"Đóa hồng mà tất cả mọi người đều ca ngợi."
"Và đây là làng St. Louis phải không ngài?"
Sự bối rối, nỗi hổ thẹn, cơn thịnh nộ, bóng hình của giai nhân kiều diễm, vị bác học kỳ lạ nọ—mọi ký ức về chuyến thăm ngắn ngủi tới Cahokia đã bị cuốn trôi bởi dòng nước xiết của con sông lớn mà tôi từng đọc và nghe kể rất nhiều.
Tâm trí tôi tràn ngập những giai thoại về nhà thám hiểm người Tây Ban Nha De Soto; về nhà buôn người Pháp Joliet; về vị linh mục dòng Tên tận tụy và thánh thiện, được người da đỏ yêu mến, cha Marquette; và về tên Norman gan dạ La Salle, kẻ căm ghét và khiếp sợ mọi tu sĩ dòng Tên. Tôi nhìn dòng sông qua tấm lụa mộng mơ làm mạ vàng làn nước đục ngầu của nó, nhưng chính một điều gì đó hoàn hảo khác xa quá khứ lãng mạn ấy đã khiến mạch đập tôi rộn lên, dòng máu sục sôi trong huyết quản đến mức tôi gần như không nghe rõ câu trả lời của vị đại úy, và ngẩn ngơ chẳng biết mình đã đáp lời ông ra sao.
Suốt những tháng ngày tôi lưu trú ở Kentucky, chỉ có một chủ đề duy nhất chiếm trọn tâm trí—việc người Tây Ban Nha đóng cửa sông Mississippi đối với tàu thuyền Mỹ, cùng sự cự tuyệt của họ trong việc ban cho chúng ta quyền ký gửi hàng hóa trên đảo New Orleans. Sức ép dư luận dâng cao đến mức người ta đã thốt ra những lời đe dọa ngấm ngầm chống lại chính phủ ở Washington.
Có hai phe phái, mỗi phe hành động trong bóng tối và quy tụ hàng ngàn thành viên. Một phe chủ trương xuất phát ngay xuống hạ nguồn để chiếm lấy New Orleans và nắm quyền kiểm soát độc tôn cả hai bờ sông; và nếu chính phủ ở Washington không chịu giúp đỡ, hoặc tệ hơn nữa, cấm cản chiến dịch này, họ sẽ tự dựng lên một chính phủ độc lập ở miền Tây. Phe thứ hai, chịu sự giật dây từ các mật th vụ của chính phủ Tây Ban Nha, thì muốn giương cao ngọn cờ Tây Ban Nha và tự tuyên bố là thần dân của vua Charles xứ Aragon. Những sứ giả bí mặt của Tây Ban Nha đã hùng hồn thuyết khách về sự thờ ơ của chính phủ bản địa miền Đông, cùng sự bất lực của họ trong việc giúp đỡ người dân miền Tây dẫu có muốn đi chăng nữa, và người ta đồn rằng họ đã dùng tiếng leng keng của đồng vàng Tây Ban Nha để chốt lại các luận điểm của mình. Lại phản quốc và lòng ái quốc, một nỗi căm phẫn sục sôi trước những bất công chưa được đền bù, cùng niềm nhiệt huyết cuồng nhiệt hơn nữa dành cho sự chinh phục đã đẩy dòng máu Kentucky lên đến độ nóng sốt. Những xúc cảm bị khơi mawcj đến mức chỉ cần một tia lửa từ bùi nhùi là đủ bùng lên thành đám cháy lớn.
Riêng với tôi, một người bạn và là họ hàng xa của dòng họ Clarke, hoàn toàn không có khả năng vướng vào vết nhơ phản quốc. Nhưng trong khi việc khuất phục dưới ách thống trị của Tây Ban Nha sẽ là tội phản quốc đen tối nhất và đáng ghê tởm nhất đối với tâm hồn tôi, thì với tuổi trẻ của mình, tôi thấy chẳng có chút phản quốc nào trong việc ép buộc Tây Ban Nha phải cúi đầu trước các yêu sách của chúng ta bằng lưỡi gươm giáo. Tôi hoàn toàn ủng hộ chiến tranh, và khi sự phán đoán điềm tĩnh hơn của tướng Clarke cùng người anh trai—vị đại úy của tôi—lấn át để tạm thời làm dịu đi bầu không khí chiến tranh cuồng loạn ấy, tôi đã vô cùng thất vọng.
Giờ đây, lần đầu tiên trong đời, tôi đang chiêm ngưỡng con sông từng khơi nguồn cơn bão lớn ở Kentucky, và thứ làm dòng máu trong huyết quản tôi sục sôi không phải là những câu chuyện về De Soto và La Salle, về Joliet và cha Marquette, mà chính là ý nghĩ rằng đây là dòng sông hùng vĩ bị cấm cửa đối với thương mại của chúng ta, rằng dòng nước nâu cuồn cuộn ngay dưới chân tôi đang chảy xiết xuôi về thành phố của người Tây Ban Nha bên vịnh Mexico, và tôi khao khát được trở thành một phần của đoàn quân lao đi cùng dòng nước ấy để giành lấy các quyền lợi tự nhiên và bất khả xâm phạm của chúng ta bằng con đường chinh phục.
Tôi biết rằng Đại úy Clarke đến St. Louis để giải quyết một số vấn đề nợ nần cho anh trai mình—những khoản nợ phát sinh chủ yếu với ông Gratiot và ông Vigo mà chẳng mang lại lợi ích gì cho bản thân ông, nhưng lại nhằm giải cứu và bảo vệ người dân Illinois khỏi bàn tay của thổ dân da đỏ và người Anh; những khoản nợ vốn dĩ thuộc trách nhiệm của chính phủ, nhưng lại bị chính phủ chối bỏ, để rồi dồn gánh nặng lên vai một con người cao quý—kẻ, gần như đơn độc, bằng lòng dũng cảm và thiên tài quân sự vô song, đã gìn giữ toàn bộ vùng đất miền Tây ấy cho Liên bang.
Tôi biết đó là sứ mệnh của đại úy tôi, nhưng tôi vẫn hy vọng có thể chạm đến vấn đề hàng hải trên sông với vị thống đốc người Tây Ban Nha tại St. Louis, và trong đầu tôi hiện lên viễn cảnh trở về Kentucky rồi, giữa những tiếng hò reo tán thưởng của đồng bào, dõng dạc tuyên bố rằng Đại úy Clarke, với sự phò tá của người họ hàng trẻ tuổi, đã thành công trong việc thuyết phục Thống đốc Tây Ban Nha Delassus nhận ra những bất công giáng xuống thương mại Mỹ bởi lệnh cấm đoán phi lý; rằng nhờ đó Delassus đã đứng ra khiển trách vị quan tổng quản ở New Orleans, và kết quả là con sông đã được mở cửa thông ra vịnh, đồng thời một cảng ký gửi được ban ơn trên đảo New Orleans để các thương nhân của chúng ta có thể cất trữ hàng hóa mang xuôi dòng xuống bán.
Chính vì tâm trí tôi đang ngập tràn những giấc mơ ngọt ngào về vinh quang ấy nên tôi mới đáp lời đại úy một cách đãng trí và lạc đề đến vậy. Lúc đó trời hãy còn sớm đến nỗi tia nắng ban mai thấp lè tè sau lưng chúng tôi vừa bắt đầu mạ vàng những vách đá trước mặt. Chúng tôi khó lòng có được một cái nhìn đầu tiên tuyệt vời hơn thế về thị trấn Tây Ban Nha mà chúng tôi từng nghe kể nhiều. Nằm cao và khô ráo trên những vách đá vôi—nơi không một trận lụt nào mà con sông lớn nổi tiếng có thể với tới—thị trấn kéo dài theo một dải lởm chởm dài tới một dặm rưỡi. Những ngôi nhà ở đây, đôi chỗ có quy mô bề thế, được bao bọc giữa những lùm cây, và từ khoảng cách đó, trông như thể chúng tọa lạc giữa những khu vườn rộng lớn. Phía sau ngôi làng nhô lên một ngọn đồi khác, trên đỉnh đặt một pháo đài, và từ pháo đài ấy, theo cả hai hướng, những hàng rào cọc uốn lượn quanh thị trấn, cách quãng bởi những công sự hình bán nguyệt, rồi kết thúc tại các vách đá bằng những ngọn tháp bằng đá. Phía sau bậc thềm thứ hai này, địa thế tiếp tục dâng cao qua một loạt các bậc thang, một phần phủ đầy bụi cây thấp và cây củi, một phần bao bọc bởi những cánh rừng cao vút đung đưa, mang lại một ấn tượng giàu có khôn tả cho phong cảnh, nơi từng chi tiết đều được những tia nắng mai rực rỡ chiếu rọi nổi bật lên đầy sống động. Tổng thể tạo nên một diện mạo vô cùng ấn tượng, giống tranh vẽ về những thị trấn có tường thành bên bờ sông Rhine hơn là bất cứ nơi nào tôi từng thấy ở đất nước chúng ta.
Lúc này chúng tôi đã tiến ra xa giữa lòng sông đến mức thủy thủ không thể dùng sào được nữa, đành phải phó mặc cho tấm buồm lớn được căng lên để bắt lấy ngọn gió đông nam lồng lộng, kết hợp với những nhịp chèo mạnh mẽ; và tôi có thể thấy rằng dù họ đang gồng mình chống lại dòng nước xiết, con thuyền vẫn bị đẩy trôi dần xuống hạ lưu, tụt lại phía sau ngôi làng cùng bến đáp.
Chèo thuyền trên sông Schuylkill và Delaware vốn là trò tiêu khiển yêu thích của tôi, và tôi chắc chắn mình cũng có chút tự hào về tay chèo của bản thân. Quên đi cơn bệnh vừa qua cùng thể trạng yếu ớt mà nó để lại, tôi giật lấy mái chèo từ tay một chàng trai trẻ có vẻ như sắp kiệt sức, bất thần xô cậu ta ngã nhào xuống đáy thuyền rồi chiếm lấy vị trí của cậu ấy. Đến sự kinh ngạc của tôi, tôi nhận ra đây hoàn toàn không phải là dòng nước hiền hòa chảy đều đặn của các con sông miền Đông. Mái chèo suýt chút nữa đã bị giật phăng khỏi tay tôi ngay nhịp khua đầu tiên xuống dòng nước xiết, và dù tôi đã cố tóm lấy nó bằng một cú vươn tay điên cuồng và tuyệt vọng, mái chèo vẫn nhẹ bẫng như một chiếc lông vũ trong tay tôi, và tôi thấy vị đại úy (kẻ đã chứng kiến hành vi soán ngôi mái chèo độc đoán của tôi) đang cố nén một nụ cười tinh quái, trong khi đôi tai hổ thẹn của tôi bắt được âm thanh cười khẩy chế giễu vang lên phía sau, và Yorke—gã da đen xấc láo—thì cười toe toét đến tận mang tai.
Tệ hại nhất là, bản thân tôi cũng nhận ra chúng ta đang bị đẩy lùi nhanh hơn trước. Từ trước tới nay, tôi vốn có một nỗi sợ hãi tột cùng với việc thừa nhận mình thất bại (trừ khi là trong tranh luận, vì tôi chẳng có tài ăn nói). Tôi sẽ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, chứ đời nào chịu đầu hàng, dẫu đôi lúc đó là một cách hành xử dại dột, nhưng phần nhiều lại giúp gặt hái chiến thắng từ trong cay đắng. Dưới ánh mắt dõi theo của đại úy, tôi cảm thấy việc thất bại ngay cả trong một chuyện nhỏ nhặt như thế sẽ là nỗi nhục nhã mà tôi không bao giờ có thể sống sót qua nổi. Thế là, tự nhủ lòng phải bình tĩnh, đồng thời hồi tưởng lại một kỹ thuật xoay cổ tay mà một ông già da đỏ từng dạy tôi ở Pennsylvania, tôi nhanh chóng nắm bắt được mẹo dùng lưỡi chèo và nhận ra mình đang giữ vững được vị trí. Hy vọng trỗi dậy, và tôi dần dồn hết sức lực này đến sức lực khác, cho đến khi, với sự mãn nguyện vô bờ, cuối cùng tôi thấy chúng tôi không còn bị trôi dạt xuống hạ nguồn nữa, mà đang hiên ngang vượt ngược dòng chảy, với viễn cảnh tươi sáng là sẽ cập được bến đậu. Khi ấy quả thực tôi vô cùng hân hoan, lòng dũng cảm trào dâng trong huyết quản, và những nhịp chèo của tôi trở nên nhanh nhẹn, chắc nịch đến mức tôi cảm thấy chỉ với đôi tay đơn độc của mình, tôi cũng có thể đưa con thuyền lớn cập bến an toàn. Nhưng ngã ba đường thứ hai trong buổi sáng hôm ấy lại chính là sự kiêu ngạo đã hại đời tôi. Chúng tôi quả thực đã cập bến, nơi một đám đông người tụ tập ru rít đón chào, trong đó có một vị quý tộc Tây Ban Nha đường bệ (mà tôi không mảy may nghi ngờ chính là ngài thống đốc) vây quanh bởi một đoàn tùy tùng quan chức; thế nhưng khi sống thuyền chạm vào lớp bùn mềm và vị đại úy gọi tôi đi cùng để diện kiến ngài thống đốc, rồi tôi đứng dậy để tuân lệnh ông, bỗng nhiên một bóng tối dày đặc cùng cơn chóng mắt ù ù ập đến, và tôi chẳng còn biết trời đất là gì nữa cho đến khi mở mắt ra thấy mình đang được bốn người khiêng trên vai, ngược con dốc đứng tiến lên hướng con đường làng. Tôi dùng những từ ngữ đanh thép nhất để khăng khăng đòi được tự bước xuống bằng đôi chân của mình, nhưng vì tôi nói tiếng Anh, trong khi binh lính hoặc là người Tây Ban Nha hoặc là người Creole gốc Pháp, nên mọi lời van nài lẫn nguyền rủa của tôi đều trôi tuột vào hư không đối với họ. Những cú vùng vẫy đạp phá của tôi cũng chẳng khá hơn; họ chỉ càng giữ chặt tôi hơn trước những nỗ lực kháng cự ấy. Thế rồi tôi cất tiếng gọi cứu giá oang oang, và gã Yorke luôn sẵn sàng (nhưng với nụ cười mà đôi khi tôi thấy thật đáng ghét) chạy đến cứu nguy cho tôi.
"Yorke!" Tôi quát lên với hắn: "Bảo đám vô lại này đặt tao xuống ngay lập tức, còn ngươi, hừm, ngậm ngay cái cái mồm gớm ghiếc ấy lại cho ta. Ta cảnh cáo ngươi, dám nhe răng cười cợt là ngươi mất mạng đấy!"
Mẹ tôi vẫn luôn kinh tởm những lời thề thốt tục tĩu mà đám quý ông thường lồng vào câu chuyện của họ, và vì vô cùng yêu thương cũng như kính trọng bà, tôi đã hạ quyết tâm sẽ không bao giờ—theo lời bà—"làm vấy bẩn cửa miệng" bằng một câu thề nào cả. Nhưng thường xuyên cảm thấy nhu cầu cần có những biểu đạt mạnh mẽ hơn mức ngôn ngữ thông thường cung cấp trừ phi dùng lời thề, tôi đã tự chế ra một từ vựng nho nhỏ dành cho những dịp đòi hỏi sự nhấn mạnh cao độ. Vì những từ này đều bắt đầu bằng chữ d, nên tôi có được sự thỏa mãn khi cảm thấy bản thân đủ sức nhấn mạnh mà không hề vi phạm sự tôn kính dành cho mẹ.
Cho dù là do sự kỳ lạ trong hình thức những lời nguyền rủa của tôi hay độ dài của tính từ đã khiến Yorke khiếp sợ, thì có một điều chắc chắn là hắn đã lập tức tỉnh ngộ, và với vẻ nghiêm nghị hệt như một vị don Tây Ban Nha, hắn nhanh chóng làm cho đám binh lính hiểu rằng họ phải đặt tôi xuống. Một khi đã đứng vững trên đôi chân của mình, dẫu vẫn còn thấy hơi lảo đảo, tôi vẫn có thể, nhờ bám vào cánh tay của Yorke, leo lên con đường dốc dẫn ngược lên vách đá, và chẳng mấy chốc đã thấy mình đặt chân đến con đường chính của ngôi làng, nơi cư dân bản địa gọi là Rue Royale.
Chúng tôi bước ra một quảng trường hoặc khu chợ lớn, đông nghịt dòng người mà tôi vừa thấy ở bến tàu cùng nhiều người khác nữa, thế nên khi đám đông cứ dập dờn tiến lùi để được nhìn cho rõ hơn, toàn bộ không gian mở trông giống như một luống hoa rực rỡ muôn màu đang đung đưa trước gió hè. Và nếu St. Louis từng mang một vẻ ngoài xa lạ đối với tôi khi ngắm nhìn từ xa, thì nay cảm giác như đang đứng giữa một thị trấn xa lạ nơi xứ người lại càng nhân lên gấp bội khi tôi nghe thấy thứ âm thanh hỗn tạp của những ngôn ngữ lạ lùng xung quanh mình cùng những bộ trang phục kỳ lạ của cư dân bản địa, chẳng hề giống với bất cứ thứ gì tôi từng thấy ở Philadelphia hay Kentucky. Những người da đen đang tíu tít nói thứ tiếng bồi Creole kỳ lạ của họ, và những thổ dân da đỏ từ nhiều bộ tộc khác nhau tụ tập thành từng nhóm, một số được trang hoàng bằng thứ đồ trang sức rẻ tiền từ các cửa hàng, một số chỉ khoác những tấm chăn sáng màu nhưng lại đội những chiếc mũ lông đại bàng tuyệt đẹp, và tất cả đều lặng lẽ quan sát với một sự tò mò im lìm hệt như sự ồn ào huyên náo của dân làng. Sự hiện diện của quá nhiều thổ dân da đỏ và trong một mối quan hệ thân thiện nhường ấy khiến tôi thấy lạ lùng, bởi ở Kentucky chẳng hề có mối quan hệ hữu nghị nào giữa người da trắng và người da đỏ như thế, và sự xuất hiện của đông đảo họ thế kia hẳn đã ngầm báo hiệu nguy hiểm và gây ra không ít bất an.
Việc sự xuất hiện của chúng tôi lại gây ra tiếng vang lớn đến vậy trong ngôi làng khiến tôi vô cùng phấn khích, và chắc chắn lòng kiêu hãnh của tôi đã lại bốc cháy nếu tôi không biết rằng chính vị đại úy mới là người mà những con người này đến để chiêm ngưỡng, chứ không phải tôi—một kẻ vô danh tiểu tốt mà họ chưa từng nghe tên. Ngay cả đại úy của tôi, tôi biết, cũng phải tỏa sáng nhờ ánh hào quang phản chiếu, với tư cách là người em trai của Tướng George Rogers Clarke—người mà cư dân St. Louis tôn sùng như vị cứu tinh của họ trong sự kiện năm 1780, khi bộ tộc Osage tập kích bất ngờ những người đang làm việc ngoài đồng, và là người mà toàn bộ thổ dân da đỏ ở Illinois nhìn nhận với nỗi sợ hãi lẫn cung kính như một vị "Đại úy Dao Dài" vĩ đại. Thế nhưng tôi vẫn nhận ra rất nhiều ánh mắt tò mò cũng đổ dồn về phía mình, thế nên tôi buông cánh tay Yorke ra và hiên ngang bước đi với cái cằm ngẩng cao, xứng đáng là một người bạn của Đại úy Clarke.
Chúng tôi dừng lại trước một tòa nhà đá lớn nằm bên trong một khuôn viên có tường bao bọc. Vị đại úy, người đi tiên phong cùng thống đốc và đoàn tùy tùng, khi bước qua cổng liền quay lại ra hiệu cho Yorke và tôi đi theo ông. Đám đông rẽ ra để nhường đường cho chúng tôi, và khi bước qua cánh cổng, tôi thấy vị thống đốc đã dừng chân trên hành lang rộng chạy dọc bốn mặt tòa nhà, đang chào đón Đại úy Clarke đến Dinh Thống đốc với một cử chỉ chào mời đường bệ.
Với Yorke lẽo đẽo ngay sát gót chân, tôi theo đoàn của thống đốc qua một cánh cửa rộng bước vào một gian phòng lớn trải dài suốt ngôi nhà (như tôi có thể thấy qua những cánh cửa ra vào và cửa sổ mở toang ở phía sau), rộng gần bằng chiều dài, với những cánh cửa dẫn vào các căn phòng ở cả hai bên. Tại đây, tôi được diện kiến Thống đốc Delassus, người đã đón tiếp tôi một cách niềm nở, với đôi mắt sẫm màu cùng phong thái câu nệ chuẩn mực chính là hình mẫu lý tưởng của tôi về một nhà quý tộc Tây Ban Nha.
Hai bên ông là hai người đàn ông cũng chào đón tôi nồng nhiệt, nhưng lại không có vẻ câu nệ khuôn sáo như vị người Tây Ban Nha nọ. Đó chính là hai anh em nhà Chouteau: Auguste và Jean Pierre. Tôi từng nghe kể rất nhiều về họ, cả ở Philadelphia lẫn ở Kentucky, và tôi thấy thật khó để che giấu sự tò mò khi ngắm nhìn họ. Tôi từng nghĩ sẽ gặp hai con người biên thùy thô kệch, phảng phất phong cách của Daniel Boone hay Simon Kenyon—cả hai người họ tôi từng diện kiến tại dinh thự của Tướng Clarke; nhưng sự thật lại hoàn toàn khác biệt. Auguste, người anh cả, và cũng là người gần như có công sáng lập St. Louis nhiều hơn cả người cha dượng Laclede của mình, là người điềm đạm hơn trong hai anh em, với đôi mắt sắc sảo, tinh anh tố chất của một doanh nhân thành đạt. Pierre (như cách mọi người gọi người em) trông hoàn toàn chẳng giống anh trai chút nào: cao gầy hơn, với đôi mắt đen láy rực lửa cùng phong thái vui tươi có lẽ được thừa hưởng từ người cha Laclede, bởi vì phu nhân Chouteau (người mà sau này tôi có dịp quen biết rất thân) thậm chí còn có phong thái điềm tĩnh và nghiêm nghị hơn cả người con trai cả Auguste của bà.
Nhưng dẫu có hứng thú đến đâu trong việc gặp gỡ những con người này—và còn rất nhiều nhân vật khác nữa mà tôi từng nghe danh như Manuel Lisa, Gabriel Cerré, Francis Vigo, và Josef Marie Papin—tôi vẫn không thể kìm nén được việc cứ liếc mắt đưa tình đầy lén lút về phía chiếc bàn dài được bày biện ở phía sau gian phòng lớn. Bát cháo loãng vào lúc sáng sớm đã đủ lót dạ tôi vào thời điểm đó, nhưng cơ thể tôi vẫn còn suy nhược vì bệnh tật và những trận đói ăn kéo dài, và cú kéo chèo nhọc nhằn ban nãy thực sự đã để lại cho tôi một chiếc bụng đói cồn cào. Lúc này, căn cứ vào mặt trời và bóng cây, tôi dám cá là đã gần mười một giờ trưa, và tôi bắt đầu cảm thấy cơn chóng mặt kéo đến một lần nữa, kèm theo nỗi sợ hãi tột độ rằng mình sẽ lại ngất lịm đi. Thế nên, thật là một niềm hạnh phúc khôn tả khi tôi thấy những người hầu da đen bắt đầu bưng những món ăn bốc nghi ngút khói ra bày lên bàn, và chẳng có lời nào lọt vào tai tôi êm ái hơn lời mời dùng bữa sáng của ngài thống đốc.
Khi chúng tôi chuẩn bị ngồi xuống, vị đại úy ở bên phải thống đốc, còn tôi được xếp một cách vô cùng tử tế ở bên trái ông, với ông Pierre Chouteau ngồi ngay cạnh, thì bỗng có tiếng động ngoài cửa và ông Gratiot cùng Tiến sĩ Saugrain bước vào. Họ được chào đón nồng nhiệt đến mức ai cũng nhận ra họ là những gương mặt cự phách được ưu ái bậc nhất trong giới thượng lưu ấy. Đáp lại câu hỏi của đại úy, họ cho biết đã rời Cahokia ngay sau chúng tôi, đưa các tiểu thư đi bằng hai chiếc thuyền nhỏ, và vì thuyền nhẹ dễ chèo nên họ đã suýt bắt kịp chúng tôi.
Vừa nghe nhắc đến các tiểu thư, mặt tôi liền đỏ bừng lên đầy khổ sở, và tôi suýt tưởng như vị bác sĩ nhỏ con đang nhìn tôi với một ánh mắt tinh quái đầy tinh nghịch. Nhưng tôi không dám chắc, và tôi quyết tâm gạt ý nghĩ về họ ra khỏi đầu để tập trung vào những vấn đề trọng đại hơn trên bàn ăn.
Và quả thực, hiếm khi trong đời tôi được ngồi vào một bữa ăn ngon lành đến thế. Đó là lần đầu tiên tôi được nếm món ăn Pháp, và khi ấy tôi đã kiểm chứng được điều mà tôi từng nghe đồn đại: rằng người Pháp có một thứ thiên bẩm về gia vị, hương thơm cùng cách bài trí tinh tế mà chúng ta—những kẻ gốc Anglo-Saxon—không tài nào có được. Cũng có thể, cơn đói kéo dài (vì bữa sáng đạm bạc khi nãy gần như chẳng bõ bèn gì) đã gia vị hóa các món ăn mạnh mẽ hơn bất kỳ kỹ nghệ nào của đầu bếp Pháp, bởi vì sự thèm ăn của tôi đã bùng nổ trở lại, và lần đầu tiên sau nhiều ngày, tôi ăn uống hệt như một kẻ khỏe mạnh, và là một kẻ đang vô cùng chết đói. Thật vậy, tôi đã dùng dao nĩa hăng say đến nỗi Pierre Chouteau không kìm được việc phải cất lời chúc mừng tôi, bằng giọng điệu lịch thiệp đậm chất Pháp, về khả năng "càn quét" bàn ăn của tôi; khiến tôi được một phen đỏ mặt tía tai.
Và giờ đây, khi cái đói đã được dịu bớt, tôi có đủ thảnh thơi để tận hưởng những lời trêu chọc và đối đáp sắc sảo tung hứng qua lại khắp bàn ăn bằng thứ ngôn ngữ pha trộn giữa tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha. Đã có rất nhiều lời chúc rượu được nâng lên, đa phần mang từ ngữ lịch sự và được nhấp môi đầy tao nhã, bởi tôi nhận ra những người Pháp này không phải là những kẻ chè chén say sưa, và họ không cảm thấy cần thiết phải cạn sạch ly trong mỗi lần chúc rượu theo kiểu cách ở Kentucky. Sức khỏe của đại úy tôi đã được nâng ly chúc mừng và ông đã đáp lễ bằng ly rượu dành cho thống đốc (và những người chủ nhà lịch thiệp của chúng tôi cũng không quên vinh danh tôi), và bầu không khí vui vẻ bắt đầu trở nên có chút ồn ào, thì một thiếu niên—kẻ chắc chắn đã uống nhiều hơn mức tốt cho bản thân—đột ngột vùng đứng dậy. Vừa khua khua chiếc cốc hướng về phía Yorke (người đang đứng sau ghế của Đại úy Clarke, nhe răng cười toe toét trước mọi lời tung hứng dí dỏm, dẫu hắn có hiểu hay không), cậu ta vừa dõng dạc gọi:
"Tôi xin nâng ly chúc sức khỏe Monsieur Yorke, thưa các ngài, vị thần Mercury da màu cao lớn và tươi cười nhất. Cầu mong chiều cao của hắn không bao giờ vơi và nụ cười không bao giờ tắt."
Tôi thấy đại úy cau mày, và Yorke—kẻ chẳng hiểu nổi một từ nào được thốt ra vì toàn bằng tiếng Pháp—cũng dễ dàng nhận ra cử chỉ hướng về phía mình, cùng những ánh mắt ngập ngừng nhìn theo và những chiếc ly được nhấc lên nửa vời khi chủ nhân của chúng còn đang lưỡng lự không biết lời chúc này là đùa cợt hay nghiêm túc. Đôi mắt hắn đảo qua đảo lại đầy sợ hãi từ kẻ vừa cất lời chúc cho đến Đại úy Clarke rồi lại quay về. Tôi biết vị đại úy sẽ không bao giờ dung thứ cho sự sỉ nhục khi sức khỏe của mình lại được chúc mừng bên cùng một chiếc bàn và bởi chính những kẻ sau đó lại đi chúc tụng tên nô lệ của ông, và lo sợ một tình huống oái oăm xảy ra, tôi liền vùng đứng dậy để ngăn chặn nó. Tôi giơ cao chiếc ly và hét lên:
“Hãy nghe tôi này, thưa các ngài! Chẳng lẽ không có một vị giai nhân nào xứng đáng để các thanh niên các anh nâng ly chúc tụng sao? Bởi chúng ta tuyệt đối không thể nâng ly vì các tiểu thư sau khi đã uống vì một tên nô lệ da đen. Tôi xin gửi đến các ngài, thưa các ngài, người phụ nữ đẹp nhất St. Louis!"
Khi thốt lên những lời đó, trong một khoảnh khắc thoáng qua, tôi mường tượng ra một cánh tay trắng ngần trần trụi đến tận vai, một bàn tay mảnh mai đang nắm lấy bộ bờm hung và đôi mắt đen ánh lên vẻ khinh miệt. Có lẽ nhờ hình ảnh ấy mà giọng nói của tôi mang một âm vực đanh thép khiến mọi người đều phải đứng phắt dậy, và khi những chiếc ly chạm vào nhau, ai nấy đều uống cạn vì người phụ nữ trong mộng của mình với một tiếng hò reo vang dội.
Khi chúng tôi hạ ly xuống bàn, úp ngược vành ly xuống, người thanh niên vừa đề xuất chúc sức khỏe cho Yorke liền nói, với một cái cúi đầu xin lỗi tôi:
"Tôi xin nhận sự quở trách này, và nếu ngài đây cho phép, tôi xin phép được lặp lại lời chúc của ngài: Gửi người phụ nữ đẹp nhất St. Louis—nữ ward của Tiến sĩ Saugrain!"
"Hãy rót đầy ly của các ngài, thưa các ngài, cạn sạch đến giọt cuối cùng rồi ném chúng qua vai đi; đó là một lời chúc vô cùng xứng đáng," thống đốc hô lên; và vừa rót đầy ly đến miệng, vừa ngửa cổ cạn sạch trong một hơi, ông liền tung chiếc ly qua vai mình—một hành khách mà những người khác, từ kẻ đã có vợ cho đến kẻ độc thân, đều hăng hái hưởng ứng theo. Giữa âm thanh đinh tai nhức óc của những mảnh thủy tinh vỡ vụn, tôi thoáng thấy ánh mắt của Tiến sĩ Saugrain và ông Gratiot đang dán chặt vào tôi đầy tò mò. Tôi quay sang ông Pierre Chouteau:
"Nữ ward của Tiến sĩ Saugrain chắc hẳn phải tuyệt sắc lắm mới khơi gợi được sự cuồng nhiệt nhường này," tôi lên tiếng.
"Vraiment," Pierre đáp lại, "cô ấy chính là Đóa hồng của St. Louis. Nhưng chiều nay ngài sẽ dùng bữa tối cùng Tiến sĩ Saugrain: ngài sẽ tận mắt chứng kiến, rồi ngài sẽ rõ. Cậu Josef Papin trẻ tuổi đằng kia, người vừa cất lời chúc rượu, đã mê mẩn cô ấy đến phát cuồng rồi. Và một nửa đám trai tráng trong làng cũng thế thôi."
"Vraiment," tôi lẩm bẩm với chính mình, "nếu cô ta còn đẹp hơn cả Mademoiselle Pelagie đầy kiêu kỳ, thì quả thực cô ta là một giai nhân tuyệt trần!"
Mặc dù vậy, tôi vẫn thấy mình đang ngóng chờ bữa tối của Tiến sĩ Saugrain với sự khích động bị nén chặt, trong khi khối óc cứ bận rộn giải mã những cái nhìn đầy ẩn ý của ông và ông Gratiot hướng về phía mình.