"Đây có phải là gã Lothario kiêu kỳ, hào hoa và vui vẻ ấy chăng?"
Đó là vào điệu nhảy thứ ba, giữa một khúc chuyển động phức tạp (và tiểu thư Chouteau đang chứng tỏ mình là một bạn nhảy vô cùng quyến rũ), tôi bỗng phát hiện ra rằng cả tiểu thư lẫn vị hiệp sĩ đều không còn nhảy nữa; tôi cũng chẳng thể thấy họ ở bất cứ đâu, mặc dù ánh mắt tôi nhanh chóng đảo qua từng lùm cây và góc khuất.
Một nỗi kinh hoàng vô cớ chợt bóp nghẹt lấy tôi, và tôi hết sức vắt óc suy nghĩ xem mình nên làm gì. Nếu tôi bỏ bạn nhảy để đuổi theo như hằng mong muốn, đội hình nhảy sẽ bị phá vỡ, và nhỡ những nỗi sợ của tôi chỉ là hão huyền thì tôi sẽ chẳng bao giờ dám ngẩng mặt lên nhìn các thiếu nữ St. Louis nữa. Thế nhưng, tôi thầm nghĩ nếu cứ chờ cho đến khi điệu nhảy kết thúc thì đã quá muộn để cứu vãn tình hình, trong khi tôi đã hứa là sẽ không để tiểu thư khuất tầm mắt. Lúc này, tôi thầm nguyền rủa sự dại dột của mình (kèm theo bao lời thề thốt bực bội) rằng, một khi đã đến buổi dã ngoại cốt để chăm sóc tiểu thư, sao tôi lại đi nhận lời khiêu vũ với bất kỳ thiếu nữ nào khác, dù cho cô ấy có quyến rũ đến đâu đi nữa.
Trong cơn đau đớn vì lưỡng lự, dẫu tôi vẫn đang bước điệu nhảy một cách ngẩn ngơ, những giọt mồ hôi lớn đã túa ra trên trán tôi. Ngay lúc ấy, điệu nhảy tạm dừng trong khoảnh khắc để đổi bước, và vượt lên trên những tiếng trò chuyện lao xao vừa bùng lên, tôi nghe thấy tiếng chim bắt cô trói cột vọng lại từ xa. Thế là đủ. Tôi cúi người thấp xuống và thì thầm với bạn nhảy của mình:
"Tiểu thư, cô có nghĩ ra được cái cớ nào để cả hai chúng ta xin phép rời khỏi điệu nhảy không? Cô có thể giả vờ đổ bệnh bất ngờ được chứ?"
Tiểu thư Chouteau ngước nhìn tôi nhanh chóng; tôi nghĩ có lúc nàng tưởng tôi muốn rủ nàng ra một góc nhỏ yên tĩnh để tình tứ lãng mạn, giống như mấy cặp đôi trẻ khác đang tận hưởng. Nhưng khi trông thấy gương mặt đầy lo lắng của tôi, nàng liền cất lời ngay, với sự tháo vát lanh lợi mà tôi vẫn thường thấy ở các thiếu nữ:
"Tất thảy tùy ngài, thưa monsieur! Chốc lát nữa ngài sẽ thấy tôi tái mặt đi, rồi chúng ta sẽ đến nhờ Gabriel Cerré và Marguerite Papin nhảy thay chỗ cho mình."
Nói được làm được: chẳng mấy chốc tôi thực sự thấy nàng tái mặt đi, và nàng cất giọng khá rõ ràng để những người đứng gần có thể nghe thấy:
"Tôi mệt lắm rồi, thưa ngài; tôi phải xin phép ngài cho dừng khiêu vũ thôi. May ra chúng ta có thể thuyết phục cặp đôi khác vào thay chỗ."
Tôi nghĩ Gabriel Cerré và tiểu thư Papin có phần hơi tiếc nuối khi phải ngắt quãng câu chuyện thú vị của họ, nhưng trước lời giãi bày của tiểu thư Chouteau rằng điệu nhảy sẽ bị dở dang và nàng thực sự không thể bước thêm bước nào nữa, họ đã rất nhã nhặn đồng ý thay thế chỗ chúng tôi.
Lúc đó, tôi buộc phải giải thích rất vội vàng với tiểu thư Chouteau lý do cho yêu cầu kỳ lạ của mình, và qua đó tôi đành phải hé lộ phần nào những mối lo âu của bản thân, đồng thời cầu xin nàng hãy giữ kín nếu có ai nhận ra rằng tôi cũng đã biến mất. Nàng tỏ ra là một đồng minh ăn ý, và khi tôi bày tỏ sự bối rối không biết nên tìm họ ở đâu, nàng chợt nhớ ra rằng mình từng thấy tiểu thư và vị hiệp sĩ, ngay lúc điệu nhảy bắt đầu, đã rẽ vào con đường mòn trong rừng dẫn vòng quanh hồ đến Suc nguồn Rock ở phía đầu hồ.
"Một chốn nghỉ ngơi ưa thích của đám trẻ, và đặc biệt," nàng nói thêm một cách tinh quái, "dành cho les amants [những kẻ yêu nhau]. "
Điệu nhảy diễn ra dồn dập và vẫn chưa kết thúc; họ chắc chưa đi quá xa để tôi có thể bắt kịp, và tôi thấy lòng nhẹ nhõm phần nào. Tuy nhiên, tôi phải lo chỗ ổn thỏa cho tiểu thư Chouteau giữa những người bạn của nàng; tôi không thể bỏ mặc nàng một cách bất lịch sự được, và từng giây phút chậm trễ cứ dằn vặt tôi khôn nguôi. Ngay khi việc ấy hoàn tất, tôi bắt gặp ánh mắt của Yorke (vì cậu ta đến chẳng bao lâu sau chúng tôi, và sau khi làm đủ mọi việc vặt tại bữa tiệc ngoài trời, giờ đang đứng xem các vũ công với nụ cười toe toét thích thú), bèn ra hiệu cho cậu ta đi theo mình.
Tôi lẩn vào lối mòn trong rừng, và Yorke không bắt tôi phải chờ lâu. Càng nhanh càng tốt, tôi kể cho cậu ta nghe những mối nghi ngờ của mình, rồi giục cậu ta lẻn vào khu rừng nơi buộc các con ngựa, dắt theo con ngựa của cậu ta và con Fatima đi theo một lối vòng để tránh bị phát hiện, rồi bám theo tôi trên con đường mòn dẫn lên đầu hồ.
Thật là yên tâm khi biết Yorke sẽ không bỏ lại tôi quá xa đằng sau, bởi dẫu tôi có lúc rất bực mình trước những trò nghịch ngợm và nụ cười quanh năm của cậu ta, tôi thừa biết cậu ta là một tay thiện chiến và vững vàng như sắt đá. Còn an tâm hơn nữa khi biết con Fatima sẽ nằm trong tầm gọi của tiếng còi, vì tôi chẳng biết mình sắp bước vào hiểm họa gì, và nếu những khu rừng tối tăm phủ bóng trên các vách đá ở bờ bên kia hồ kia lại đầy rẫy những kẻ thổ dân xảo quyệt như tiếng chim bắt cô trói cột liên hồi khiến tôi phỏng đoán, thì phương án duy nhất để cứu cả tiểu thư lẫn bản thân rất có thể là trên lưng con Fatima.
Thế nên, với tinh thần vững vàng hơn (dù tôi không chối cãi rằng tim mình vẫn đang đập thình thịch), tôi rảo bước thật nhanh theo lối mòn trong rừng hướng về phía đầu hồ. Tôi vốn là kẻ luôn nhạy cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên, có đôi tai hòa nhịp cùng muôn âm thanh của nó, vâng, và cả cái mũi thính nhạy với những mùi hương ngọt ngào; vậy nên dẫu tâm trí đang rối bời (vừa phóng đi vì sợ trễ, vừa nơm nớp lo hụt chân vào ổ phục kích nào đó của bọn chim bắt cô trói cột), tôi vẫn không sao kìm được sự chú ý trước cảnh ánh nắng tháng Mười xuyên qua những tán lá thưa rọi xuống dịu dàng, điểm xuyết lên lối đi những vệt sáng bóng và mảng bóng râm; trước những chú chim hồng tước rực rỡ và chim hoàng anh chói lọi chưa kịp bay về phương nam đang chuyền cành nô đùa tinh nghịch; và trước hương thơm ngọt ngào của những chiếc lá úa hòa quyện cùng tiếng hót dịu êm của loài chimét rừng. Những cây dương lá rụng đã trải sẵn một thảm vàng cho tôi bước đi, nhưng may mắn thay, trời vừa mưa hồi đêm qua nên lá vẫn còn ẩm và nhờ thế không phát ra tiếng lạo xạo dưới bước chân tôi.
Tôi đã rảo bước với tốc độ đến hụt hơi, bám theo con đường mòn uốn lượn theo bờ hồ gần một dặm đường, thì bỗng nghe thấy tiếng người nói chuyện cách đó không xa phía trước. Tôi khựng lại giây lát, tim đập nhanh đến mức chẳng thể nghe ngóng được gì. Phải, đó là giọng của một người đàn ông và một thiếu nữ, cất lên nho nhỏ như chỉ để cho riêng đối phương nghe thấy, và tôi không hoài nghi gì nữa, chính là tiểu thư và vị hiệp sĩ.
Giờ đây, việc phải đóng vai kẻ nghe lén khiến tôi vô cùng chán ghét, và tôi suýt chút nữa đã định đứng nguyên tại chỗ chờ cho họ nói xong chuyện và quay về. Ít ra thì tôi cũng ở đủ gần để ngăn chặn một vụ bắt cóc nếu chúng có ý đồ đó. Nhưng khi tôi đang chờ đợi, giọng tiểu thư bỗng cao hẳn lên, và tôi nghe thấy nàng nói trong giọng điệu đầy đau đớn:
"Xin đừng bắt tôi phải hoài nghi người giám hộ của mình! Tôi không thể tin rằng ông ấy làm điều sai trái! Ông ấy là người cha duy nhất mà tôi từng biết."
Tôi chẳng nghe được câu trả lời nào của vị hiệp sĩ ngoài hai từ "động cơ vụ lợi"; nhưng tôi thầm nghĩ, vì rõ ràng đây chẳng phải là những lời tỏ tình ngọt ngào gì mà tôi phải lắng nghe, mà là tên khốn đó đang bôi nhọ người bạn tốt của tôi - bác sĩ Saugrain, nên tôi có trách nhiệm phải vểnh tai lên mà nghe cho tường tận. Tôi rón rén bước tới, nơm nớp sợ một nhành cây khô hay chiếc lá giòn tan nào đó sẽ tố cáo sự hiện diện của mình, lại cũng lo sợ rằng vì không biết chính xác tiếng nói phát ra từ đâu, tôi có thể xông bổ vào họ mà không hay biết và cứ thế tự làm lộ tung tích.
Mà tôi suýt chút nữa thì làm thế thật. Chỉ thêm một bước chân nữa thôi, là tôi đã bước hụt qua mép của một gò đất thấp bao quanh một trũng đất hình cái bát. Một cụm sồi cao vút mọc lên từ chính giữa thung lũng nhỏ ấy, che chở cho một mạch nước bạc phun trào từ khối đá lớn rồi hóa thành dòng suối nhỏ róc rách vui tươi chảy qua những phiến đá và thảm rêu hướng về phía hồ.
Thì ra đây chính là Suối Rock, và là nguồn của Hồ Chouteau! Quả là một chốn bồng lai tiên cảnh cho các cặp đôi uyên ương, và tôi từng nghe nói nơi này rất đông các đôi trai gái lui tới. Một vành đai cây sumac đỏ rực che khuất mép gò đất và vô tình che chở luôn cả tôi khỏi tầm nhìn của hai con người đang đứng ngay phía dưới. Tôi vốn chẳng thích thú gì việc thám thính lén lút, nhưng tôi cảm thấy cả nghĩa vụ lẫn danh dự, cùng lời hứa danh dự với vị bác sĩ, đều đòi hỏi tôi phải giữ tiểu thư trong tầm mắt. Thế nên tôi thận trọng rướn người về trước và nhìn xuống.
Tiểu thư đang ngồi trên một tảng đá lớn, gương mặt hướng về phía tôi và ngước nhìn vị hiệp sĩ đang đứng quay lưng lại với tôi. Đôi mắt đen của nàng mở to ngỡ ngàng, chan chứa vẻ kinh ngạc và đau đớn; tôi không chắc có những giọt nước mắt trong đó hay không. Đôi lông mày thẳng của nàng nhíu lại thành một đường sâu thẳm, và đôi môi đỏ thắm vốn thường cong như cánh cung của thần Tình yêu nay mím chặt đầy nghiêm nghị. Tôi tự hỏi không biết vị hiệp sĩ đã thì thầm những gì bằng cái giọng trầm trầm ấy mà lại khiến nàng dao động sâu sắc đến thế. Khi hắn vừa dứt lời, tiểu thư liền vùng đứng dậy, sự phẫn nộ cao cả ánh lên trong đôi mắt rực sáng và giọng nói vang dội:
"Tôi không bao giờ có thể tin được điều đó! Hoặc là tôi chẳng có cơ ngơi nào như thế, hoặc ông ấy có lý do chính đáng nào đó nên chưa muốn nói cho tôi biết mà thôi. Tôi sẽ mãi không hoài nghi lòng chân thành và sự chính trực của ông ấy!"
Rồi tôi nghe thấy tiếng đáp lời của vị hiệp sĩ, trầm trầm và rành mạch:
"Thưa tiểu thư, những người bạn của cô ở Pháp đều hoài nghi cả hai - cả bạn của cha lẫn của mẹ cô. Họ đã cử tôi đến đây để tìm cô và đưa cô trở về cùng tôi với những điền trang giàu có, với tước vị và địa vị, cùng những người bạn hằng yêu thương cô. Nhưng họ thừa biết bác sĩ Saugrain sẽ không bao giờ chịu buông tay cô cho đến khi tự mình nắm quyền kiểm soát tài sản của cô, thế nên họ đã dặn dò tôi phải hết sức cẩn trọng và kín kẽ.
"Trong khu rừng đằng kia, ở bờ bên kia hồ, có một toán hộ tống đáng tin cậy đang đợi để phi ngựa đến Cape Girardeau, nơi có một con thuyền đang chờ đưa cô đi New Orleans. Tại New Orleans có sẵn một chiến thuyền sẵn sàng nhổ neo ngay khi tiểu thư đặt chân lên boong, và chỉ hơn một tháng nữa là cô đã có mặt ở Paris, giữa những người bạn sẽ đón chào cô bằng vòng tay rộng mở, vây quanh bởi mọi thứ xa hoa, sống cuộc đời của một quý bà lớn như cô đáng phải sống, giữa những bậc đại quý tộc nơi cô thuộc về, chứ không phải ở vùng đất hoang dã cằn cỗi này giữa đám thổ dân và lũ phàm phu tục tử. Và tiểu thư cho phép tôi được nói thêm rằng, chẳng có quý bà nào ở Pháp lại trời phú cho vẻ đẹp phù hợp để tô điểm cho địa vị cao quý ấy như cô. Cô sẽ khiến cả Paris phải quỳ rạp dưới chân mình. Hãy đi với tôi ngay bây giờ, thưa tiểu thư! Không còn thời gian để chần chừ nữa đâu. Bất cứ lúc nào chúng ta cũng có thể bị gián đoạn và khi đó thì đã quá muộn."
Mắt tôi không rời khỏi gương mặt tiểu thư suốt bài diễn văn dài dẵm ấy, và tôi thấy biểu cảm của nàng biến chuyển từ từ. Sự phẫn nộ chính đáng vẫn còn đó, nhưng tôi nhận ra bức tranh mà hắn vẽ ra về cuộc đời đang chờ đón nàng ở Paris đã bắt đầu khiến nàng mê hoặc. Nàng cất lời chậm rãi và đầy phân vân:
"Tôi sẽ kể hết mọi điều ngài vừa nói cho bác sĩ và phu nhân Saugrain nghe, và nếu điều đó là phải lẽ, họ sẽ để tôi đi cùng ngài. Tôi sẽ không hoài nghi những người bạn của mình đâu."
Tên ác nhân thấy mình đang dần chiếm ưu thế:
"Họ không phải bạn của cô! Họ là kẻ thù cay đắng nhất của cô. Họ đang giấu giếm cô khỏi mọi thứ có thể làm cho cuộc đời cô trở nên vĩ đại và tươi đẹp, với hy vọng trục lợi cho riêng mình một ngày nào đó. Họ sẽ không bao giờ để cô đi đâu! Nếu muốn giành lại gia đình, Paris, bạn bè, sự giàu sang, tước vị và quyền lực, thì phải làm ngay lập tức. Chậm thêm năm phút nữa có lẽ đã muộn. Cậu nhóc kia [hắn nói với vẻ khinh miệt khôn cùng] có lẽ đã phát hiện ra sự vắng mặt của cô và đang đi tìm rồi đấy."
Bỗng nhiên vị hiệp sĩ quỳ một chân xuống, tay đặt lên ngực. Tôi vội quay mặt đi ngay (vì không muốn nghe thứ mà tôi lo là một lời tỏ tình), và khi vừa quay lại, tôi thấy Yorke đang dắt hai con ngựa đi lên lối mòn, chúng đang rón rén dò dẫm từng bước như thể biết rằng tình huống đòi hỏi phải giữ bí mật tuyệt đối. Tôi ra hiệu cho Yorke cứ để nguyên ngựa ở đó (tôi biết chúng được huấn luyện kỹ đến mức sẽ đứng im phăng phắc mà không cần cột) và lặng lẽ tiến lại phía tôi. Tôi cảm thấy thời khắc giải cứu đã cận kề.
Cậu ta vừa rón rén leo lên đúng lúc vị hiệp sĩ dứt lời. Tôi đang bận quan sát vị trí của lũ ngựa và lên kế hoạch giải cứu nên không để ý đến Yorke, bằng không tôi đã có thể ngăn chặn chuyện sắp sửa xảy ra. Cậu ta đã lẻn ra phía sau tôi, và vì không biết mình đang đứng ngay mép vực, cậu ta đã bước thêm một bước vượt qua cả tôi. Dĩ nhiên là cậu ta lăn nhào xuống ngay lập tức, đầu lộn xuống chân, tung một cú lộn nhào trọn vẹn, rồi đáp xuống tư thế ngồi thẳng còng queo ngay trên cổ vị hiệp sĩ đang quỳ.
Trước tiếng kêu hoảng hốt của cậu ta, tôi vội quay lại đúng lúc thấy cậu ta đáp xuống; và nếu đây là lúc để cười thì đó quả là một cảnh tượng vô cùng buồn cười: biểu cảm hoảng sợ ngỡ ngàng trên mặt tiểu thư dần chuyển thành sự nôn mửa vì buồn cười không kìm được; vị hiệp sĩ thì chiếc mũi cắm giũa vào bụi đất, oằn oại không sao gượng dậy nổi và phun phì phì bằng tiếng Pháp đầy giận dữ; và cuối cùng là gã da đen lực lưỡng, tròng trắng mắt như muốn lồi cả ra ngoài vì kinh ngạc lẫn sợ hãi, cùng một tràng thốt lên không ngớt phát ra qua hàm răng trắng phau!
"Ôi! Ôi Chúa ơi! Ôi mẹ hiền ơi! Ôi Chúa nhân từ! Ôi trời đất ơi!"
Thế nhưng cậu ta chẳng hề có ý định đứng dậy, và tôi bắt đầu nghi ngờ rằng cậu ta đang tận hưởng tình cảnh này, bởi tên người Pháp càng phun nước bọt hùng hổ bao nhiêu thì gã da đen lại tru tréo to bấy nhiêu.
Đã đến lúc tôi phải can thiệp, nhưng tôi muốn tránh việc để lộ dấu vết rằng mình vừa đứng thám thính từ trên cao cùng với Yorke, bằng không tôi đã có thể dễ dàng nhảy ù xuống gò đất thấp. Vội vã nhìn quanh, tôi phát hiện ra một điều nãy giờ chưa chú ý: lối đi chính vòng qua chân gò đất dẫn vào thung lũng nhỏ từ phía dưới. Khi leo lên đỉnh gò, tôi đã đi theo một nhánh phụ của nó. Tôi chạy thịch xuống lối vào phía dưới của thung lũng, nhưng rồi dừng lại một thoáng để tạo dáng vẻ của một kẻ đang thong thả dạo bước. Tôi vờ như chưa hề nhìn thấy nhóm người đó cho đến khi đã tiến hẳn vào trong thung lũng nơi họ có thể thấy tôi. Lúc bấy giờ, tôi liền làm vẻ mặt kinh ngạc tột độ để làm nền cho tiểu thư (lúc này đã nhìn thấy tôi), và khi đã kịp hoàn hồn sau cơn ngỡ ngàng để có thể cất lời, tôi liền quở trách Yorke bằng giọng điệu nghiêm khắc:
Cậu đang làm cái trò quái quỷ gì trên lưng monsieur thế kia? Cậu coi ngài ấy là con ngựa chắc? Hay là con lứa? Xuống ngay lập tức, đồ ngốc, và bày tỏ lời xin lỗi thành khẩn nhất với vị hiệp sĩ đi.
Yorke chẳng sợ gì tông giọng nghiêm khắc của tôi cho lắm. Vừa tiếp tục tru lên như thể sắp có án mạng đến nơi, cậu ta vừa lém lỉnh nháy mắt một cái đầy táo tợn bằng bên mắt hướng về phía tôi, nhưng rồi cũng lồm cồm bò xuống, và tôi nhanh chân tiến đến đỡ vị hiệp sĩ đứng dậy. Trông hắn lúc này thật thảm hại, và tôi thấy nét mặt nín cười của tiểu thư bỗng chuyển thành sự thương hại và lo lắng. Máu từ mũi hắn đang xối xả dây bết khắp bộ cánh đẹp đẽ, gương mặt thì lấm lem máu me và bụi bẩn đến mức chẳng thể nhận ra đó là tên chải chuốt người Paris nữa.
Nhưng hắn đang chìm trong cơn giận dữ mù quáng đến mức lần đầu tiên trong đời lại phớt lờ cả bộ quần áo. Vừa lấy chiếc khăn tay ren mỏng manh thấm bớt máu, hắn vừa tuôn ra một tràng chửi rủa bằng cả tiếng Pháp lẫn tiếng Anh pha trộn, nhắm vào Yorke và vào tôi, nhưng chủ yếu là nhắm vào tôi. Tôi định chen vào vài lời xin lỗi lịch sự, nhưng hắn nhất quyết không chịu nghe.
"Ngài là một kẻ hèn hạ, một tên nhát gan, thưa ngài! Ngài dám lén lút theo dõi tiểu thư và tôi! Đồ hèn-n-n gạt! Ta đòi sự công bằng! Sacré Dieu! Chắc chắn ngài đã xúi giục gã da đen nhảy bổ lên lưng tôi! Ta sẽ trả th-h-hù!"
Và như thể được gợi nhắc bởi từ cuối cùng đó, hắn quay sang tiểu thư và nói bằng tiếng Pháp:
"Hãy bay trốn cùng tôi ngay lập tức, thưa tiểu thư! Cô sẽ không ở lại đây để chịu đựng lòng thương hại của một kẻ bám đuôi lén lút. Nhìn kìa! Tôi sẽ gọi những người bạn da đỏ của mình. Đừng sợ! Họ sẽ đưa cô đi, nhưng tôi sẽ sát cánh cùng cô, rồi chúng ta sẽ tìm ngựa để tẩu thoát."
Và chẳng đợi câu trả lời, hắn quay phắt đi rồi bắt chước tiếng kêu của chim bắt cô trói cột ba lần.
Tôi hiểu điều đó có nghĩa là gì — rằng chẳng mấy chốc tộc Osages sẽ kéo đến nơi; và tiếng hót đầu tiên vừa dứt khỏi môi hắn thì tôi cũng quay ngoắt người cất lên tiếng còi lanh lảnh vẫn thường gọi con Fatima đến bên mình.
Đúng như tôi dự đoán, tiếng chim bắt cô trói cột cuối cùng vừa dứt thì từ khu rừng ở bờ bên kia hồ, một cách lặng lẽ và chớp nhoáng, bóng tối đầu tiên rồi đến bóng tối thứ hai lần lượt lướt ra, cho đến khi có ít nhất một tá thổ dân, mang vũ khí và sơn vẽ đầy mặt, đang lao ào về phía chúng tôi với tốc độ nhanh như loài hươu nai. Chẳng mấy chốc nữa họ sẽ ập đến, và khi ấy mạng sống của cả Yorke lẫn tôi đều chẳng đáng một xu, và điều khó lòng chấp nhận hơn thế nữa, tiểu thư sẽ rơi vào tay bọn chúng làm tù binh.
Nàng đứng chết trân trong giây lát vì kinh hoàng trước cảnh lũ thổ dân đang lao tới như bay, rồi quay sang tôi với ánh mắt khẩn khoản đến xé lòng.
"Ôi, trốn đi, hãy trốn đi ngay lập tức!" nàng thốt lên, "ngài và gã da đen của ngài, trước khi quá muộn."
Tôi quay sang Yorke:
"Làm theo lời tiểu thư đi; dắt ngựa của cậu và tẩu thoát."
Yorke định phản đối, nhưng tôi chặn ngang không cho cậu ta há miệng.
"Không; cậu ở lại chỉ vướng chân tôi thôi. Sắp sửa có chuyện chẳng lành rồi đấy, ít ra cậu còn mang được tin tức về. Đi ngay lập tức!" Và chẳng đợi thêm mệnh lệnh nào nữa, Yorke quay người, trèo thốc lên vách gò đất và biến mất tảng.
"Nhưng ngài cũng phải đi chứ!" nàng kêu lên khi tôi quay lại nhìn nàng.
"Còn bỏ mặc cô ư?"
"Ôi, đừng bận tâm đến tôi! Họ sẽ không làm hại tôi đâu!" Và rồi, khi tôi vẫn đứng im phăng phắc với khẩu súng lục trong tay, chẳng có chút ý định nào bỏ mặc nàng cho sự nhân từ của lũ thổ dân cũng như sự tàn nhẫn kiểu dã thú của vị hiệp sĩ, nàng đâm ra tuyệt vọng, bám lấy tay tôi và dùng chút sức lực yếu ớt của mình đẩy tôi về hướng an toàn.
"Tôi nài nỉ ngài," nàng khẩn khoản, "nếu ngài còn chút tình nghĩa nào với tôi, hãy trốn đi trước khi quá muộn!"
"Thưa tiểu thư," tôi nói, "tôi sẽ không bước dù chỉ một bước khỏi chốn này trừ khi cô đi cùng tôi."
"Tôi chỉ làm vướng chân ngài thôi," nàng khóc nấc lên, "và dập tắt mọi hy vọng trốn thoát. Ôi, xin đừng ở lại vì tôi!"
"Thưa tiểu thư," vị hiệp sĩ lên tiếng, nãy giờ vẫn đang thưởng thức cảnh tượng này mà chẳng thèm che giấu chút khoái trá nào, "hãy đi cùng monsieur đi, vì ngài ấy đã có nhã ý như vậy."
Ngay khi hắn vừa dứt lời, tên thổ dân Osage đầu tiên đã lao vút vào trong thung lũng; những kẻ khác sát nút ngay sau hắn; nhưng cùng lúc ấy từ lối vào thung lũng gần chúng tôi hơn vang lên tiếng móng guốc nện rầm rập, và con Fatima đã hiện diện bên cạnh tôi, đôi mắt lóe sáng, móng guốc cào bới mặt đất, lỗ mũi khịt ra những hơi đầy phẫn nộ: vì nó thừa phỏng đoán rằng lũ thổ dân sơn vẽ kia đang đe dọa chủ nhân của nó.
Tôi đã nhảy lên lưng nó trong chớp mắt, rồi cúi người, vớt bổng tiểu thư lên yên sau phía trước tôi. Vòng tay trái ôm chặt lấy nàng, tôi giật cương quay ngoắt con Fatima theo đúng một câu lệnh ngắn gọn: "Đi!" và ngoảnh đầu lại khi nó bay vút qua mặt đất gồ ghề, tôi chĩa thẳng súng lục về phía vị hiệp sĩ.
"Đừng nhúc nhích, thưa monsieur, nếu không muốn mất mạng!" Tôi quát lên, và giữ nguyên tầm ngắm trong lúc chúng tôi phóng đi. Tôi biết bọn thổ dân đang chạy tút lên để đón đầu nhưng chẳng thèm bận tâm đến chúng cho đến khi vòng qua một tảng đá lớn, vị hiệp sĩ (với gương mặt tái mét vì tức giận và sự trả thù đổ bể, bởi mọi chuyện diễn ra quá nhanh đến mức hắn chẳng kịp rút súng lục ra để ngăn cản cuộc giải cứu cho đến khi đã quá muộn) nằm ngoài tầm ngắm của tôi, cũng như chúng tôi đã vượt khỏi tầm của hắn. Lúc đó, tôi nhanh chóng quay mũi súng về phía tên Osage dẫn đầu — chẳng hề sớm chút nào khi khẩu súng trường của hắn đã hướng thẳng vào chúng tôi — và bóp cò. Tên tội nghiệp ngã dúi về phía trước với một tiếng thét hoang dã làm thắt quặn tâm can tôi; thế nhưng, dẫu những kẻ khác vẫn đang lao lên với những tiếng hò hét man rợ để trả thù cho hắn, tôi vẫn rút khẩu súng thứ hai và bắn thêm phát nữa.
Nhưng tôi chẳng kịp biết kết quả ra sao, bởi tiểu thư, với một cái rùng mình co giật và ánh mắt đau đớn tột cùng, đã thét lên:
"Ngài đã giết vị hiệp sĩ rồi!"
"Không đâu, thưa tiểu thư," tôi lạnh lùng đáp; "tôi chỉ vừa bắn hạ chú chim bắt cô trói cột tội nghiệp mà cô vừa xin phép thôi"; rồi sau đó tôi chẳng còn tâm trí đâu mà bận tâm đến lũ thổ dân nữa, bởi tiểu thư đã ngất lịm và đổ người mềm oặt như một thây ma trên cánh tay tôi, gương mặt trắng bệch ngước lên nhìn tôi, hàng lông mi đen dài rủ xuống đôi má cẩm thạch, và những lọn tóc xoăn tối màu xõa ngược từ vương trán trắng ngần bay phần phật trong gió, trong khi con Fatima lao vút đi dọc theo lối mòn trong rừng tựa như cánh én bay là là.