ ngạc nhiên thực sự.
“Ta ư?”
“Quả thật vậy. Tôi không rõ tin đồn bắt nguồn từ đâu, nhưng nó đã lan đến Wyncham. Đức ông không nói gì cả, nhưng tôi nghĩ ngài Richard hầu như chẳng tin chuyện đó.”
“Ta hy vọng là thế! Tại sao họ lại nghĩ ta đã biến thành kẻ phản loạn cơ chứ?”
Ngài Warburton cau mày.
“Kẻ phản loạn, thưa ngài?”
“Kẻ phản loạn, ngài Warburton. Ta đã từng phục vụ dưới triều đại của Quốc vương chúng ta đấy.”
“Dòng họ Carstares từ xưa đến nay vẫn luôn là những người ủng hộ đảng Tory, thưa thiếu gia Jack, luôn trung thành với vị vua đích thực của họ.”
“Ngài Warburton thân mến, ta chẳng nợ nần gì các hoàng tử nhà Stuart cả. Ta sinh ra dưới thời vua George Đệ nhất, và ta xin quả quyết rằng mình là một người theo đảng Whig thuần túy.”
Warburton lắc đầu đầy vẻ không đồng tình.
“Chưa từng có một ai theo đảng Whig trong gia tộc Wyncham cả, thưa ngài.”
“Và ngài hy vọng sẽ không bao giờ có thêm ai như thế nữa phải không? Thế còn Dick thì sao? Cậu ta có trung thành với kẻ giả mạo không?”
“Tôi nghĩ ngài Richard không quan tâm đến chính trị, thưa ngài.”
Carstares nhướng mày, và một sự im lặng bao trùm.
Sau một hoặc hai phút, ngài Warburton hắng giọng.
“Tôi... tôi cho rằng, thưa ngài... ngài không có ý định... ừm... từ bỏ cái... ừm... nghề nghiệp của mình chứ?”
Vị Bá tước bật ra một tiếng cười không thể kìm nén.
“Lạy Chúa, ngài Warburton, ta chỉ vừa mới bắt đầu thôi mà!”
“Mới bắt đầu... Nhưng cách đây một năm, ngài Richard...”
“Ta đã chặn đường cậu ta chứ gì? Phải, nhưng thú thật với ngài là dạo này ta chẳng làm mấy việc đó nữa đâu!”
“Thế thì, thưa ngài, ngài không phải là một kẻ... ừm... khét tiếng sao?”
“Lạy Chúa tôi, không! Khét tiếng cơ đấy! Thú nhận đi, Warburton, ngài tưởng ta là một nhân vật anh hùng nào đó phăng phao lên chứ? Chẳng hạn như ‘Quý ông Harry’ sao?”
Warburton đỏ bừng mặt.
“Vâng, thưa ngài... tôi... ừm... cũng có tự hỏi.”
“Xem ra ta lại làm ngài thất vọng rồi. Ta ngờ rằng sở cảnh sát Bow Street chưa từng nghe đến tên ta đâu—và—nói thật lòng nhé—đó chẳng phải là một công việc quá hấp dẫn đối với tâm can ta.”
“Vậy tại sao, thưa ngài, ngài vẫn tiếp tục làm?”
“Ta phải có cớ gì đó để lang thang khắp xứ sở chứ,” Jack biện bạch. “Ta không thể cứ ngồi không mãi được.”
“Ngài đâu có bị... buộc phải... ừm... cướp bóc chứ, thưa ngài?”
Carstares nhăn trán vẻ dò hỏi.
"Buộc phải ư? À—ta hiểu ý ngài rồi. Không, Warburton, ta có đủ tiền cho các nhu cầu của mình—giờ đây thì có; đã từng có lúc... nhưng chuyện đó qua rồi. Ta đi cướp là vì muốn tìm niềm vui thôi."
Warburton đăm đăm nhìn thẳng sang anh.
“Tôi cảm thấy ngạc nhiên, thưa ngài, khi một người mang họ Carstares như ngài lại thấy việc đó... đáng vui.”
John lặng thinh trong giây lát, và khi cuối cùng anh cất lời, giọng điệu anh mang theo vẻ thách thức cùng một sự cay đắng hiếm thấy ở anh.
“Thế giới này, ngài Warburton ạ, đối xử với ta chẳng lấy gì làm tử tế để mà ta phải bận tâm cắn rứt lương tâm. Nhưng nếu điều đó làm ngài thấy thỏa mãn khi biết được, ta sẽ nói cho ngài hay rằng những vụ cướp của ta diễn ra rất thưa thớt, cách nhau một khoảng thời gian dài. Lúc nãy ngài có nhắc đến... à... cái kết cục có thể xảy ra của ta... trên giá treo cổ ở Tyburn. Tôi nghĩ ngài không cần phải lo lắng sẽ phải nghe về chuyện đó đâu.”
“Tôi... Điều đó làm tôi rất thỏa mãn, thưa ngài, tôi thú nhận thế,” vị luật sư ấp úng, rồi chẳng tìm được gì để nói thêm nữa. Sau một khoảng lặng kéo dài, ông lại lôi cuộn giấy da cồng kềnh ra và đặt nó trước mặt vị Bá tước kèm theo một tiếng lẩm bẩm đầy vẻ xin lỗi:
"Chuyện làm ăn, thưa ngài!"
Carstares rời khỏi những tầng mây suy tưởng và nhìn chằm chằm vào bưu kiện với vẻ chán ghét thấy rõ. Anh thong thả rót đầy ly của mình và của người bạn đồng hành. Xong xuôi, anh thở dài sườn sượt, bắt gặp ánh mắt của ngài Warburton, mỉm cười đáp lại cái nhìn tiếu lâm ấy và phá vỡ lớp niêm phong.
"Vì ngài cứ khăng khăng đòi... chuyện làm ăn nào!"
Ngài Warburton ở lại qua đêm tại quán Chequers và lên chuyến xe ngựa lúc hai giờ chiều hôm sau để trở về Wyncham. Ông đã chơi bài piquet và ecarte với vị Bá tước suốt buổi tối, rồi lui về phòng ngủ mà không tìm được cơ hội nào để biện bạch cho sứ mệnh của mình như vẫn hằng mong đợi. Mỗi lần ông cố tình lái câu chuyện theo hướng đó, ông lại bị dẫn dắt một cách nhẹ nhàng nhưng kiên quyết sang những đề tài an toàn hơn, và chẳng hiểu sao ông lại thấy việc quay trở lại vấn đề cũ là điều bất khả thi. Vị Bá tước là một người bạn đồng hành vui vẻ và quyến rũ nhất, nhưng tuyệt nhiên không chịu nói chuyện "làm ăn". Anh đãi vị luật sư những giai thoại cay nồng cùng những câu chuyện ở trời Tây, nhưng chưa một lần cho phép ngài Warburton nhắc đến gia đình hay người em trai của mình.
Vị luật sư lui về nghỉ ngơi với tâm trạng phần nào được trấn an bởi tinh thần phấn chấn của đối phương, nhưng đồng thời cũng chán nản vì thất bại trong việc thuyết phục Carstares trở về Wyncham.
Sáng hôm sau, dù mãi đến mười hai giờ mới thức dậy, ông vẫn ra trước vị Bá tước — người chỉ xuất hiện kịp lúc cho bữa trưa được dọn sẵn trong phòng khách ốp gỗ sồi như hôm trước.
Anh bước vào phòng với phong thái thong thả nhưng dứt khoát quen thuộc và cúi chào ngài Warburton một cách thật cung kính. Sau đó anh kéo ông đi xem con ngựa cái Jenny của mình, con vật mà anh vô cùng tự hào. Đến khi họ quay trở lại phòng khách thì bữa trưa đã được dọn lên, và ngài Warburton nhận ra mình hầu như chẳng còn chút thời gian nào để thổ lộ tâm sự.
Gã người hầu của vị Bá tước cứ lảng vảng mãi trong phòng để phục vụ họ, cho đến khi chủ nhân bảo hắn đi chuẩn bị va-li cho vị luật sư. Khi cánh cửa vừa khép lại sau bóng dáng đang khuất dần, Carstares ngả người ra lưng ghế, nở một nụ cười nhợt nhạt đượm buồn, rồi quay sang người bạn đồng hành.
"Ta biết ngài muốn khuyên can ta, ngài Warburton, và quả thực ta sẽ lắng nghe nếu bắt buộc phải thế. Nhưng tin ta đi, ta thực sự mong ngài để yên cho chủ đề ấy đi thôi."
Warburton cảm nhận được sự quyết đoán trong giọng nói của anh, và một cách khôn ngoan, ông vứt bỏ cơ hội cuối cùng của mình.
"Tôi hiểu điều đó thật đau lòng, thưa ngài, và tôi sẽ không nói gì thêm nữa. Chỉ xin ngài hãy ghi nhớ... và suy ngẫm về nó, tôi khẩn khoản đấy!"
Sự lo lắng hiện rõ trên khuôn mặt ông đã chạm đến trái tim vị Bá tước.
"Ta xin thề là ngài quá đỗi tốt bụng với ta, ngài Warburton. Ta chỉ có thể nói rằng ta vô cùng trân trọng sự tử tế của ngài... và cả sự kiên nhẫn của ngài nữa. Và ta hy vọng ngài sẽ tha thứ cho vẻ cộc cằn ngoài mặt của ta để tin rằng ta thực lòng biết ơn ngài."
"Ước gì tôi có thể làm nhiều điều hơn cho ngài, thiếu gia Jack!" Warburton ấp úng, đau khổ trước âm điệu đượm buồn trong giọng nói của người mà ông hết mực yêu quý. Chẳng còn thời gian để nói thêm; chiếc xe ngựa đã đợi sẵn bên ngoài, và chiếc va-li của ông đã được cẩu lên xe. Khi họ đứng bên nhau ở mái hiên, ông chỉ có thể siết chặt tay vị Bá tước và nói lời từ biệt. Sau đó ông vội vã leo lên xe, và cánh cửa được sập mạnh lại phía sau.
Vị Bá tước cúi chào, dõi theo chiếc xe nặng nề chuyển động rồi lăn bánh đi khuất cuối con đường. Rồi với một tiếng thở dài nén chặt, anh quay người bước về phía chuồng ngựa. Gã người hầu trông thấy anh đến liền lập tức tiến ra đón.
"Con ngựa cái hả ngài?"
"Đúng như cậu nói đấy, Jim—con ngựa. Trong vòng một tiếng nữa."
Anh quay đi và toan bước tản bộ trở lại.
"Thưa ngài... thưa ngài chủ!"
Anh khựng lại, ngoái đầu nhìn qua vai.
"Sao thế?"
"Bọn chúng đang lùng sục đấy, thưa ngài. Tốt nhất là nên cẩn thận."
"Lúc nào chúng chẳng thế hả Jim. Dù sao cũng cảm ơn cậu."
"Ng... ngài không dẫn tôi đi cùng sao, thưa ngài?" gã nài nỉ.
"Dẫn cậu đi ư? Lạy Chúa, không! Ta không có ý định kéo cậu vào hiểm nguy đâu. Và cậu phục vụ ta tốt nhất bằng cách ở lại để thực hiện các mệnh lệnh của ta."
Gã người hầu lùi lại.
"Vâng, thưa ngài; nhưng... nhưng..."
"Chẳng có nhưng nhó gì cả, Jim."
"Dâng ngài... nhưng ngài sẽ cẩn trọng chứ?"
"Ta sẽ là kẻ thận trọng nhất trên đời." Anh vừa cất lời vừa bước đi, rẽ thẳng vào trong nhà.
Chỉ một tiếng sau, anh đã biến thành một con người hoàn toàn khác. Chiếc nhẫn ngọc lục bảo, chiếc gậy ba toa điệu đà đã không còn; vẻ uể oải cũng biến mất, nhường chỗ cho sự nhanh nhẹn và tác phong nhanh gọn đúng chất nhà nghề. Anh ăn mặc để cưỡi ngựa, với chiếc áo khoác màu da bò, quần chẽn da hươu và đôi bốt cao cổ sáng bóng. Một bộ tóc giả màu nâu giản dị thay thế cho mái tóc xịt phấn cầu kỳ lúc trước, và chiếc mũ tam góc màu đen đội lệch một cách bất kham trên đỉnh đầu.
Anh đứng ở khoảng hiên vắng bóng người, dõi theo Jim đang chằng buộc hành lý của mình lên yên ngựa, thỉnh thoảng lại đưa ra một chỉ dẫn ngắn gọn. Chẳng mấy chốc ông Chadber xuất hiện mang theo ly rượu mừng lên đường, anh uống cạn rồi trả lại kèm theo một lời cảm ơn và một đồng guinea giấu ở đáy ly.
Có ai đó từ bên trong cất giọng gọi vang, và người chủ quán cúi người sát đất, lầm bầm xin lỗi rồi biến mất.
Jim liếc nhìn lần cuối mấy sợi dây nịt yên ngựa, rồi để con ngựa cái đứng yên bình bên đường, tiến lại phía chủ nhân với đôi găng tay và chiếc roi da.
Carstares lầm lũi đón lấy, cúi xuống gõ nhịp roi vào bốt giày, ánh mắt đăm đăm nhìn vào khuôn mặt gã hầu.
"Cậu hãy thuê một chiếc xe ngựa, như thường lệ," cuối cùng anh lên tiếng, "và mang hành lý của ta đến..." (Anh khựng lại, cau mày)... "Lewes. Cậu hãy thuê một phòng ở khách sạn White Hart và đặt bữa tối. Ta sẽ mặc bộ... màu mơ và... ừm!"
"Màu xanh dương phải không ngài?" Jim bạo gan đoán chừng với ý định giúp ích cho chủ.
Đôi mắt chủ nhân nheo lại thành những nếp nhăn ở khóe.
"Cậu đúng là một kẻ hài hước đấy, Salter ạ. Màu mơ và màu kem. Màu kem ư? Vâng, đó là một ý nghĩ thú vị đấy—màu kem. Thế thôi nhé—Jenny!"
Con ngựa cái quay đầu lại, hí lên một tiếng khi anh tiến đến gần.
"Cô nương ngoan!" Anh nhẹ nhàng nhảy lên yên và vỗ về chiếc cổ óng mượt của nó. Rồi anh nghiêng người trên yên ngựa để nói thêm với Salter — người đang đứng bên cạnh, một tay giữ lấy dây cương.
"Áo choàng?"
"Ở sau lưng ngài đây ạ, thưa ngài."
"Tóc giả của ta?"
"Vâng, thưa ngài."
"Súng lục?"
"Đã lên đạn sẵn sàng, thưa ngài."
"Tốt. Ta sẽ đến Lewes kịp bữa tối — nếu may mắn."
"Vâng, thưa ngài. Ng... ngài sẽ cẩn trọng chứ?" gã lo lắng hỏi.
"Ta vừa nói với cậu rồi còn gì?" Anh ngồi thẳng người lên yên, thúc nhẹ gót giày vào hông ngựa, dành tặng người đầy tớ một nụ cười nhanh kèm theo cái gật đầu, rồi thong thả giục ngựa phi đi.