Bông Hồng Thành St. Louis

Lượt đọc: 424 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 24
Hiệp Sĩ Mới Của Nước Pháp

❊ ❊ ❊

"Hi vọng ta như chim ưng tung cánh,

Vươn tới những tầng không tít tắp chông chênh."

“Viên sĩ quan,” Bonaparte cất giọng lạnh như băng, “hãy đưa Nữ công dân Capet và Nam công dân Le Moyne trở lại phòng khánh tiết. Ta có đôi điều muốn nói với những người còn lại mà họ không cần phải nghe. Anh cũng không cần quay lại đây cho đến khi nghe tiếng chuông gọi.”

Bà Nữ công tước trừng mắt nhìn vóc dáng nhỏ bé đang uể ả và hợm hình ngả lưng trong chiếc ghế tựa sâu lòng, trong khi tất cả chúng tôi đứng ngoan ngoãn trước mặt ngài. Tôi nghĩ có khoảnh khắc bà đã muốn lao đến móc mắt ngài ra. Việc một kẻ cai trị mới phất của nền cộng hòa lại ăn nói như thế với một thành viên không chỉ thuộc tầng lớp quý tộc cũ mà còn là dòng dõi hoàng gia xưa là điều vượt quá sức chịu đựng của bà. Thế nhưng, cái nhìn lạnh ngắt từ đôi mắt sâu thẳm của Tổng tài đã khiến bà phải suy nghĩ lại; bà quay lưng, cùng hiệp sĩ (người đang gần như phát điên vì cơn giận nghẹn ngào) trở lại phòng khánh tiết.

Khi họ rời khỏi phòng làm việc dưới sự tháp tùng trang trọng của viên sĩ quan, Bonaparte quay sang Pelagie.

“Tiểu thư Nữ bá tước,” ngài nói bằng giọng nhã nhặn tương phản hoàn toàn với sự lạnh lùng vừa rồi, “mời tiểu thư ngồi. Tôi xin lỗi vì đã để cô phải đứng lâu như vậy. Tôi bảo cô ở lại trong khi trao đổi với chàng trai này vì còn có vài điều muốn bàn thêm về chủ đề chúng ta đang thảo luận. Cho nên, xin cô cứ tự nhiên cho.”

Tôi nghĩ Pelagie đã có ý muốn từ chối sự lịch thiệp của ngài Tổng tài, bởi nàng khựng lại một khoảnh khắc, và tôi thấy một tia sáng nguy hiểm lóe lên trong mắt ngài. Tôi không biết liệu nàng có nhận ra điều đó hay không, hay chỉ đơn giản là quyết định nên nhượng bộ ở những chuyện nhỏ nhặt, vì có thể nàng sẽ phải kiên quyết chống đối ở những việc lớn lao hơn. Nàng ngồi xuống, vẻ ngoài điềm tĩnh tự chủ, nhưng lại chọn chiếc ghế xa Đệ nhất Tổng tài nhất. Tôi đã chú ý đến sự thay đổi trong cách xưng hô của ngài và lấy làm ngạc nhiên; nhưng tôi tin ngài vốn thích tước hiệu, và sẵn lòng dùng chúng khi không có những kẻ ghen tị rình rập để bắt lỗi sự lệch khỏi phong cách giản dị của nền cộng hòa. Ngài không bảo tôi ngồi, mà quay sang tôi ngay khi Pelagie đã an tọa, rồi đột ngột lên tiếng:

“Vừa rồi ta đưa ra một lời đề nghị lúc nói đùa; giờ ta nghiêm túc lặp lại lời đề nghị đó: ta mời anh vào bộ tham mưu của ta với tư cách sĩ quan phụ tá quân sự. Một thanh niên có đủ bản lĩnh để thoát khỏi một rắc rối như của anh chính là mẫu người ta muốn sử dụng; và khi anh ta còn sở hữu khả năng kể lại câu chuyện của mình một cách kín kẽ đến mức không ai đoán nổi liệu anh ta có nghe lỏm được gì về sự vụ quốc gia hay xích mích gia đình hay không, thì anh ta lại càng có giá trị ở vị trí đó.”

Tôi choáng ngợp hoàn toàn. Được nâng từ vực sâu tủi hổ và nỗi sợ chết lên đến đỉnh cao của những giấc mơ đời mình (bởi trở thành một người lính chinh chiến và phụng sự dưới trướng Bonaparte vĩ đại luôn là ước mơ cháy bỏng nhất của tôi—một ước mơ mà tôi thậm chí chẳng dám tự thú nhận với bản thân) là điều vượt quá sức chịu đựng của trí óc tôi. Hơn thế nữa, việc nghe những lời khen ngợi ấy từ vị tướng vĩ đại, trong khi trước đó tôi đã chuẩn bị tinh thần cho hình phạt nặng nề nhất, khiến tim tôi đập liên hồi và đầu óc quay mòng mòng. Tôi chỉ biết ấp úng:

“Được phụng sự Đệ nhất Tổng tài là niềm vui và vinh dự lớn nhất đời tôi! Nhưng tôi phải xin phép chú mình; liệu tôi có thể hoãn câu trả lời cho đến khi có cơ hội hỏi ý kiến ông ấy không ạ?”

Ngài Tổng tài thoáng cau mày; tôi không nghi ngờ gì việc ngài vốn chỉ quen nhận được những lời đồng ý ngay lập tức. Nhưng chỉ trong chớp mắt, nét mặt ngài giãn ra, và ngài đáp lại khá dễ chịu:

“Được rồi; ta chờ tin anh vào ngày kia”; và với một cái gật đầu nhẹ của ngài, tôi hiểu rằng mình đã được lui ra.

Chẳng hiểu sao tôi không đành lòng để Pelagie ở lại một mình với ngài, nhưng chẳng còn lựa chọn nào khác. Khi cúi đầu chào nàng trước khi rời phòng, tôi cảm thấy trong ánh mắt thẳm sâu của nàng có một sự cầu cứu khó lòng cưỡng lại. Tôi quyết định đứng chờ ở phòng khánh tiết ngay gần cửa phòng làm việc, để nếu nàng cần, tôi sẽ ở ngay bên cạnh.

Và thế là vài phút sau, tôi nghe thấy tiếng chuông của ngài Tổng tài rung lên dữ dội, rồi viên sĩ quan trực ca vội vã bước vào phòng làm việc và lập tức trở ra, tháp tùng Pelagie. Đôi mắt nàng rực lên một ánh nhìn mãnh liệt, hai bên má ửng hồng dữ dội, đầu nàng ngẩng cao và ánh mắt nhìn thẳng về phía trước một cách vô định đến mức không nhìn thấy tôi khi bước qua. Tôi thấy nàng trở lại vị trí giữa các quý bà trong triều và phu nhân Bonaparte nhìn nàng với vẻ không hài lòng lạnh ngắt. Không còn phải gác nữa, tôi đến bên người cô của mình, và bà thầm thì với tôi:

“Cô Nữ bá tước xinh đẹp đang gặp rắc rối rồi. Phu nhân sẽ không dễ dàng tha thứ cho việc chồng mình ở riêng mười phút với cô ta trong phòng làm việc đâu.”

Lòng tôi sục sôi tức giận, bởi tôi nhận thấy những người khác cũng đang xì xào bàn tán về nàng, và trong khoảnh khắc, tôi đã sẵn sàng thách thức cả thế giới, kể cả chính Bonaparte vĩ đại—người mà (dù tôi tin là vô tình) đã tạo cớ cho những lời đồn đại. Dĩ nhiên tôi biết cuộc gặp của ngài với Pelagie hoàn toàn là vì hiệp sĩ, nhưng những người khác có vẻ không chắc chắn như vậy, và đặc biệt là thái độ của phu nhân Bonaparte đối với nàng đã dấy lên những lời gièm pha khó chịu. Tôi khao khát được nói với Pelagie đôi lời, nhưng không thấy có cơ hội nào. Tuy nhiên may mắn đã mỉm cười với tôi, khi về sau trong buổi tối, lúc mọi người sửa sạn các bàn chơi bài piquet, tôi thấy mình được xếp ngồi ngay cạnh nàng; và có một lần, khi sự phấn khích quanh một điểm tranh cãi trong ván bài lên cao và tiếng ồn ào xung quanh che bớt giọng nói nhỏ, tôi đã tranh thủ nói với nàng:

“Tiểu thư trông có vẻ phiền lòng; liệu có cách nào tôi có thể giúp được tiểu thư không?”

Nàng mỉm cười nhìn tôi bằng ánh mắt tin cậy khiến tôi vô cùng xúc động, rồi vội vã nói, không nhắc đến tên ai (vì điều đó có thể nguy hiểm):

“Tôi rất muốn có cơ hội này để nói với anh. Ông ta khăng khăng ép buộc cuộc hôn nhân đó, và khi tôi nói rằng tôi sẽ không bao giờ kết hôn với một kẻ đã tố cáo và phản bội một cách hèn hạ người từng cứu sống anh ta, ông ta đã rất thô bạo với tôi.”

“Thô bạo với tiểu thư sao!” Tôi thì thầm đầy giận dữ. “Vậy thì tôi không thể vào phục vụ dưới trướng ông ta được.”

Nhưng nàng có vẻ vô cùng hốt hoảng khi nghe tôi nói vậy, liền vội thì thầm:

“Không, không, Monsieur; xin anh đừng nói vậy! Hãy nhận vị trí đó nếu có thể, vì chính bản thân anh,”—rồi nàng ngập ngừng một chút,—“và vì cả tôi nữa.”

Không còn cơ hội để nói thêm lời nào nữa; ván bài kết thúc, và bà nữ công tước già bước đến kéo nàng đi, không quên ném về phía tôi một ánh nhìn đầy hoài nghi và ngờ vực, tôi chẳng chút nghi ngờ rằng bà đã quan sát cuộc trò chuyện thì thầm của chúng tôi.

Tôi cũng không có cơ hội kể cho chú nghe về cuộc gặp với ngài Tổng tài; bởi tôi chẳng thể nói gì trước mặt cô mà không phải giải thích những điều tôi không muốn tiết lộ, và tôi biết việc mình trở lại phòng khánh tiết thay vì bị tống vào ngục đã xoa dịu những lo lắng của ông. Trời đã muộn, khi về đến nhà, chúng tôi chúc nhau ngủ ngon ở hành lang rồi lập tức về phòng riêng.

Sáng hôm sau tôi vội vã xuống nhà, hy vọng tìm thấy chú đang uống cà phê sáng trong vườn như ông vẫn thường làm vào thời tiết mùa xuân đẹp đẽ này; nhưng tôi đã ngủ quên và ông đã đi mất rồi. Chiều muộn, tôi đến tìm ông ở thư viện, vì tôi biết câu trả lời dành cho Đệ nhất Tổng tài phải được quyết định ngay lập tức, và tôi rất sốt sắng muốn kể cho ông nghe toàn bộ cuộc gặp. Ông trả lời tiếng gõ cửa của tôi bằng một tiếng “Vào đi, vào đi!” nhanh nảy, và tôi thấy ông đang ngập tràn tâm trạng vui vẻ cùng sự phấn khích.

“Cháu đến thật đúng lúc, cháu trai,” ông reo lên. “Ta đang chờ các đại sứ Mỹ từng phút một, và nếu họ không phản đối, cháu có thể ở lại để chứng kiến lịch sử được tạo ra như thế nào. Chúng ta sắp ký hiệp ước cung cấp ngân sách chiến tranh cho Đệ nhất Tổng tài, và việc này sẽ đưa nước Mỹ lên hàng các cường quốc hàng đầu.”

Chuyện riêng của tôi dường như quá nhỏ bé bên cạnh những việc trọng đại như vậy, và tôi thấy chú mình đã hoàn toàn quên mất nỗi lo lắng tối hôm trước. Chính tôi cũng vô cùng phấn khởi, bởi đây là thời khắc tôi đã mong chờ suốt gần một năm qua, dù thực tế sắp diễn ra vượt xa cả những tưởng tượng táo bạo nhất của tôi.

Một lúc sau, hai vị khách được xướng danh, và cả hai đều chào đón tôi nồng nhiệt, bởi họ biết gia đình tôi ở quê nhà và tôi cũng từng đến thăm họ vài lần ở Paris. Chú tôi cũng chẳng cần phải mở lời xin phép cho tôi được chứng kiến lễ ký kết hiệp ước. Chính ngài Livingston đã chủ động đề nghị mời tôi ở lại, và khi những người khác nhiệt thành tán thành, tôi chân thành cảm ơn sự lịch thiệp của họ rồi lui về ngồi ở phía sau, nơi tôi không làm gián đoạn cuộc thảo luận của họ.

Văn bản có vẻ dài, và thực ra theo như tôi hiểu thì có tới ba văn bản—một bản họ gọi là hiệp ước, và hai bản khác gọi là “công ước”. Họ đọc lại tất cả thật kỹ nhiều lần trước khi ký, và tôi được nghe đọc điều khoản mà chính mắt tôi đã thấy Đệ nhất Tổng tài viết; tôi phát hiện ra một công ước quy định phương thức thanh toán sáu mươi triệu franc cho nước Pháp, còn công ước kia liên quan đến khoản hai mươi triệu franc mà Hoa Kỳ sẽ trả cho những công dân của mình có yêu cầu bồi thường đối với Pháp.

Có một vài cuộc thảo luận ngắn về những điểm nhỏ vốn được giải quyết dễ dàng, rồi vô cùng trang trọng, từng người một ký vào ba văn bản, ngài Livingston ký tên trước, rồi đến ngài Monroe, và sau cùng là chú tôi. Khi công việc hoàn tất, cả ba vị như cùng một thúc giục đứng dậy bắt tay nhau, gương mặt họ rạng rỡ một ánh sáng trang nghiêm mà tôi tin rằng không xuất phát từ niềm kiêu hãnh cá nhân, mà từ niềm vui vị tha khi đã hoàn thành một hành động mang lại vinh quang và lợi ích cho hai dân tộc lớn cùng các thế hệ tương lai. Ngồi trong góc của mình, tôi cũng tự hào không kém gì họ và vô cùng hạnh phúc (khi nghĩ đến vinh dự sắp đến với đất nước mình, đặc biệt là những phúc lành cho vùng Miền Tây bao la mà tôi rất quan tâm), và lần đầu tiên trong đời, tôi cảm thấy việc đạt được những điều vĩ đại như vậy bằng tài kinh bang tế thế và một nét bút có lẽ còn tuyệt vời hơn cả việc giành lấy danh tiếng và vinh quang bằng gươm đao. Rồi tôi thấy ngài Livingston bắt đầu phát biểu. Ông đứng thẳng, cao ráo, tuấn tú, phong thái rất ấn tượng, tràn ngập phẩm giá và một niềm vui trang nghiêm. Tôi rất tự hào về ông với tư cách là người đại diện cho đất nước mình, và từng từ ông thốt ra càng làm tôi thêm tự hào và hạnh phúc.

“Chúng ta đã sống những năm tháng dài,” ông bắt đầu, “nhưng đây là công trình cao quý nhất trong cả cuộc đời chúng ta. Hiệp ước chúng ta vừa ký không thu được bằng mưu mô hay bị áp đặt bởi vũ lực; mang lại lợi ích bình đẳng cho cả hai bên ký kết, nó sẽ biến những vùng hoang vắng bao la thành những vùng đất hưng thịnh. Kể từ ngày hôm nay, Hoa Kỳ bước vào vị trí giữa các cường quốc hàng đầu. Người Anh mất đi mọi ảnh hưởng độc tôn trong các vụ việc của châu Mỹ. Nhờ đó, một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự kình địch và thù oán ở châu Âu sắp sửa chấm dứt. Những văn kiện chúng ta vừa ký sẽ không làm rơi một giọt nước mắt nào; chúng chuẩn bị cho những thời đại hạnh phúc cho vô số thế hệ loài người. Sông Mississippi và sông Missouri sẽ chứng kiến họ nối tiếp nhau và sinh sôi nảy nở, thật sự xứng đáng với sự quan tâm và che chở của Đấng An Bài, trong lòng sự bình đẳng, dưới những đạo luật công bằng, thoát khỏi những sai lầm của sự mê tín và tai họa của một chính quyền tồi tệ.”

Chú tôi và ngài Monroe dường như rất ấn tượng trước những lời phát biểu của ông (và quả thực, bất kỳ ai nghe thấy cũng không thể không xúc động); sau đó là nửa giờ trò chuyện vui vẻ, trong đó ba vị đại diện đã rộng lòng lôi cả tôi vào cuộc đàm đạo. Khi các đại sứ Mỹ cáo từ, chú tôi quay sang tôi.

“Chà, cháu trai,” ông nói, gương mặt hiền từ rạng rỡ, “chúng ta đã giải quyết xong công việc của hai quốc gia lớn một cách rất mỹ mãn; giờ ta sẽ giải quyết việc của cháu. Tối qua Đệ nhất Tổng tài muốn gì ở cháu vậy?”

Tôi đã quyết định kể cho chú nghe toàn bộ mối duyên cớ quen biết với Nữ bá tước de Baloit và Hiệp sĩ Le Moyne, nếu ông có thời gian nghe—vì nếu không thì thật khó giải thích về cuộc gặp với ngài Tổng tài, hoặc vì sao tôi lại được triệu đến trước mặt ngài—nên tôi hỏi liệu ông có thời gian nghe một câu chuyện dài không. Ông trả lời rằng ông thấy mình hoàn thành như vậy là đủ cho một ngày rồi, và sẽ không làm gì thêm cho đến ít nhất là bữa tối; biết đâu muộn hơn trong buổi tối ông lại được triệu đến cuộc diện kiến với Đệ nhất Tổng tài ở điện Tuileries.

Ông hầu như không ngắt lời trong suốt câu chuyện dài của tôi, trừ phi một nụ cau mày dữ dội thỉnh thoảng trước một sự phản trác nào đó của gã hiệp sĩ có thể xem là sự ngắt lời. Ông cười khoái chí khi tôi kể lại chuyện đã làm gã hiệp sĩ vấp ngã trên cầu thang lớn ở St. Cloud, và thốt lên một tiếng “Diable!” đầy lực khi nghe tin tôi bị triệu ra trước Đệ nhất Tổng tài ra sao. Ông nín thở lắng nghe tôi thuật lại cuộc gặp với ngài Tổng tài, rồi thở phào một hơi nhẹ nhõm khi tôi kết thúc.

“Trời ơi, cháu trai,” ông nói, “cháu đã trải qua những trải nghiệm ly kỳ đấy! Ta ngạc nhiên là cháu có thể gác chúng sang một bên để quan tâm sâu sắc, như cháu vừa thể hiện, đến việc làm của ba ông già nhà ngoại giao.”

Tôi quả quyết với ông rằng những gì ba vị nhà ngoại giao vừa hoàn thành còn khiến tôi quan tâm hơn bất kỳ chuyện riêng nào của bản thân. Trong suốt câu chuyện, tôi lướt qua Nữ bá tước de Baloit nhẹ nhàng nhất có thể, hy vọng chú không nhận ra tôi có cảm tình đặc biệt với nàng; nhưng ông là một người quá tinh đời nên không dễ gì bị dắt mũi.

“Nói vậy thì tốt,” ông đáp lại lời quả quyết của tôi về việc quan tâm đến chuyện quốc gia đại sự hơn chuyện cá nhân; “ta không nghi ngờ gì việc cháu tin vào điều mình nói, và ta cũng sẽ dễ dàng tin như vậy nếu không có Nữ bá tước de Baloit. Những chuyện tình ái như thế cuốn hút hơn bất kỳ điều gì trên đời, nếu ta nhớ không nhầm thời tuổi trẻ của mình. Nhưng ta không ngờ hướng gió lại thổi về ngả đó, như ngài Shakspere của cháu vẫn thường nói. Cháu có biết mình đang trèo cao đến mức nào không? Ta biết người Mỹ các cháu chẳng từ điều gì; nhưng cháu trai mến thương ơi, cháu có trèo cao như vậy thì thà mơ đến tay Công chúa Charlotte của nước Anh còn hơn!”

“Tôi không dám tơ tưởng đến tay ai cả, thưa chú,” tôi trả lời hơi gay gắt, vì tôi biết quá rõ mọi ước mơ của mình vô vọng đến mức nào nên không muốn ai nghĩ rằng mình đang ôm ấp những hy vọng hão huyền. “Dù tình cảm của tôi dành cho Nữ bá tước có là gì đi nữa, tôi chưa bao giờ có chút hy vọng mỏng mong nào. Nếu Nữ công dân Capet, như cách gọi của Đệ nhất Tổng tài, không thành công trong việc gả ép tiểu thư bá tước cho Hiệp sĩ Le Moyne, thì các anh họ của nàng là Bá tước d'Arbois và Công tước d'Enghien nhiều khả năng cũng sẽ gả nàng vào một trong những hoàng tộc đang cai trị ở châu Âu. Tiểu thư Nữ bá tước có tỏ ra tốt bụng với tôi, nhưng cũng chỉ như bất kỳ cô gái tử tế nào đối với người đã giúp mình một vài việc nhỏ, và tôi không phải kẻ dựa vào lòng biết ơn đó mà ảo tưởng.”

Chú tôi nhìn tôi một lúc với một nụ cau mày nhỏ giữa hai lông mày, như thể ông đang cố giải một câu hỏi hóc húa, rồi nếp nhăn tan biến và ông mỉm cười lên tiếng:

“Được rồi, được rồi, ta sẽ gác chuyện Nữ bá tước sang một bên; đó là một bài toán quá khó. Còn bây giờ là một câu hỏi thực tế hơn. Cháu có muốn nhận lời đề nghị này của Đệ nhất Tổng tài không?”

“Rất muốn, thưa chú,” tôi hào hứng đáp.

“Ta nghi ngờ liệu mình có quyền cho phép cháu làm điều đó hay không,” chú tôi đáp; “nhưng ta sẽ tự quyết định chừng này quyền hạn. Nếu Đệ nhất Tổng tài đồng ý nhận cháu với điều kiện phụ thuộc vào lệnh của cha cháu khi chúng ta nhận được tin từ ông ấy, ta sẽ đồng ý, và ta sẽ viết thư cho cha cháu bằng chuyến tàu thủy đầu tiên. Sẽ mất khoảng mười đến mười hai tuần trước khi chúng ta có thể nhận được hồi âm, và có thể lâu hơn nhiều. Nhưng ta khá nhẹ nhõm vì cháu muốn nhận lời đề nghị của Đệ nhất Tổng tài. Ông ấy không thích các ân huệ của mình bị từ chối, và ông ấy hoàn toàn có thể bắt ta chịu trách nhiệm vì đã xúi giục cháu nếu cháu khước từ.”

Đệ nhất Tổng tài đồng ý nhận tôi theo các điều kiện đó (tôi nghĩ ngài chẳng chút nghi ngờ về câu trả lời của cha tôi; ngài tự tin vào sức hút của tên tuổi mình đến mức tin rằng bất kỳ người cha nào cũng sẽ tự hào khi có con trai phục vụ dưới trướng ngài), và chỉ vài ngày sau, tôi đã khoác lên mình bộ đồng phục lấp lánh và dành từng khoảnh khắc rảnh rỗi khi hết giờ gác để cưỡi ngựa qua lại trên đại lộ Champs-Élysées, không hẳn với hy vọng gặp Nữ bá tước de Baloit mà là để nàng nhìn thấy tôi. Bởi tôi cảm thấy một nửa niềm vui trong bộ trang phục lộng lẫy này sẽ tan biến nếu nàng không thể nhìn thấy và ngưỡng mộ chúng.

Và khi thanh gươm của tôi khua lách cách cùng tiếng thúc ngựa vang lên theo nhịp chú ngựa Fatima chồm lên và nhún nhảy dưới gối tôi trong thời tiết mùa xuân rực rỡ, trái tim tôi rộn rã hát hòa nhịp theo.

Liệu có thể nào Bonaparte vĩ đại lại biến phần còn lại trong lời nói của ngài từ đùa thành thật? Liệu ngài có lẽ, giờ đây khi đã biến tôi thành sĩ quan phụ tá, sẽ sẵn lòng giao nàng cho tôi như từng muốn giao cho gã hiệp sĩ chăng?

Và trái tim tôi càng cất cao tiếng hát hơn nữa khi Fatima, đáp lại cái chạm tay phấn khích của tôi, chồm lên và phi nước đại dọc theo đại lộ, và tôi nhớ lại đêm ấy trên dòng La Belle Rivière khi tiểu thư từng ước rằng tôi là một hiệp sĩ của nước Pháp. Chẳng phải giờ đây tôi đã là một hiệp sĩ trên thực tế, dù chưa có danh xưng đó sao?

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 5 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.