"Trường học từ xưa có khẩu truyền,
Lời nịnh là mồi kẻ dại điên;
Thế nhưng đôi lúc người khôn trí,
Cũng hạ mình xài chút lấy duyên."
"Tôi tự hỏi không biết người anh họ của cô ấy sẽ nói gì về chuyện này? Anh ta là thân nhân gần nhất, và tôi nghĩ chắc hẳn cũng có đôi phần quyền hạn."
"Ý ngài là Công tước trẻ tuổi d'Enghien ư? Ngài biết đấy, ông ấy đang ở Baden, đâu có ở vào vị thế có thể lên tiếng. Ông ấy vẫn là một kẻ lưu vong và nhiều khả năng sẽ tiếp tục như vậy; bởi Quan Chấp chính Thứ nhất vốn chẳng tin tưởng bất kỳ vị hoàng thân nhà Bourbon nào."
"Phải; nhưng dù ở xa, ông ấy vẫn có thể dùng uy quyền đối với cô em họ tước vị hoàng gia của mình chứ. Tôi luôn nghĩ ông ấy và Bá tước d'Artois đã có những kế hoạch khác cho nữ bá tước—rằng cô ấy sẽ củng cố gia tộc bằng một cuộc liên minh hôn nhân với một trong các hoàng tộc ở Châu Âu."
"Chắc chắn đó từng là kế hoạch của họ, nhưng nhánh bên kia của gia tộc đã nhanh chân hơn một bước. Tôi tin rằng, chính để ngăn chặn một cuộc liên minh như thế mà bà nữ công tước già quỷ quyệt mới đang xúc tiến cuộc hôn nhân này với vị hiệp sĩ. Hắn ta mang danh vị hoàng gia quá thấp nên chẳng thể trở thành một mối đe dọa đáng bận tâm."
"Liệu gia sản của cô ấy đã được hoàn trả chưa, ngài có biết không?"
"Tôi không chắc, nhưng tôi nghĩ là chưa. Tôi nghe nói Bonaparte đang lấy cuộc hôn nhân này làm điều kiện tiên quyết. Bản thân ngài ấy cũng muốn ngăn chặn bất cứ điều gì có thể củng cố thêm thế lực của nhà Bourbon."
"Ồ, vậy thì cuộc hôn nhân coi như đã quyết, và bà nữ công tước đã đạt được mục đích rồi. Thật đáng tiếc. Giá như nữ bá tước ở lại Mỹ lâu hơn một chút nữa."
"Tôi thì chưa chắc chắn đến thế đâu. Có vẻ chính nữ bá tước lại đang gây khó khăn. Có lẽ giờ đây khi đã khám phá ra địa vị thực sự của mình, cô ấy không còn coi vị hiệp sĩ kia là đủ cao quý nữa."
"Cô gái tội nghiệp, dù cô ấy suy nghĩ hay cảm thấy thế nào thì cũng chẳng thay đổi được gì đâu; khi cả bà nữ công tước lẫn Quan Chấp chính Thứ nhất đều chống lại cô ấy, cô chẳng khác nào chú chim nhỏ sa vào lưới người thợ săn."
Tôi đứng trong nhóm người đang diễn ra cuộc trò chuyện ấy. Tuy không hề tham gia, tôi cũng không thể coi là kẻ lén nghe chộm (bởi tôi từng thề rằng, thà nhét sáp vào tai chịu điếc với cả thế gian chứ nhất quyết không nghe lén những điều không dành cho tai mình). Dù không một tên riêng nào được nhắc đến, tôi vẫn thừa biết họ đang nói về Nữ Bá tước de Baloit, và từng lời từng chữ cứ như những mũi dao đâm thấu tâm hồn tôi.
Một tiếng xôn xao phía đầu gian đại sảnh đã ngắt đứt cuộc trò chuyện. Mọi tiếng nói đều im bạt, và tất cả ánh mắt đồng loạt hướng về nơi Madame Bonaparte cùng Quan Chấp chính Thứ nhất đang uy nghi tiến vào. Theo sau họ là một đoàn đông đảo các quý bà quý cô và quý ông hầu cận. Cảnh tượng ấy có lẽ chẳng thể lộng lẫy hơn dù cho họ có là quốc vương và hoàng hậu đang trị vì giữa triều đình hoàng gia đầy đủ thần dân tùng sự.
Mới đầu, mắt tôi chẳng hề ngó ngàng đến ai ngoài Madame Bonaparte (từ khi chuyển đến sống tại Tuileries, bà không còn được gọi là Công dân Bonaparte nữa). Đây là buổi triều hội đầu tiên của tôi nên tôi chưa từng gặp bà trước đó, dù nghe danh bà nhiều chẳng kém gì Quan Chấp chính Thứ nhất. Người ta bảo bà không sở hữu vẻ đẹp tuyệt mỹ không vết xước, nhưng lại có sức quyến rũ mê hồn, và tôi nhận ra ngay điều đó hoàn toàn là sự thật. Tôi chẳng rõ vì sao trông bà không hoàn hảo—có lẽ nét mặt bà hơi nặng nề, chiếc mũi hơi dài và xương gò má hơi cao, chính những điểm ấy đã giữ cho gương mặt bà dừng lại trước ngưỡng hoàn mỹ; thế nhưng đôi mắt bà lại to tròn, long lóng sáng ngời lòng nhân ái, mái tóc đen mềm mại dầy dặn được cài gọn dưới một dải băng kiểu Hy Lạp thành những lọn sóng bồng bềnh tươi đẹp, và làn da bà mang sắc trắng kem đặc trưng của người Creole, tôn lên trọn vẹn mái tóc và đôi mắt thẫm màu. Tôi chưa bao giờ thấy bờ cổ, vòm vai và đôi tay nào mỹ miều đến thế; chúng gợi cho tôi nhớ đến những pho tượng cẩm thạch tuyệt tác trong Bảo tàng Louvre mà Bonaparte mang về từ Ý, hơn là da thịt của con người thực tại.
Bà khoác trên mình bộ trang phục toàn bằng sắc trắng, và người dì thầm thì vào tai tôi rằng Quan Chấp chính Thứ nhất thích ngắm bà nhất trong sắc trắng này; người ta đồn rằng mỗi khi Madame Bonaparte (vốn thích những trang phục lộng lẫy rực rỡ hơn) mặc đồ trắng, đó là dấu hiệu cho thấy bà đang ghen tuông và tìm cách kéo lại trái tim lưu lạc của chồng, hoặc giả bà đang muốn xin một ân huệ đặc biệt nào đó. Rất có thể đó chỉ là lời đồn vô căn cứ nơi triều đình, nhưng cũng hoàn toàn có thể là sự thật, bởi tôi khó lòng hình dung bà có thể xinh đẹp đến thế trong bất kỳ trang phục nào khác ngoài tà áo trắng thướt tha mềm mại ấy, đính thắt lưng cao nạm ngọc bằng vàng lấp lánh, cùng mái tóc bồng bềnh sóng sánh được gom gọn trong chiếc lưới vàng phía dưới dải băng Hy Lạp.
Quan Chấp chính Thứ nhất cũng vô cùng uy nghi lẫm liệt; tôi nghĩ ngài cũng chuộng y phục chẳng kém gì vợ mình. Khi đã ngắm nghía kỹ hai người họ, tôi mới có thời gian quan sát đoàn người đi cùng; và tôi nhìn về phía các quý ông trước tiên, nhiều người trong số họ mặc những bộ quân phục rực rỡ của sĩ quan quân đội. Thật bực mình làm sao, ánh mắt tôi gần như lập tức rơi đúng vào Hiệp sĩ Le Moyne, hắn đang mang trên mình bộ quân phục cực kỳ lộng lẫy của sĩ quan phụ tá cho Tướng Bonaparte. Khi tôi nhìn hắn, mắt hắn cũng chạm phải mắt tôi, và tôi thấy hắn giật nẩy người, mặt biến sắc tái nhợt rồi lại đỏ bừng lên dữ dội. Trong chớp mắt, hắn ép một nụ cười gượng gạo lên môi (tôi suýt nữa đã nói là "lên răng", vì nụ cười của hắn luôn gợi cho tôi cảm giác của một loài sói dữ), rồi hắn cúi chào. Tôi đáp lại cái cúi chào ấy bằng một vẻ lạnh băng; sự xuất hiện của hắn ở đây gợi cho tôi suy nghĩ rằng rất có thể Pelagie cũng đang có mặt giữa các mệnh phụ trong triều (bởi người ta thường gọi đùa các phu nhân như thế), nên tôi quay sang tìm kiếm cô. Phải rồi, cô đang ở đó, và cũng giống như Madame Bonaparte, cô mặc một bộ đồ toàn sắc trắng. Có điều sắc trắng của Pelagie lại mong mảnh mỏng nhẹ phủ dải đăng ten, bồng bềnh thướt tha hơn phu nhân quan chấp chính, với những viên ngọc lấp lánh nấp trong từng nếp áo và trên mái tóc lượn sóng của cô. Và nếu như Madame Bonaparte khiến tôi liên tưởng đến một vị nữ thần Hy Lạp, thì Pelagie lại làm tôi nhớ đến một trong những nàng tiên trong thơ của ngài Shakspere—lung linh, uyển chuyển và đài các khôn cùng.
Hình như cô không nhìn thấy tôi, mà tôi cũng chẳng thể ngắm nhìn cô thêm được nữa, vì Quan Chấp chính Thứ nhất đã bắt đầu đi tới từng nhóm khách khứa tham dự, cất lời trò chuyện ngắn gọn với từng người, và ngài đang tiến về phía nhóm của chúng tôi. Ngài chào hỏi dì dượng tôi cùng những người đứng cạnh chúng tôi mà ngài quen biết một cách hết sức nhã nhặn; sau đó ngài đảo ánh mắt tinh anh về phía tôi, và dượng tôi liền tiến hành giới thiệu.
"À," ngài nói, "Ta không hề nhầm. Khi thấy cậu ở nhà thờ vào sáng Chủ nhật Phục sinh, ta đã đoán cậu đến từ Châu Mỹ rồi"; và quay sang dượng tôi, ngài nói thêm: "Ở Pháp chúng ta không sinh ra những người đàn ông cao lớn da trắng thế này đâu, Công dân Bộ trưởng."
"Thưa không," dượng tôi nhanh trí đáp; "ở Pháp chúng ta chỉ có những người đàn ông vĩ đại nhỏ thó da ngăm thôi, thưa Công dân Quan Chấp chính Thứ nhất."
Bonaparte bật cười, tỏ ra vừa lòng với cả chơi chữ lẫn lời khen ngợi của dượng tôi, rồi ngài nhanh chóng quay sang nhóm tiếp theo trước khi tôi kịp ấp úng bày tỏ niềm vinh hạnh ra sao khi được ngài nhớ đến.
Nhóm tiếp theo lại chính là Đại sứ Anh, Ngài Whitworth, cùng các bằng hữu của ông. Vừa rồi Quan Chấp chính rất đỗi nhã nhặn với chúng tôi, và tôi nhận ra nụ cười của ngài mang một vẻ ngọt ngào hiếm có khiến gương mặt ngài trở nên vô cùng quyến rũ. Thế nhưng khi quay sang Ngài Whitworth, nụ cười ấy lập tức biến mất, lông mày ngài nhíu lại thành một vẻ cau có hầm hầm. Chẳng có lấy một lời chào hỏi, ngài cất tiếng đột ngột và gay gắt:
"Ta thấy đất nước các người lại muốn chiến tranh rồi đấy."
Ngài Whitworth cúi đầu thật thấp, một sắc đỏ thẫm từ từ lan rải trên mặt ông khi ông đáp lời:
"Thưa ngài, không phải đâu ạ; chúng tôi rất đỗi khát khao hòa bình."
"Các người vừa mới kết thúc một cuộc chiến kéo dài mười lăm năm đấy thôi," Bonaparte lại nói bằng một giọng điệu xúc phạm nhất, gần như một lời nhạo báng.
Vị đại sứ cắn môi cố kềm chế bản thân, nhưng ông vẫn đáp lại bằng một vẻ hết sức lịch thiệp:
"Thưa ngài, đúng là như vậy; và mười lăm năm đó đã là quá dài rồi."
"Nhưng các người lại muốn có thêm một cuộc chiến mười lăm năm nữa," Bonaparte khăng khăng, giọng ngài mỗi lúc một gắt gỏng và to hơn, khiến ai nấy ở khu vực đó của đại sảnh đều không thể không nghe thấy. Mọi cuộc trò chuyện đều ngưng bặt, mọi người lắng nghe với một sự chú ý căng thẳng và đau đớn. Ngài Whitworth điềm tĩnh nhắc lại:
"Xin ngài thứ lỗi; chúng tôi vô cùng khát khao hòa bình."
Thế rồi, bằng một tông giọng vang lên chát chúa như tiếng binh khí va vào nhau, Bonaparte gầm lên:
"Ta hoặc là phải có Malta, hoặc là chiến tranh!"
Một cơn chấn động truyền qua toàn bộ đám đông. Không một ai dám nhìn sang người bên cạnh. Đây chẳng khác nào một lời tuyên chiến, mà lại theo cách thức lăng mạ nhất. Việc vị đại diện đầy tự hào của quốc gia kiêu hãnh nhất trên cầu bầu có thản nhiên nhận lấy lời lăng mạ thô bạo ấy dành cho bản thân và đất nước mình hay không là điều hết sức nghi ngờ, và tất cả chúng tôi đều nín thở chờ đợi lời đáp trả của Ngài Whitworth. Với làn môi mím chặt và đôi mắt tóe lửa dù đã cố kiềm chế, nhưng bằng một sự điềm tĩnh tương phản rõ rệt với thái độ gắt gỏng của Bonaparte, ông đáp:
"Thưa ngài, tôi chưa được chuẩn bị để bàn về chủ đề đó; và tôi chỉ có thể quả quyết với ngài, thưa Công dân Quan Chấp chính Thứ nhất, rằng chúng tôi mong muốn hòa bình."
Nét cau có trên mặt Bonaparte càng đậm hơn, nhưng ngài không nói thêm lời nào nữa; chỉ với một cái gật đầu cộc lốc và nụ cười nhếch môi đầy nhạo báng, ngài lập tức lui vào một phòng nhỏ thông với đại sảnh, bỏ lại toàn bộ khách khứa mà không thèm cất một lời chào—điều mà sau này tôi được biết là cực kỳ hiếm thấy ở ngài, cho thấy sự bực bội trong ngài hẳn phải dữ dội lắm.
Một sự im lặng ngượng ngùng bao trùm sau khi Quan Chấp chính Thứ nhất bước ra. Tôi đã mong chờ buổi triều hội này suốt nhiều tuần lễ, nhưng nó hứa hẹn sẽ là một dịp vô cùng khó chịu đối với tôi cũng như những người khác. Tôi rất muốn tiến đến trò chuyện với vị đại sứ Anh và bày tỏ sự đồng cảm của mình, bởi chẳng một người Pháp nào dám thò mặt nhìn ông vào lúc này khi ông đang thất sủng, e rằng việc đó bị báo lại với Quan Chấp chính và bản thân họ sẽ rơi vào tầm ngắm nghi ngờ. Nhưng tôi sợ đó sẽ là sự đường đột của một kẻ quá trẻ tuổi và vô danh, và tôi e ngại phải đối mặt với cái nhìn kiêu ngạo đặc trưng của người Anh mà họ vẫn dùng để hóa đá những kẻ họ cho là sỗ sàng. Thật nhẹ nhõm cho tôi, và quả thực là cho toàn thể hội trường, dượng tôi đã quay sang ông và lập tức bắt đầu nói chuyện một cách vô cùng sôi nổi về những diễn biến tại Quốc hội Mỹ. Việc bầu không khí được giải tỏa là điều rõ rệt, bởi cuộc trò chuyện lập tức được khôi phục, dù tôi thấy có phần gượng gạo và sốt sắng quá mức.
Bây giờ đã đến lượt chúng tôi bái kiến Madame Bonaparte. Tôi vốn đã rất háo hức được gặp bà cho đến khi phát hiện ra sự có mặt của Pelagie; nhưng giờ đây việc bước lên phía trước chào phu nhân, và có thể đứng trò chuyện với bà vài phút lại đột nhiên trở thành một thử thách đầy cam go, bởi tôi biết rõ đôi mắt Pelagie, nếu cô muốn, có thể đang theo dõi từng cử động của tôi. Nếu tôi tỏ ra vụng về (như tôi e rằng mình sẽ như thế dưới sự quan sát ấy), tôi chắc chắn trong mắt cô sẽ lại ánh lên cái nhìn giễu kợt xưa cũ mà tôi từng thấy nhiều lần và rất đỗi khiếp sợ ở St. Louis. Tôi quyết tâm không liếc nhìn cô lấy một lần trong suốt thời gian trải qua thử thách ấy, e rằng cô sẽ làm tôi rối trí; và tôi cố gắng chỉ nghĩ đến người phụ nữ quyến rũ đang mỉm cười mê hoặc khi tôi cất lời hoa mỹ, người đang lấy chiếc quạt gõ nhẹ vào tôi theo cái cách tinh nghịch chẳng khác nào Phu nhân Madison từng gõ hộp thuốc hít nạm ngọc vào người tôi. Quả thực, bà làm tôi nhớ đến vị phu nhân xinh đẹp ở Washington. Cả hai đều có cùng một cách thức nhân hậu giúp một chàng trai vụng về cảm thấy thoải mái, khiến cậu có cảm giác được yêu mến và được tán thưởng những lời lẽ của mình, nhất là khi chúng có chút táo bạo. Thế nhưng Madame Bonaparte không có được sự hăng hái và lấp lánh như Phu nhân Madison; thay vào đó, bà có cách nói chuyện uể uải kiểu miền Nam và một sự dịu dàng thu phục lòng người đến kỳ lạ mà tôi không chắc là không quyến rũ hơn vẻ sắc sảo rực rỡ của người kia.
Bà giữ tôi lại trò chuyện lâu hơn tôi dự tính (hoặc kỳ vọng), và tôi bắt đầu thấy những ánh mắt đầy ẩn ý trao đổi qua lại, trong khi mặt tôi thì cứ nóng bừng lên liên tục; và tôi chắc chắn mademoiselle (nếu cô có nhìn tôi), khi nhận ra mái tóc xoăn óng ả của tôi vàng như dải đăng ten dát vàng trên bộ đồ triều phục bằng lụa satin trắng, cùng hai gò má đỏ hăng hăng như bất kỳ cô gái nào, hẳn đang tự nói với bản thân bằng một sự khinh bỉ vô bờ: "Cậu bé xinh xắn!"
Tôi nghĩ Madame Bonaparte cũng nhìn thấy những ánh mắt ẩn ý đó, vì ngay sau đó bà cất tiếng:
"Cậu phải gặp Nữ Bá tước de Baloit mới được. Cô ấy vừa từ nước Mỹ của cậu trở về, chắc chắn hai người sẽ có nhiều chuyện chung để nói đấy."
Và thế là tôi thấy mình đang cúi đầu thật thấp trước bàn tay Pelagie, và một khoảnh khắc sau đó đang nhìn thẳng vào đôi mắt thẫm màu quyến rũ của cô, đôi mắt ấy cũng đang ngước lên nhìn thẳng vào mắt tôi mà chẳng hề có một tia khinh bỉ nào trong chiều sâu thẳm, chỉ có một sự ngạc nhiên lớn lao, và một chút gì đó khác nữa khiến mạch đập của tôi dồn dập như dập búa.
"Tôi thật không thể hiểu nổi, thưa Monsieur," cô nói. "Tôi sẽ phải hỏi anh, như anh từng hỏi tôi ở Washington—làm sao anh lại đến được đây?"
"Là một ngôi sao Bắc Đẩu đã dẫn lối cho tôi," tôi thì thầm.
Nhưng ánh sáng ấm áp trong mắt cô nhanh chóng chuyển thành sự coi thường kiêu kỳ.
"Tôi không thích những lời hoa mỹ suồng sã giữa những người bạn cũ đâu. Anh hãy giữ lấy những lời đó cho Madame Bonaparte đi. Tôi thấy chúng làm bà ấy rất vui, và anh cũng vô cùng hãnh diện khi được đón nhận chúng."
Chẳng lẽ Nữ Bá tước de Baloit lại đang ghen sao? Hay đó là sự khinh khỉnh của tầng lớp quý tộc cổ Faubourg St. Germain đối với kẻ mới phất ở Tuileries? Tôi mong là lý do thứ nhất, nhưng dù là trường hợp nào thì tôi cũng cần phải nhanh chóng tạ lỗi.
"Xin hãy thứ lỗi cho tôi, thưa Bá tước," tôi nói, bằng một giọng lạnh nhạt chẳng kém gì cô, nhưng bằng tiếng Anh, và nhỏ đến mức tôi hy vọng không kẻ nghe lén nào có thể hiểu được dù cho hắn có biết thứ tiếng này. "Điều đó là sự thật, nhưng cô không thể biết nó thực đến mức nào đâu, và tôi cũng chẳng có quyền được nói cho cô biết. Tôi biết rất rõ khoảng cách xa xôi giữa vị Tiểu thư nước Pháp dòng dõi hoàng gia kiêu hãnh với một quý ông Mỹ bình dị. Cho phép tôi được báo cho cô biết, thưa Bá tước, rằng tôi đã ở Paris hơn một tháng nay cùng dượng tôi, Monsieur Barbé Marbois. Và cho phép tôi nói thêm, như một thực tế đơn thuần mà cô có thể quan tâm hoặc không, rằng đây chính là khoảnh khắc mà tôi đã sống vì nó suốt một tháng qua—khoảnh khắc tôi được gặp lại Nữ Bá tước de Baloit."
Ở Mỹ, cách ứng xử với cô nàng Pelagie nhỏ nhắn luôn là dùng sự kiêu ngạo để đáp lại sự kiêu ngạo của cô, nhưng tôi không chắc liệu cách đó có tác dụng ở đây hay không, và trong lòng tôi run bần bật dù giọng nói vờ như điềm tĩnh. Nhưng nó đã có hiệu quả. Đôi mi cô rủ xuống trong khoảnh khắc, và một ửng hồng dịu nhẹ lan lên tận thái dương cô. Khi cô ngước mắt lên lần nữa, trong mắt cô tràn ngập một ánh sáng e ấp, ngọt ngào.
"Monsieur," cô khẽ nói bằng thứ tiếng Anh xinh xắn của mình, "sao anh lại gọi tôi là Bá tước? Anh quên rồi sao?"
"Vẫn là Mademoiselle sao?" tôi reo lên hăm hở, và phải khó khăn lắm mới kềm chế được bản thân không bế bổng cô lên và chạy biến đi, bởi cô mới đáng yêu làm sao trong vẻ thân thiện ngọt ngào ấy.
"Luôn là Mademoiselle, trừ khi là—" Nhưng rồi cô đột ngột ngưng lại, mặt đỏ bừng lên, và nhanh chóng nói thêm với một chút vẻ tinh nghịch cũ: "Không bao giờ là Bá tước, trừ khi tôi rất, rất hư."
Trái tim bảo cho tôi biết cô đã định nói điều gì, và tôi tự hào thì thầm:
"Trừ khi một ngày nào đó là... Pelagie"; và tôi biết ánh mắt mình đã nói cho cô biết tất cả những điều còn lại mà tôi không dám thốt lên lời, bởi cô nhanh chóng né tránh ánh nhìn của tôi, còn tôi, khi ngước lên, lại bắt gặp một cái nhíu mày đen sầm trên mặt vị hiệp sĩ. Tôi biết hắn hẳn đã quan sát màn kịch nhỏ này, dù hắn chẳng thể nghe thấy một từ nào giữa tiếng rì rào náo nhiệt của những cuộc trò chuyện xung quanh chúng tôi. Gương mặt hắn lập tức giãn ra, và hắn nhanh bước tiến về phía trước với một nụ cười gượng gạo và bàn tay giơ ra.
"Cho phép tôi được chào một người bạn cũ," hắn gật gù vui vẻ. "Anh đến Paris từ bao giờ thế?"
Sẽ thật tốt cho tôi nếu tôi có thể nén tự trọng lại để nắm lấy bàn tay hắn đưa ra; nhưng đối với tôi đó dường như là bàn tay của một kẻ đê tiện và hèn hạ, tôi không thể ép mình chạm vào nó. Tôi vờ như không nhìn thấy, và hy vọng vị hiệp sĩ cùng những người đang quan sát có thể bị đánh lừa rằng tôi không chú ý, khi tôi đáp lại một cách khá lịch sự:
"Hiệp sĩ Le Moyne thật quá nồng nhiệt khi chào đón tôi đến Paris."
Thế rồi, với sự nhớ lại đột ngột về cuộc chạm trán lần trước của chúng tôi, và hy vọng làm hắn lạc hướng, tôi nói thêm:
"Tôi mới đến Paris chưa được bao lâu; đây là lần đầu tiên tôi đến thăm Tuileries."
Nhưng tôi đã không đánh lừa được hắn. Nét cau có đen sầm nhanh chóng quay trở lại khi tôi từ chối bàn tay hắn đưa ra, và vươn hết chiều cao cơ thể để ghé sát tai tôi nhất có thể, hắn nghiến răng nói:
"Có thể đây là lần đầu tiên anh đến Tuileries, thưa Monsieur; nhưng nếu tôi không nhầm thì anh đã từng đến St. Cloud rồi. Giá mà tôi biết anh ở Paris thì tôi đã chẳng mất công tìm lời giải thích cho con ngựa bí ẩn cùng người cưỡi nó. Tôi đoán anh đã mang theo con ngựa cái đáng nguyền rủa đó chứ?"
Có thể mặt tôi đã tái đi, vì tôi thấy tai họa đen tối đang há miệng trước mắt, nhưng tôi vẫn kiên định đáp lại:
"Tôi không hiểu ông đang nói gì, thưa Monsieur. Tôi xin ông hãy giải thích cho."
"Quỷ bắt đi! Anh hiểu quá rõ đấy chứ, thưa Monsieur," hắn khẩy môi nhạo báng, rồi quay người bước đi với một dáng đi khập khễnh thái quá—khi hắn tiến đến chào tôi, dáng đi ấy hầu như chẳng thể nhận ra.
Tôi chẳng có mấy thời gian để lo lắng về mối nguy hiểm mới đang đe dọa này, vì dượng tôi đã tiến đến để giới thiệu tôi với nhiều "mệnh phụ triều đình" hơn nữa, và tôi đã cố hết sức để trò chuyện và tỏ ra vui vẻ, trong khi ở sâu thẳm tâm trí, tôi đang tìm cách lên kế hoạch tháo chạy khỏi những mắt lưới của chiếc chài đang khép lại quanh mình. Paris không còn là nơi dành cho tôi nữa. Tôi phải nói với dượng tôi ngay khi có cơ hội đầu tiên, và nhờ sự giúp đỡ của ngài để lặng lẽ trốn về Mỹ càng sớm càng tốt; và khi nghĩ đến điều đó, nghĩ đến việc mình đang tự cắt đứt mọi cơ hội được gặp lại Nữ Bá tước de Baloit, tôi rên rỉ trong lòng, và chỉ muốn nguyền rủa sự liều lĩnh dại dột đã đưa tôi đến nông nỗi này.
Giữa những suy nghĩ ngổn ngang, tôi thấy một vị sĩ quan tiến lại gần Nữ Bá tước de Baloit (vì cho dù tôi có đang nói chuyện với ai thì Nữ bá tước vẫn luôn nằm trong tầm mắt tôi), cúi chào thật thấp và có vẻ như chuyển một thông điệp nào đó cho cô. Tôi thấy cô quay sang phu nhân đứng cạnh (người mà tôi từng thấy ngồi chung xe ngựa với cô, người có thái độ nghiêm nghị và kiêu hãnh mà tôi không nghi ngờ chính là bà nữ công tước mà tôi nghe đồn là muốn gả cô cho vị hiệp sĩ), và rồi vị sĩ quan đưa tay cho cả hai người khoác lấy và dẫn họ về phía phòng nhỏ nơi Quan Chấp chính Thứ nhất vừa lui vào.
Tôi không hiểu vì sao điều này lại khiến tôi lo âu, nhưng tôi vẫn thấy bồn chồn không yên. Khi chỉ vài phút sau, chính vị sĩ quan đó lại tiến về phía Hiệp sĩ Le Moyne và chuyển cho hắn một thông điệp, rồi vị hiệp sĩ thong thả quay sang nhìn tôi với một nụ cười chiến thắng trước khi bước theo vị sĩ quan vào cùng gian phòng đó, sự lo âu trong tôi tăng lên gấp đôi. Quả thực, sự lo âu của tôi đã lớn đến mức tôi hầu như không thể tiếp tục vờ như đang trò chuyện vui vẻ với những mỹ nhân sắc sảo xung quanh được nữa.
Nụ cười chiến thắng của vị hiệp sĩ mang một trong hai ý nghĩa—cả hai đều tồi tệ đối với tôi, nhưng có một điều tôi không dám nghĩ tới. Nó có nghĩa là: "Ngươi thấy đấy, giờ ta đã có cơ hội tố cáo ngươi với Quan Chấp chính Thứ nhất, và ta sẽ dùng nó"—điều đó đồng nghĩa với cái chết dành cho tôi; hoặc là, nó có nghĩa: "Ngươi thấy đấy, Quan Chấp chính Thứ nhất đang dùng ảnh hưởng của ngài để tác động vào cuộc hôn nhân của ta với Nữ Bá tước de Baloit; mọi chuyện đã được an xếp"—điều đó còn tồi tệ hơn cả cái chết đối với tôi.
Vì vậy, tôi không hề ngạc nhiên, và gần như cảm thấy nhẹ nhõm khi mười phút sau, vị sĩ quan vỗ nhẹ vào vai tôi.
"Quan Chấp chính Thứ nhất muốn triệu diện ông vào phòng làm việc của ngài, thưa Monsieur," ông ta nói; và tôi quay người bước theo ông ta, nhận ra rằng theo sau mình là ánh mắt của tất cả mọi người. Người ta không ngạc nhiên khi ban đầu nữ bá tước rồi đến vị hiệp sĩ được triệu vào, vì ai nấy đều nghĩ mình đã hiểu—ảnh hưởng quyền lực của Quan Chấp chính Thứ nhất chuẩn bị được dùng để tác động lên một thiếu nữ bướng bỉnh; và dù một số người thương hại, chẳng ai nghi ngờ việc ảnh hưởng của Quan Chấp chính sẽ có tác dụng. Nhưng không ai biết tôi có liên quan gì đến chuyện này, và khoảnh khắc giật mình kinh ngạc đầu tiên được nối tiếp bằng những tiếng thì thầm đoán già đoán trẻ.
Giữa những tiếng thì thầm ấy, tôi bước đi như một kẻ đang đi đến pháp trường; vì ngay từ khoảnh khắc vị sĩ quan chạm vào vai tôi, tôi đã hiểu nụ cười chiến thắng của vị hiệp sĩ có ý nghĩa gì, và tôi biết mình đang trên đường đi nhận lời cáo buộc và phán quyết, và ai mà biết được, có khi sẽ bị giải đi hành quyết ngay lập tức dưới ánh mắt của Nữ Bá tước de Baloit. Khi tôi đi ngang qua Monsieur Marbois, đôi mắt ngài ngập tràn sự bàng hoàng thảng thốt chạm phải mắt tôi. Tôi cố trấn an ngài bằng một nụ cười, nhưng tôi e đó là một nụ cười thảm hại, bởi ký ức về tất cả sự tốt lành ngài dành cho tôi bất ngờ dâng trào làm tôi gần như gục ngã.
Vừa bước qua cánh cửa phòng nhỏ, vị sĩ quan dừng lại và ra hiệu cho tôi cũng dừng bước. Dù ngài cho gọi tôi vì lý do gì, rõ ràng là cả Quan Chấp chính Thứ nhất lẫn bất kỳ ai khác vẫn chưa sẵn sàng dành cho tôi. Quan Chấp chính đang ngồi, trong khi một bên ngài là vị hiệp sĩ đang đứng, còn bên kia là bà nữ công tước và Nữ Bá tước de Baloit; và việc một người đàn ông lại ngồi nghiễm nhiên trước mặt nữ bá tước lập tức khiến tôi bùng lên một cơn giận dữ mù quáng, khiến tôi chẳng thể chuẩn bị tốt cho những gì sắp sửa diễn ra. Thái độ của ba người họ lập tức đập vào mắt tôi với đầy sự ẩn ý: bà nữ công tước tỏ ra hài lòng, gần như có một nụ cười trên các nét mặt kiêu kỳ, và đang cố hết sức đon đả với Quan Chấp chính Thứ nhất; vị hiệp sĩ thì sốt sắng, khúm núm, nịnh hót; còn nữ bá tước thì ngẩng cao đầu tự hào, một nét nhíu mày nhẹ giữa hai hàng mi, đôi mắt lóe lên sự mất kiên nhẫn, khó chịu, và coi thường thể hiện rõ trên từng nét mặt. Quan Chấp chính Thứ nhất đang nói khi chúng tôi bước vào, và tôi nghĩ giọng điệu của ngài có ý thuyết phục; chúng bớt gay gắt hơn những gì tôi thường nghe.
"Gia sản đó rất lớn, thưa Mademoiselle." (Và một lần nữa tôi lại tức giận khi ngài gọi cô là Mademoiselle, một danh xưng mà tôi cảm thấy không người đàn ông nào có quyền dùng ngoại trừ tôi. Dĩ nhiên tôi biết đó chỉ là cách gọi thông thường,—rằng tước vị không được phép tồn tại ở nước Pháp cộng hòa,—nhưng dù sao tôi vẫn tức giận.) "Cha cô từng là một trong những người giàu có nhất nước Pháp," ngài đang nói. "Nếu ta hoàn trả lại gia sản này cho cô, ta phải có sự bảo đảm rằng chúng sẽ được sử dụng vì phúc lợi của nền cộng hòa, chứ không phải chống lại nó. Công dân Le Moyne chính là một sự bảo đảm như thế. Thanh kiếm của anh ta đã thề cống hiến cho sự nghiệp của nền cộng hòa, và đối với Công dân Le Moyne, ta sẽ hoàn trả lại toàn bộ gia sản của cha cô."
Một vệt đỏ bừng bùng lên trên mỗi bên má của Pelagie. Tôi không biết cô có thể nói gì (dù trông cô không có vẻ gì là sẽ ngoan ngoãn chấp thuận lời thỉnh cầu quyền lực này), vì đúng lúc đó Quan Chấp chính Thứ nhất phát hiện ra sự xuất hiện của chúng tôi và quay sang vị hiệp sĩ.
"Công dân Le Moyne," ngài nói, "ngươi đã xin ta cho gọi người thanh niên này đến. Cậu ta đang ở đây. Cháu trai của Monsieur Marbois thì có liên quan gì đến chuyện này?"
Một nụ cười độc ác hiện lên quanh môi vị hiệp sĩ.
"Thưa Công dân Quan Chấp chính Thứ nhất, nếu ngài còn nhớ," hắn nói, "tôi đã tâu với ngài rằng có một thời mademoiselle không hề phản đối sự cầu hôn của tôi—rằng rất có thể tôi đã cầu hôn được cô ấy ở St. Louis, nhưng tâm trí cô ấy đã bị tiêm nhiễm chống lại tôi bằng những lời bịa đặt và gièm pha độc hại, sản phẩm của một kẻ tình địch muốn chiếm đoạt cô ấy cho riêng mình?"
Vị hiệp sĩ chờ đợi lời đáp của Quan Chấp chính, và ngài gật đầu cộc lốc.
"Thế thì sao?"
"Thưa Công dân Quan Chấp chính Thứ nhất, kẻ tình địch đó chính là cháu trai của Bộ trưởng Marbois, và tôi đưa cậu ta đến đây là để yêu cầu cậu ta công khai từ bỏ mọi yêu sách đối với bàn tay của Công dân de Baloit."
Tôi thấy một tia sáng lóe lên trong đôi mắt tuyệt đẹp, và một cái hất đầu tự hào của cái đầu nhỏ nhắn mà tôi thừa biết có nghĩa là: "Anh ta chẳng có yêu sách nào cả," và tôi vội vàng lên tiếng.
"Thưa Bệ hạ," tôi nói nhanh, rồi dừng lại trong sự rối trí. Làm sao tôi có thể mắc phải một sai lầm ngớ ngẩn đến thế khi xưng hô với vị công dân số một của nền cộng hòa bằng một tước hiệu hoàng gia? Thế nhưng đó lại là một sai lầm rất đỗi tự nhiên, bởi chẳng có Hoàng đế hay Quốc vương hay Đại Mogul nào lại là một nhà trị vì độc đoán hơn ngài, hoặc khiến người ta phải run sợ trước cái gật đầu của ngài hơn ngài. Tôi nghĩ chắc chắn mình đã phá hỏng vụ việc của mình ngay từ đầu, vì một nét cau có đen sầm tích tụ giữa hai hàng lông mày của Quan Chấp chính, nhưng nó nhanh chóng biến mất.
"Ta tin là cậu vô tình thốt ra thôi, chàng trai," ngài nói với một nụ cười ngọt ngào hiếm thấy. "Nói tiếp đi!"
"Xin lỗi, thưa Công dân Quan Chấp chính Thứ nhất," tôi nói—"đó quả thực là một sai lầm vô tình"; và rồi tôi nói thêm với một bộc phát táo bạo đột ngột, "nhưng lại rất đỗi tự nhiên."
Quan Chấp chính chỉ đáp lại tôi bằng nụ cười rạng rỡ làm bừng sáng gương mặt ngài, và tôi vội vã nói tiếp:
"Thưa ngài, tôi muốn nói rằng tôi không hề có yêu sách nào đối với bàn tay của Mademoiselle la Comtesse." Từ khóe mắt, tôi thấy đầu cô ngẩng lên một tư thế kiêu hãnh hơn và làn môi cô bĩu ra khinh bỉ khi cô nhận ra tôi đang ngoan ngoãn từ bỏ "yêu sách" của mình theo lệnh của vị hiệp sĩ; nhưng tôi vẫn thản nhiên nói tiếp: "Tôi luôn biết rằng có một khoảng cách sâu thẫm ngăn cách giữa người Thiếu nữ nước Pháp dòng dõi hoàng gia kiêu hãnh và một quý ông Mỹ bình dị. Mademoiselle la Comtesse chưa bao giờ cho tôi bất kỳ lý do nào để hy vọng rằng khoảng cách đó có thể san lấp, nhưng,"—và tôi quay sang nhìn thẳng vào vị hiệp sĩ,—và nếu như đầu tôi có ngẩng cao quá đỗi tự hào, mắt tôi có lóe lên quá dữ dội và giọng tôi có vang lên quá đỗi thách thức, thì đó không phải vì thiếu kính trọng đối với Bonaparte vĩ đại, mà là vì tâm hồn tôi đang sục sôi giận dữ và phẫn nộ chống lại kẻ tiểu nhân hèn hạ kia—"nhưng nếu Mademoiselle la Comtesse cho tôi dù chỉ một hy vọng mong manh nhất rằng tình yêu chân thành của một trái tim người Mỹ trung thực có thể có trọng lượng với cô hơn là đất đai và tước vị, rằng sự tận tụy cả đời cho từng suy nghĩ và ước muốn của cô có thể hy vọng giành được tình yêu của cô, thì không một lập luận nào mà Hiệp sĩ Le Moyne đưa ra có thể có chút trọng lượng nào với tôi. Tôi sẽ chỉ từ bỏ 'yêu sách đối với bàn tay cô ấy' cùng với mạng sống của mình!"
Đôi mắt Quan Chấp chính Thứ nhất mỉm cười khi tôi dứt lời; không hề có nét cau có nào trên trán ngài. Bà nữ công tước trông bàng hoàng, như thể đó là một sự xúc phạm không thể tin nổi khi tôi lại dám tơ tưởng đến nữ bá tước, còn gương mặt vị hiệp sĩ thì tối sầm lại, với một nụ cười nhếch môi xấu xí làm biến dạng làn môi hắn. Nhưng tôi chẳng bận tâm Quan Chấp chính hay nữ công tước hay vị hiệp sĩ đón nhận lời nói của tôi ra sao: tôi chỉ bận tâm xem mademoiselle sẽ nghĩ gì. Tôi liếc nhanh về phía cô. Đầu cô đang cúi xuống, lông mi dài rủ bóng trên má, gương mặt cô đỏ bừng hồng rực, và một nụ cười thoáng hiện quanh khuôn miệng cô. Trái tim tôi đập liên hồi trong niềm vui hân hoan kiêu hãnh. Tôi tự hào quay sang vị hiệp sĩ và chờ đợi sét đánh mà tôi biết chắc chắn sẽ hạ xuống. Hắn cũng nhìn thấy dáng vẻ dịu dàng và cúi đầu của mademoiselle, và cảnh tượng đó đã phát tiết hắn thành một cơn phát cuồng. Nhưng trước khi hắn kịp cất lời, chính Quan Chấp chính Thứ nhất đã lên tiếng với vẻ trêu đùa đầy thiện chí:
"Ta nghĩ, thưa Công dân Le Moyne, gã khổng lồ tóc vàng của ngươi đã tự bào chữa cho mình rất hay đấy chứ. Hay là ta đề nghị cho cậu ta một vị trí trong bộ tham mưu của ta và biến cậu ta thành một người Pháp, rồi để Công dân de Baloit lựa chọn giữa hai người? Biết đâu gia sản của cô ấy nằm trong tay cậu ta lại an toàn chẳng kém gì trong tay ngươi."
Nếu Quan Chấp chính Thứ nhất thốt ra lời này với mục đích kích động vị hiệp sĩ đến phát cuồng và thúc đẩy hắn trút thêm độc tố vào tôi, thì ngài chẳng thể chọn phương cách nào tốt hơn để đạt được điều đó.
"An toàn!" hắn rít lên. "An toàn trong tay một kẻ sát nhân! Ngài định giao mademoiselle và gia sản của cô ấy cho kẻ đã trốn trong phòng thay đồ của ngài để mưu sát ngài khi ngài đang tắm sao! Xem kìa! Kẻ hèn nhát—kẻ lén lút—kẻ đê tiện! Khi người Mameluke của ngài phát hiện ra hắn, hắn đã bỏ chạy. Tôi lao đến bảo vệ ngài. Hắn có nghênh đón tôi bằng thanh kiếm như một quý ông danh giá không? Không! Hắn ngáng chân tôi như một đứa học sinh, và xô tôi ngã xuống cầu thang, để tôi trở thành trò cười cho các sĩ quan đồng ngũ! Vì là một gã khổng lồ, hắn lao vào người lính gác nhỏ bé của ngài và ném anh ta xuống thềm đá! Hắn gọi con ngựa xiếc của hắn,—được huấn luyện trong rạp xiếc, tôi không hề nghi ngờ điều đó,—và cưỡi đi trong đêm tối, tưởng rằng sẽ chẳng ai biết được! Nhưng tôi biết. Tôi đã thấy những trò khỉ của hắn ở Mỹ. Hắn là một kẻ hề—một kẻ diễn trò! Không một quý ông nào thèm chạm vào tay hắn!"
Giọng nói của vị hiệp sĩ mỗi lúc một cao và thé hơn theo từng từ ngữ, cho đến khi kết thúc bằng một tiếng gào, hắn vò đầu bứt tóc, lao qua lao lại trong phòng làm việc trong cơn cuồng nộ, và chỉ ngón tay dài về phía tôi theo mỗi từ ngữ lăng mạ. Tôi đã có thể mỉm cười trước sự giận dữ trẻ con như thế nếu nó không phải là một vấn đề quá nghiêm trọng đối với tôi. Đôi mắt mademoiselle mở to vì kinh hoàng và kinh ngạc, còn lông mày của Quan Chấp chính thì mỗi lúc một tối sầm lại theo từng lời của vị hiệp sĩ.
"Sĩ quan, gọi vệ binh!" ngài nói bằng giọng gắt gỏng, ngay khi vị hiệp sĩ cho ngài cơ hội lên tiếng, và tôi biết số phận của mình đã được quyết định.
Thế nhưng mademoiselle đã lao về phía trước, một tay giơ ra giữ vị sĩ quan lại, còn tay kia hướng về phía Quan Chấp chính trong sự van lăm.
"Không, không, thưa sĩ quan, khoan đã!" cô kêu lên, và rồi quay sang Bonaparte: "Ồ, thưa Công dân Quan Chấp chính, tất cả chỉ là một sự nhầm lẫn khủng khip! Tôi biết rõ anh ấy. Anh ấy không thể phạm phải một tội ác đáng sợ đến thế! Anh ấy không thể làm bất cứ điều gì đê tiện, thấp hèn hay bất nhã. Không có người quý ông nào trên đời lại hào phóng và cao quý hơn anh ấy! Và người tố cáo anh ấy lại chính là kẻ nợ anh ấy mạng sống của mình!"
"Hãy nhìn hắn đi, thưa Mademoiselle," Quan Chấp chính nói một cách gay gắt, "và xem liệu vẻ mặt hắn có thú nhận hắn chính là kẻ thủ ác không."
Tôi biết mình hẳn trông giống như một hình ảnh sống động của kẻ biết mình có tội, vì từng lời mademoiselle thốt ra đều đâm thấu tôi như một lưỡi gươm hai lưỡi. Tôi có thể đã dũng cảm đối mặt với những lời cáo buộc của vị hiệp sĩ và sự nghi ngờ của Quan Chấp chính Thứ nhất (vì suy cho cùng, cả hai đều chẳng có bằng chứng nào chống lại tôi), nhưng tôi không thể chịu đựng được sự tin tưởng bao dung của cô dành cho mình, khi cảm thấy mình đã tước mất quyền được nhận nó một cách thảm hại chỉ vì cưng chiều một trò đùa dại dột của tuổi trẻ. Tôi không ngẩng đầu lên (nơi nó đã gục xuống trong sự tủi hổ), nhưng vì cao hơn rất nhiều nên tôi vẫn có thể thấy cô quay về phía mình, thấy ánh mắt tin tưởng tuyệt đối của cô từ từ chuyển thành sự nghi ngờ và sợ hãi. Thế rồi tôi nghe thấy cô thốt ra một tiếng kêu khẽ: "Ồ, thưa Monsieur, Monsieur!" rồi quay đi. Trong khoảnh khắc, quyết định của tôi đã được đưa ra. Tôi sẽ bộc bạch hết sự thật; cô sẽ không nghĩ tôi tồi tệ hơn những gì tôi thực sự là. Tôi ngẩng đầu lên.
"Thưa Mademoiselle!" tôi kêu lên, và cô nhanh chóng quay lại phía tôi, nhìn thẳng vào mắt tôi với một ánh nhìn thật khó chịu đựng. "Tôi có lỗi, thưa Mademoiselle! Tôi chính là người đã ở trong phòng thay đồ của Quan Chấp chính Thứ nhất, và đã tẩu thoát trên lưng Fatima."
Quan Chấp chính ra hiệu cho vị sĩ quan, nhưng tôi nhanh chóng quay sang ngài.
"Tôi xin ngài, thưa Bệ hạ,"—và lần này tôi không hề biết mình đã thốt ra từ đó, mãi sau này khi một trong những người nghe thấy kể lại cho tôi nghe,—"ngài đừng cho sĩ quan gọi vệ binh cho đến khi tôi xưng thú hết mọi chuyện; sau đó ngài có thể cho gọi, và tôi sẽ lặng lẽ đi theo mà không chống cự."
"Được lắm, thưa sĩ quan; ngài có thể chờ," Bonaparte nói, giọng vẫn gay gắt. Phần còn lại của lời xưng thú tôi hướng thẳng về phía ngài.
"Tôi không phải là kẻ hề, kẻ diễn trò hay người cưỡi ngựa xiếc ở đất nước tôi, thưa ngài, như Hiệp sĩ Le Moyne muốn ngài tin tưởng; tôi là con trai của một quý ông ở Philadelphia, và là cháu trai của Madame Marbois. Thật không may, cuộc sống ở quê hương tôi đã nuôi dưỡng trong tôi một tinh thần phiêu lưu nhiều lần suýt làm tôi sụp đổ. Nó cũng nuôi dưỡng trong tôi một tình yêu lớn lao dành cho đời binh nghiệp, và một sự ngưỡng mộ lớn lao đối với những người quân nhân nổi tiếng trong lịch sử. Khi tôi đi cùng dượng mình đến St. Cloud, và biết rằng ngài được triệu đến đó để gặp Quan Chấp chính Thứ nhất, tôi đã bị thôi thúc bởi một mong muốn được bước vào cung điện và đi lang thang qua các gian phòng nơi Quan Chấp chính Thứ nhất sinh sống. Khi nhận ra không được phép vào, tôi nghĩ sẽ là một cuộc phiêu lưu tuyệt vời nếu tìm cách vào mà không cần phép. Chính tinh thần liều lĩnh của một đứa trẻ, và sự tôn thờ anh hùng gần như cuồng nhiệt của một đứa trẻ đã đưa tôi vào rắc rối này."
Quan Chấp chính ngắt lời tôi ở đây, nhưng tôi nghĩ giọng ngài có phần bớt gay gắt hơn trước:
"Dượng của cậu có biết ý định bước vào cung điện của cậu không?"
"Chắc chắn là không, thưa Công dân Quan Chấp chính Thứ nhất," tôi đáp, "bằng không thì tôi đã chẳng bao giờ thực hiện được."
"Thế làm sao cậu tìm được đường đến phòng thay đồ của ta?"
"Tôi đi theo một người hạ nhân qua vài hành lang ngoằn ngoèo, nhưng một vị sĩ quan đột nhiên xuất hiện. Tôi bỏ chạy, mở cánh cửa đầu tiên bắt gặp, thấy mình ở trong một phòng thay đồ, mở một cánh cửa khác, và thấy mình ở trong phòng nối liền với gian làm việc của ngài."
Tất cả những điều đó đều hoàn toàn là sự thật, và tôi hy vọng là không kéo theo cả Gaston lẫn Félice. Quan Chấp chính ra hiệu cho tôi tiếp tục câu chuyện của mình.
"Mọi chuyện hẳn đã êm đẹp, và tôi hẳn đã trốn ra bằng đường cũ tôi vào, nếu như Quan Chấp chính Thứ nhất không quyết định đi tắm."
Tôi quan sát thính giả của mình một cách kỹ lưỡng khi nói chuyện, vì tôi cảm thấy mạng sống của mình phụ thuộc vào sự thay đổi tâm trạng của ngài, và tôi nghĩ mình đã thấy một tia lấp lanh mỏng manh nhất trong mắt ngài; nhưng nếu nó có ở đó thì nó cũng lập tức biến mất, và gương mặt ngài lại trở nên đăm chiêu và nghiêm nghị như trước.
"Tôi chưa bao giờ nghe thấy những từ ngữ nào, thưa"—tôi định nói "Bệ hạ", nhưng kịp giật mình khựng lại và vấp ngã một cách thảm hại—"thưa—thưa—Đại thần, lại khiến tôi bàng hoàng hơn những từ này: 'Bảo người hầu chuẩn bị bồn tắm cho ta'!"
Một lần nữa tôi lại nghĩ mình đã bắt gặp tia lấp lánh thoáng qua đó trong mắt ngài, nhưng không thể chắc chắn.
"Chẳng còn hy vọng nào cho tôi," tôi nói tiếp, "ngoại trừ việc chờ Quan Chấp chính Thứ nhất tắm xong; nhưng thật không may cho tôi, ngài lại thích tắm hơn hầu hết những người đàn ông khác, và tôi đã phải đứng trong căn phòng tối tăm đó trong một sự hồi hộp đau đớn, suy tính trong đầu mọi kế hoạch tẩu thoát có thể hình dung ra, suốt một thời gian tưởng chừng như hàng giờ đồng hồ đằng đẵng. Mọi chuyện vẫn có thể êm đẹp,—vì theo lẽ tự nhiên ngay cả việc tắm của Quan Chấp chính Thứ nhất cũng phải đến lúc kết thúc,—nếu như tôi không gây ra một tiếng động nhỏ mà đôi tai tinh tường của Quan Chấp chính và người Mameluke nghe thấy. Tôi bị phát hiện, và tôi chẳng còn cách nào khác ngoài việc tháo chạy qua phòng tiếp tân và hành lang chính, làm kinh ngạc người lính gác ở cửa, rồi đến lượt anh ta báo động cho toàn bộ cung điện đuổi theo.
"Tôi đã bỏ xa những kẻ đuổi theo, và lẽ ra đã ra khỏi cung điện mà không gặp khó khăn gì, nếu như ở đầu cầu thang lớn tôi không gặp Hiệp sĩ Le Moyne đang chạy đến từ phía đối diện của hành lang. Trong hoàn cảnh bình thường, tôi sẽ không từ chối một cuộc đọ kiếm với vị hiệp sĩ (dù tôi thích một đối thủ có tinh thần danh dự cao đẹp hơn), nhưng lúc này không có thời gian cho một cuộc đọ sức như thế nếu tôi không muốn cả cung điện ập vào mình, và hơn nữa, điều tối quan trọng là vị hiệp sĩ không được nhận ra tôi. Chẳng còn cách nào khác ngoài việc lấy tay che mặt như thể đỡ lấy thanh kiếm của hắn, và ngáng chân hắn ngã xuống, như hắn nói, theo kiểu học sinh. Tôi lấy làm tiếc rằng việc bị đánh bại bởi một trò đùa trẻ con như thế đã làm tổn thương lòng tự trọng của hắn, và càng hối hận hơn nữa khi hắn phải chịu tổn hại trong sự đánh giá của các sĩ quan đồng ngũ vì điều đó."
Lần này thì tia lấp lánh trong mắt Quan Chấp chính là không thể nhầm lẫn, và tôi có thể nghe thấy vị hiệp sĩ đang nghiến răng ken két vì giận dữ.
"Còn về người lính gác của ngài," tôi nói tiếp, "anh ta đang nhắm súng vào tôi. Chẳng có thời gian cho sự lễ nghi. Tôi đã có thể đâm anh ta bằng thanh kiếm đang cầm trên tay, và việc đó có thể lịch sự hơn; nhưng tôi không thích chém giết, trừ khi hoàn toàn không thể tránh khỏi, và vì vậy tôi đã lấy tay gạt hất khẩu súng của anh ta lên, và hất anh ta xoay mòng mòng theo nó trong đêm tối. Tôi đã để con ngựa cái Fatima của mình—nó không phải là ngựa xiếc, mà là một con ngựa Ả Rập trẻ tuổi được chính tôi huấn luyện từ nhỏ để nghe theo lệnh tôi—trong một bụi thông gần đó. Tôi leo lên lưng nó và phi đi vừa kịp lúc để thoát khỏi các vệ binh cưỡi ngựa của ngài đang phi ra khỏi cổng công viên sau tôi chưa đầy hai mươi bước. Giá như Fatima không chạy nhanh đến thế thì tôi đã chẳng có mặt ở đây để kể lại câu chuyện này. Tôi hy vọng Quan Chấp chính Thứ nhất sẽ tin tôi khi tôi nói rằng tôi đã phải chịu đựng nhiều dằn xé của sự hối hận vì hành động nông nổi và thiếu suy nghĩ của mình. Chính tinh thần phiêu lưu liều lĩnh đã đưa tôi vào đó, nhưng giờ đây tôi thấy rõ ràng điều đó chẳng thể bào chữa chút nào cho nó, và tôi sẵn sàng chuộc lỗi theo bất kỳ cách nào ngài phán quyết."
Đôi mắt của Quan Chấp chính Thứ nhất, trong rọi, sắc bén, thấu suốt tâm can, đã dán chặt vào tôi trong suốt toàn bộ lời kể này; nhưng tôi, vì cảm thấy mình không hề giấu giếm điều gì (ngoại trừ Gaston và Félice), và đã lên tinh thần để đối mặt với bất kỳ số phận nào xảy ra, nên đã chịu đựng được sự soi xét đó một cách vững vàng. Ngài im lặng một lúc sau khi tôi kết thúc lời nói, và trái tim tôi chìm dần xuống, vì cuộc sống trông thật tươi đẹp đối với tôi và tôi bắt đầu thấy chắc chắn rằng mình đã tự đánh mất nó vì sự dại dột của mình. Đột nhiên Quan Chấp chính cất tiếng, nhưng không phải với tôi hay với vị hiệp sĩ; ngài quay sang Pelagie.
"Mademoiselle, đó chắc chắn là một trò ngông cuồng của tuổi trẻ, và gã trai bày ra trò đó cũng rất đỗi xinh xắn. Cô nghĩ hình phạt nào sẽ là thích hợp cho một tội ác như thế? Cô sẽ là người phân xử số phận của cậu ta."
Mademoiselle liếc nhìn tôi một cái thoáng qua, sự nghịch ngợm tinh nghịch nhảy múa trong mắt cô; rồi cô quay sang Bonaparte, và cúi chào thật thấp, cô nói với vẻ duyên dáng đầy hóm hỉnh:
"Thưa Công dân Quan Chấp chính Thứ nhất, tôi biết rõ anh ấy, và tôi biết rằng chỉ có cái chết mới là hình phạt lớn hơn đối với anh ấy so với việc bị gọi là một 'cậu bé xinh xắn'! Ngài có nghĩ tội ác của anh ấy đã được chuộc xong chưa?"
Nụ cười tuyệt vời của Bonaparte bừng sáng trên gương mặt ngài và chiếu rực lên mademoiselle với một sự ngọt ngào gần như quá đỗi lớn lao, tôi nghĩ vậy.
"Đúng như cô nói, thưa Mademoiselle," ngài đáp. "Sĩ quan, ngài không cần gọi vệ binh nữa."
Nhưng tôi, đột ngột được giải thoát khỏi mối e sợ cái chết, lại đứng đó đỏ bừng mặt vì ngượng ngùng, đầu cúi gục xuống, và chỉ muốn chui tọt xuống dưới sàn nhà vì tủi hổ, trong khi trong lòng thầm nguyền rủa những lọn tóc xoăn vàng óng, hai gò má hồng rực và đôi mắt xanh của mình, và trên hết là sự phù phiếm đáng ghét đã dẫn dắt tôi khoác lên mình bộ lụa satin trắng lấp lánh cùng dải đăng ten dát vàng sáng lóa, mà tôi chắc chắn đã khiến mình trông càng trắng trẻo, hồng hào và giống một đứa trẻ tóc vàng to xác hơn bao giờ hết.