Bông Hồng Thành St. Louis

Lượt đọc: 407 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5
Tôi Đi Dự Buổi Dã Ngoại Bên Hồ Chouteau

❊ ❊ ❊

"Nhiều chàng trai và nhiều thiếu nữ

Cùng khiêu vũ trong bóng râm loang lổ."

Vị lương y thở phào nhẹ nhõm khi tiểu thư rời khỏi phòng, theo sau là phu nhân — người chắc hẳn vì lòng tốt của mình, đã ra ngoài để khen ngợi thiếu nữ vì đã làm đúng phận sự, đồng thời an ủi cô vì phải đi dự buổi dã ngoại với một kẻ mà cô mới chỉ quen sơ và quen chỉ để mà ghét.

Tiếng thở dài nhanh chóng nhường chỗ cho một cái cau mày.

"Tôi ước gì ward của mình không quá bướng bỉnh như vậy. Tôi hầu như không thấy an toàn chút nào khi con bé đến hồ Chouteau, nếu quả thực, như tôi lo ngại, kẻ thù của nó đang mưu đồ bắt cóc nó."

"Tôi sẽ dùng cả sinh mạng để bảo vệ nàng, thưa ngài," tôi vội vã khẳng định, "vì ngài đã có lòng tin tưởng trao phó nàng cho tôi."

Vị bác sĩ mỉm cười trước sự nhiệt huyết tuổi trẻ của tôi, nhưng dịu dàng đáp:

"Ta sẵn sàng giao phó con bé cho cậu hơn hầu hết những người khác, chàng trai trẻ ạ, bởi ta tin rằng ta đã hiểu đủ về cậu để biết rằng cậu dũng cảm đến mức liều lĩnh và hoàn toàn đáng tin cậy. Nhưng cậu không nắm được những thủ đoạn của bọn người Osage xảo quyệt này, và nếu Chevalier Le Moyne này chính là kẻ mà ta lo sợ, hắn là một tên ác nhân rất đáng sợ."

"Ngài nghi ngờ hắn là ai?" tôi và người đại úy đồng thanh thốt lên.

Vị lương y chần chừ một khoảnh khắc rồi như thể đã đưa ra một quyết định bất ngờ.

"Ta e rằng mình không có quyền hé lộ điều này với các cậu, bởi đó không phải là bí mật của riêng ta. Trong những gì ta sắp nói đây, đất nước ta cũng đang gửi gắm niềm tin vào đó. Nhưng sự quen biết ngắn ngủi của chúng ta đã truyền cho ta lòng tin nơi cả hai cậu, và ta đang cần lời khuyên cùng sự giúp đỡ trong tình thế cấp bách này, có lẽ cả một thanh gươm bén, nếu một trong hai cậu rảnh tay để dâng hiến nó. Không chỉ có vận mệnh của một thiếu nữ bình thường, như bé Pelagie của chúng ta có vẻ thế, là bị cuốn vào đây, và tuy vậy ta cũng không được tự do tiết lộ những vấn đề lớn lao nào đang bị đe dọa. Chúng ta hãy lấy một ví dụ thế này: sẽ có lợi cho một người phò tá phái Orleanist nếu loại bỏ tất cả những Ứng viên dòng Bourbon có khả năng tranh đoạt ngai vàng nước Pháp, phải không nào? Chỉ để ví dụ thêm thôi, giả sử có một thanh niên phò tá phái Orleanist nào đó, vốn chẳng dính líu gì đến ngai vàng, mà lại kết hôn với một thiếu nữ dòng Bourbon vốn có quyền thừa kế ngai vàng gần hơn nhiều — nhưng tất nhiên đã bị tước quyền bởi giới tính của mình — để ngăn cản nàng kết hôn với hoàng tộc và từ đó sinh ra một người con có thể kế vị ngai vàng. Các cậu có theo kịp lời ta không?"

Cả hai chúng tôi đều cúi đầu tỏ ý đã hiểu, bởi chúng tôi quá nôn nóng nên không muốn ngắt lời ông. Vị bác sĩ nói tiếp:

"Và giả sử qua cuộc hôn nhân đó, hắn đã loại bỏ thêm được một chướng ngại vật trên con đường tiến tới ngai vàng của một người họ hàng quyền thế. Hơn nữa, nếu thanh niên phò tá phái Orleanist này túng quẫn trong khi tiểu thư dòng Bourbon lại có triển vọng giàu sang, hắn sẽ giúp người họ hàng kia tránh được gánh nặng phải chu cấp cho mình. Và nếu hắn là kẻ đồi bại, vô đạo lý, hắn sẽ chẳng từ thủ đoạn nào để đạt được mục đích. Thêm nữa, nếu hắn có vẻ ngoài ưa nhìn và tinh thông mọi ngón nghề Paris, thì cơ hội thành công của hắn với một thiếu nữ còn ít trải đời là hoàn toàn có thể xảy ra. Dù ta chỉ dùng điều này làm ví dụ, thì tình cảnh hiện tại của những người bảo vệ Pelagie cũng đại khái là như vậy. Các cậu thấy đấy, ta có lý do để lo lắng, và ta e rằng mình không có quyền cho phép con bé đến buổi dã ngoại này. Thế nhưng," ngài nhăn mặt, "ta biết làm sao đây? Khi một thiếu nữ bướng bỉnh đã muốn, đàn ông chỉ đành bất lực."

"Và giờ đây, các ngài, các ngài đã thấy ta tin tưởng các ngài đến nhường nào, không chỉ giao phó chuyện riêng của ta mà cả việc đại sự của nước Pháp. Ta không đòi hỏi một lời thề giữ kín, bởi ta cảm thấy chẳng cần đến lời thề ấy. Ta tin rằng Pelagie, những lợi ích của con bé cũng như của gia tộc nó ở nước Pháp sẽ được an toàn trong tay các cậu chẳng kém gì trong tay chính ta."

Khi vị bác sĩ thốt lên những lời cuối cùng ấy, ông bật đứng dậy, và sự xúc động dâng trào được bộc lộ qua đôi mắt ngấn lệ, giọng nói run run và cái đan tay đầy kịch tính.

Do một niềm đồng cảm bộc phát cùng lúc, cả vị đại úy lẫn tôi cũng đứng phắt dậy. Vị đại úy chìa tay ra, và với tư cách là một quý ông ngay thẳng, phác họa đơn giản như bản tính của ông, chỉ nói:

"Sự tin tưởng của ngài không đặt nhầm chỗ đâu, bác sĩ Saugrain; bí mật của ngài được bảo đảm an toàn."

Tôi hầu như quá xúc động không nói nên lời; tôi chỉ có thể lầm bầm khi cúi thấp đầu trên chuôi gươm:

"An toàn như danh dự của tôi!"

Tôi không rõ vị đại úy của tôi đã lắng nghe bản tường thuật dài dòng ấy với tâm trạng thế nào. Còn về phần tôi, tôi vô cùng hứng thú. Tuy nhiên, tôi không tài nào hiểu nổi tại sao việc phát hiện ra vị tiểu thư kiêu kỳ này lại là người thừa kế tương lai của khối tài sản và tước hiệu lớn — có lẽ thậm chí thuộc dòng dõi hoàng gia, bởi tôi chỉ có thể hiểu lời ví von của vị bác sĩ theo hướng đó — lại không làm tôi cảm thấy vui lòng.

"Mademoiselle Pelagie có biết tất cả những chuyện này không?" vị đại úy hỏi. "Nó có biết thân thế và triển vọng của mình không? Có được phép nói với nó về những điều ấy không?"

"Ồ, không, không, không!" vị bác sĩ đáp nhanh, với những cử động phản đối kịch liệt bằng cả đầu và tay. "Pelagie chẳng biết gì ngoài việc, từ thủa ấu thơ lâu lắm rồi trước khi nó kịp nhớ, nó từng sống trong một ngôi nhà đẹp với rất nhiều gia nhân, cùng một người cha và người mẹ yêu thương nó hết mực, nhưng rồi một ngày họ đã rời đi không bao giờ trở lại. Tất nhiên giờ đây nó đã biết lý do tại sao họ không bao giờ trở về, nhưng chỉ có thế thôi. Nó đã sống cùng chúng tôi ở Mỹ gần mười năm, và ta nghĩ nó đã học được cách yêu thương Phu nhân Saugrain và ta gần như thể chúng tôi đích thực là cha mẹ nó, và chúng tôi cũng chẳng thể yêu thương đứa con ruột thịt nào hơn thế."

"Và vì thế, cậu thanh niên thân mến của ta," ông nhìn tôi với vẻ lo lắng đầy trìu mến, "cậu thấy đấy gánh nặng trách nhiệm lớn lao nhường nào mà ta đã đặt lên đôi vai trẻ tuổi của cậu. Nếu gánh nặng ấy quá sức đối với cậu, ta xin miễn cho cậu lời hứa làm người hộ tống, và Pelagie sẽ ở nhà dù nó có muốn hay không. Ta nghĩ đó mới là cách tốt nhất."

"Ồ, không, không, thưa ngài!" tôi hốt hoảng phản đối. "Tôi lấy làm tự hào vì ngài nghĩ tôi xứng đáng với một trọng trách như vậy. Tôi sẽ không bao giờ để nàng rời khỏi tầm mắt dù chỉ một khoảnh khắc, và tôi xin hứa sẽ đưa nàng trở về với ngài một cách bình an."

"Cảm ơn cậu," vị bác sĩ nghiêm trang nói; "đó chính là điều ta mong muốn. Đừng để con bé khuất tầm mắt nếu có thể. Ngay cả khi con bé có vẻ bực bội vì sự soi mói của cậu, ta hy vọng cậu sẽ kiên nhẫn với tính khí của nó — mà ta biết là tính khí của một bậc hoàng tộc — và kiên trì canh chừng. Ta sẽ vô cùng biết ơn cậu."

Đến ngày diễn ra buổi dã ngoại, tôi tự mãn cho rằng mình đã tạo được chút tiến triển nhỏ trong thiện cảm của Mademoiselle Pelagie. Quả thực là rất nhỏ, nhưng tôi ngỡ rằng nàng đối xử với tôi không còn vẻ khinh miệt như ban đầu nữa. Thậm chí, tôi còn tưởng đôi khi mình nhận ra nàng đang chăm chú lắng nghe khi Phu nhân Saugrain hoặc vị lương y tốt bụng gặng hỏi tôi về cuộc sống gia đình tôi ở Philadelphia.

Ít nhất mỗi ngày hai lần, chúng tôi lại quây quần bên bàn ăn, bởi vị đại úy và tôi đã dọn đến ở hẳn nhà bác sĩ Saugrain. Chúng tôi đã phải đắn đo mãi mới chấp nhận những lời mời khẩn thiết của vị bác sĩ. Chắc chắn là trong làng chẳng có quán trọ nào tử tế, ngoại trừ cái quán rượu tồi tàn là nơi tụ tập của đám thổ dân hư hỏng và những gã thủy thủ sông nước bặm trợn, và chúng tôi đáng lẽ đã phải nhận một trong vô số lời mời hiếu khách từ các gia đình Chouteau, Papin, Cerré, quả thực là từ hầu hết mọi công dân hàng đầu của St. Louis, những người đang háo hức tranh giành nhau vinh dự được tiếp đón người anh trai của Tướng Clarke. Tôi nghĩ sự do dự của đại úy bắt nguồn từ cảm giác rằng ông nên nhận lời thết đãi của Émile Yosti hoặc Manuel Lisa, vì công việc của ông chủ yếu liên quan đến họ; nhưng với tôi, đó là cảm giác thật không tài nào chịu nổi nếu phải sống chung dưới một mái nhà với Nương tử Kiêu Kỳ của tôi, và liên tục phải chịu đựng vô số sự khinh miệt nhỏ nhặt từ tay nàng. Thế nhưng, khi vị bác sĩ trình bày đó là một ơn huệ rất lớn đối với ông vào thời điểm này — lúc ông có thể cần sự trợ giúp cũng như lời khuyên của chúng tôi để bảo vệ Mademoiselle Pelagie — chúng tôi không thể từ chối thêm được nữa, và ít nhất là cá nhân tôi, giờ đây lại khao khát được ở lại chẳng kém gì sự bất đắc dĩ ban đầu. Đối với tôi, việc ông có thể cần đến thanh gươm của chúng tôi trợ giúp trở nên vô cùng hợp lý, nếu quả thực có một âm mưu bắt cóc tiểu thư đang được nung nấu, bởi căn nhà của bác sĩ nằm trong một khu vườn rộng lớn, tận rìa ngoài của làng, sát cạnh hàng rào luỹ và không có hàng xóm nào ở trong khoảng có thể nghe thấy tiếng động.

Ngày dã ngoại mở đầu bằng một bầu trời quang đãng, tươi sáng, rồi nhanh chóng chuyển sang làn sương mờ ảo màu tía cùng tiết trời dịu nhẹ của một ngày cuối tháng Mười Một. Bữa sáng vừa dứt thì những người đi dã ngoại bắt đầu qua lại trước nhà, có người đi thành từng nhóm vui vẻ, có kẻ ngồi trên những chiếc xe ngựa kiểu Pháp kéo bằng bò hoặc những con ngựa lùn nhỏ nhắn nhưng dẻo dai, nhưng nhiều người trong số họ — điều mà tôi chú ý với trái tim đập rộn ràng — là cưỡi ngựa đôi, vị thiếu nữ ngồi trên yên phụ, vòng tay ôm chặt lấy eo người hộ tống. Liệu Nương tử Kiêu Kỳ của tôi có mong được đưa đến buổi dã ngoại theo cách ấy không, tôi tự hỏi, và đâm ra hoang mang không biết mình mong mỏi hay lo sợ điều đó hơn.

Nhưng những hy vọng và lo âu của tôi đều vô ích. Tôi ngồi hút thuốc trên chiếc hành lang râm mát, và bắt đầu tự hỏi khi nào vị tiểu thư của tôi mới thấy tiện để khởi hành, bởi giờ đây đoàn người diễu hành đã thưa thớt hẳn, chỉ còn lác đác vài cặp đôi vội vã lướt qua như thể họ sợ mình đã muộn và phải giục giã cho kịp giờ vui. Tôi bắt đầu nghĩ rằng có lẽ nàng đã đổi ý và thà ở nhà còn hơn đi với một người hộ tống mà nàng chẳng hề mong muốn.

Tôi đã thức dậy từ sớm, và dù đã chải chuốt cực kỳ cẩn thận, gọi cả Yorke đến trợ giúp để kiểm tra từng chiếc dây buộc xem còn mới và thắt chặt hay chưa, cùng những chiếc khóa giày sáng loáng, nhưng tôi cũng đã vội vã hết sức, vì chẳng biết lúc nào tiểu thư định khởi hành và vô cùng sợ làm nàng bực mình chỉ vì chậm trễ dù chỉ một phút. Thế nên tôi cứ ngồi đây hút thuốc trên chiếc hành lang râm mát ngót nghét hai tiếng đồng hồ để chờ đợi ý muốn của tiểu thư, và trong lòng bắt đầu bực bội, bởi tính nợn của tôi vốn không phải là thứ có thể điềm nhiên chịu đựng những thói thất thường của một thiếu nữ xinh đẹp — không, ngay cả khi nàng có thể đồng thời là một nữ quý tộc lớn đang cải trang.

Nhưng khi tôi vừa đứng phắt dậy lần thứ mười để bước đi bực dọc dọc theo hành lang, tôi nghe thấy tiếng bánh xe có kẽo kẹt, và từ góc nhà đi tới một chiếc xe charrette kiểu Pháp nhỏ xíu, những chiếc bánh gỗ phát ra tiếng động lớn, do một con bò kéo và có Narcisse đi bên cạnh đánh xe. Tôi vô cùng sửng sốt, bởi với tôi đó không phải là phương tiện đi lại xứng tầm với phẩm giá của con trai một trong những gia đình kiêu hãnh nhất Philadelphia, chưa cần bàn đến Mademoiselle Pelagie. Thêm vào đó, tôi từng hình dung ra dáng vẻ oai phong lẫm liệt của mình trước đám trai thanh gái lịch ở St. Louis khi ngự trên con ngựa Fatima đang nhảy chồm vàốn éo, với bộ lông mượt mà bóng loáng như sa tanh vào sáng nay nhờ công sức chải chuốt kỳ công mà tôi đã ra lệnh cho Yorke làm cho nó.

Nhưng khi Narcisse đi ngang qua tôi và ngả mũ chào với một nụ cười thân thiện, tôi nhìn thấy một chiếc giỏ đựng đồ ăn lớn trên xe, và từ một luồng hương thơm ngào ngạt bay vào mũi tôi theo cơn gió thoảng, tôi biết anh ta đang chở phần ăn của chúng tôi đến bãi dã ngoại, và tôi thầm cảm ơn vì cả Fatima lẫn tôi đều không phải vướng víu (đó là một trò chơi chữ dở tệ, và cha tôi vẫn luôn dạy tôi đó là lối pha trò kém cỏi nhất) những bọc đồ cồng kềnh lủng lẳng trên yên và cánh tay.

Chỉ một thoáng sau, lại từ góc nhà, một người da đen dắt ra một con ngựa Ấn Độ nhỏ được trang hoàng lộng lẫy, có gắn chiếc yên phụ dành cho nữ, và ngay sát phía sau là Yorke đang dắt con Fatima của chính tôi. Lúc đó tôi biết chúng tôi sắp sửa khởi hành, và trái tim tôi lại bắt đầu những nhịp đập ngớ ngẩn. Thế nhưng tôi vẫn không chịu rời khỏi chỗ ngồi, nơi tôi đã tạo cho mình một dáng vẻ dửng dưng, cho đến khi bất chợt nghe thấy đằng sau một giọng nói lạnh lùng và kiêu kỳ:

"Anh không định sẵn sàng sao, thưa ngài? Tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta nên lên đường, kẻo sẽ quá muộn cho bữa điểm tâm mất."

Lúc này thì tôi thực sự nổi giận, khi bị nói bằng những giọng điệu qu trách trong lúc tôi có đủ mọi lý do để mong đợi ít nhất là một lời giải thích, nếu không muốn nói là một lời xin lỗi, vì đã bắt tôi phải chờ đợi lâu đến thế.

Tôi ung dung đứng dậy và cúi chào tiểu thư một cách hết sức cầu kỳ, rồi đáp lại bằng một giọng lạnh lùng và kiêu kỳ không kém:

"Giá như tôi được thông báo vào lúc nào tiểu thư cần sự hiện diện của mình, tôi đã thắt lưng buộc bụng và đội mũ sẵn sàng chứ không để quý cô phải đợi chờ dù chỉ một khoảnh khắc, chưa nói đến chuyện lãng phí mất hai tiếng đồng hồ quý giá của chính mình để ngồi chờ vô ích."

Vừa nói, tôi vừa cúi xuống nhặt chiếc thắt lưng kiếm dưới sàn ngay cạnh ghế và chậm rãi thắt nó vào. Mắt tôi dán vào chiếc thắt lưng, nhưng không đến nỗi không nhìn thấy một nụ cười thoáng hiện quanh bờ môi tiểu thư, và tôi nghĩ nàng không lấy làm phiền lòng khi thấy tôi cũng có chút khí phách riêng chứ không phải lúc nào cũng bị khuất phục bởi dáng vẻ khinh miệt của nàng. Tôi vô cùng đắc ý trước phát hiện đó đến mức một cách ngớ ngẩn, tôi kéo dài việc thắt lưng vượt quá mọi nhu cầu cần thiết, và sự nhẫn nại của tiểu thư nhanh chóng cạn kiệt. Nàng giậm chiếc giày nhỏ của mình xuống vẻ thiếu kiên nhẫn trong giây lát rồi cất giọng lạnh tanh như trước:

"Vì ngài gặp khó khăn với chiếc thắt lưng của mình, tôi sẽ nhờ Yorke đỡ tôi lên ngựa rồi bảo hắn đến giúp ngài."

Mọi niềm đắc ý ngớ ngẩn của tôi tan biến trong chớp mắt, và giữa lúc hổ thẹn lẫn nôn nóng vội vã, tôi luống cuống thực sự. Tôi đang vội tuyệt vọng; bởi tôi không đời nào định để Yorke đỡ nàng lên ngựa: thế mà nàng đã lướt đi nhanh chóng dọc theo dãy hành lang dài và những bậc thềm để xuống lối đi cách đó một quãng, còn tôi thì quá chậm chạp với chiếc khóa thắt lưng, nên khi tôi đến bên cạnh nàng thì vừa đúng lúc nghe thấy nàng nói:

"Yorke, hãy đỡ tôi lên ngựa, rồi đi ngay đến thắt đai cho chủ nhân của anh. Chúng ta có lẽ sẽ mất toi cả ngày mới đến được hồ Chouteau mất."

"Vâng, thưa cô," Yorke nói, vừa ném dây cương của Fatima cho Narcisse vừa chuẩn bị tuân lệnh, dù hắn chỉ có thể hiểu bằng trực giác bởi hắn chẳng hiểu nổi một từ tiếng nào của nàng.

Tôi lập tức lấy lại được bình tĩnh nhờ giọng điệu thiếu kiên nhẫn của nàng, và tôi nói với Yorke bằng một uy quyền điềm đạm mà hắn không dám cãi:

"Hãy chăm sóc con Fatima, Yorke; tôi sẽ lo cho tiểu thư," và không cho nàng thời gian phản đối, tôi điềm nhiên bế xốc nàng lên yên ngựa. Nàng nhẹ như lông hồng, nhưng tôi nghĩ nàng không thích cách lên ngựa đó, và thoáng có ý định tung chân giận dỗi như một đứa trẻ tức tối. Nhưng nàng kịp kìm lại, và dù ngọn lửa hồng nhanh chóng bừng lên trên má, nàng vẫn cúi đầu tạ ơn một cách vô cùng trang trọng, còn tôi thì nhảy phốc lên lưng Fatima và giục Yorke theo sát phía sau, chúng tôi cất bước với tốc độ nhanh.

Nàng không thốt lấy một lời khi chúng tôi phi nước đại sóng đôi dọc theo lối đi, qua cổng, và dọc theo đoạn đường ngắn kéo dài đến hàng rào luỹ. Khi qua khỏi đó, con đường không còn gì hơn ngoài một lối mòn gồ ghề, chẳng mấy chốc bắt đầu dốc xuống từ những vách đá cao, lúc thì thoai thoải, lúc thì dốc đứng đầy đá sỏi, dẫn xuống thung lũng La Petite Rivière.

Con đường không còn đủ rộng cho hai con ngựa, và chúng tôi buộc phải đi nối đuôi nhau theo lối người da đỏ. Fatima đi đầu, dò dẫm từng bước thật cẩn trọng và chắc chắn nhưng chậm rãi. Con ngựa Ấn Độ nhỏ, vốn quen thuộc với những lối mòn gồ ghề như thế, lẽ ra đã đi nhanh hơn và tỏ ra bực bội vì bị Fatima kìm chân. Người cưỡi nó chắc cũng thấy vậy, nên chẳng mấy chốc, theo cách thức trang trọng quen thuộc của mình, nàng lên tiếng:

"Nếu ngài cho phép, tôi xin phép đi đầu. Tôi nghĩ chú ngựa của tôi thông thuộc đường sá hơn và có thể dẫn đường cho ngài."

Nhưng tôi đã được cảnh cáo đặc biệt phải luôn đi trước, và việc tôi buộc phải từ chối yêu cầu của tiểu thư chẳng hề làm bầu không khí dễ chịu hơn chút nào. Tôi bắt đầu cảm thấy nhiệm vụ của mình thật vô ơn, và buổi dã ngoại bên hồ Chouteau đối với tôi không còn cuốn hút như vài ngày trước đó nữa. Có lẽ nét mặt tôi đã phản bội cảm xúc của mình; bởi khi chúng tôi xuống đến chân dốc và con đường rộng ra khi uốn lượn theo dòng sông nhỏ hướng về phía hồ, tiểu thư liền phi ngựa sánh đôi bên tôi, và với một vẻ đáng yêu vô cùng, nửa tinh nghịch nửa thẹn thùng, hoàn toàn ngọt ngào, nàng nói:

"Tôi cầu xin ngài chớ nghĩ tôi là kẻ vô ơn. Tôi không quên rằng nếu không nhờ sự nhã nhặn của ngài, tôi đã chẳng thể đến dự ngày hội của mình."

Rồi nàng nói thêm với vẻ tinh quái:

"Nhưng tôi sẽ đền bù. Tôi sẽ giới thiệu ngài với rất nhiều thiếu nữ St. Louis, như tiểu thư Pelagie Chouteau kiều diễm, Émilie Gratiot người nhảy múa uyển chuyển như tiên nữ, cùng hai chị em xinh đẹp Marguerite và Marie Papin. Và còn rất nhiều người khác cũng xinh đẹp không kém."

Tôi nghiêm trang cúi đầu:

"Cảm ơn tiểu thư. Tôi đã nghe nhiều về nhan sắc của các thiếu nữ St. Louis, và rất ao ước được gặp họ. Tiểu thư hẳn nhớ rằng chính phần lớn nhờ sự cám dỗ đó mà tôi đã nhận lời gánh vác nhiệm vụ khó khăn là chăm sóc quý cô."

Pelagie bĩu môi.

"Sao ngài cứ khăng khăng gọi tôi là 'quý cô' thế? Tôi chỉ là một tiểu thư bình thường thôi."

"Thật ư!" tôi nói với vẻ ngạc nhiên giả tạo: "cách cư xử của nàng đã khiến tôi tưởng nàng ít nhất cũng phải là một nữ hầu tước, nếu không muốn nói là một nữ công tước."

Tiểu thư đỏ mặt, nhưng đáp lại với vẻ hết sức nghiêm túc và ngọt ngào,

"Tôi e rằng cung cách của mình rất tồi, và tính tình cũng rất xấu. Nhưng giờ đây tôi định sẽ trở thành một người ngoan ngoãn, và để nhắc nhở bản thân, tôi cho phép ngài — bất cứ khi nào tôi tỏ ra kiêu kỳ hay khó chịu — hãy gọi tôi là comtesse (nữ bá tước)."

Những hàng cây phong và cây dương viền quanh lối đi đã rụng hơn nửa số lá, và ánh nắng dịu nhẹ của buổi chiều cuối tháng Mười Một len lỏi qua kẽ lá, nhuộm lên người tiểu thư sắc vàng nhạt. Nó chạm vào mái tóc sẫm màu của nàng và biến nó thành màu đồng rám nắng, tô điểm một chút sắc hồng phớt lên làn da trắng ấm áp của đôi má, và làm bừng lên những đốm sáng vàng nhảy múa trong bóng râm đôi mắt đang ngước nhìn lên tôi. Hương thơm kỳ ảo của những ngày cuối thu, của lá tàn và đất nâu trơ trọi, của hạt dẻ chín và những chùm nho muộn còn vương trên giàn, cùng những quả hồng chín mọng trên cành cây trụi lá, bay lên ngào ngạt như hương trầm làm tôi say đắm. Tôi hầu như chẳng biết mình đã đáp lời thế nào khi đắm chìm vào đôi mắt u tịch của nàng, và tôi suýt cảm thấy mừng vì con đường của chúng tôi cắt ngang con sông nhỏ qua một lối mòn dốc đứng dẫn xuống bãi cạn, buộc tôi một lần nữa phải vươn lên dẫn đầu.

Đến nửa quãng đường qua sông, chúng tôi dừng lại để cho ngựa ngâm mõm vào làn nước mát rượi đang róc rách chảy qua những hòn đá. Con Fatima chỉ nghịch nước, vẫy vùng cái mõm cho thật sạch rồi tung tóe những giọt nước lấp lánh lên con ngựa của tiểu thư, trong khi con ngựa này đang cúi xuống uống từng ngụm đều đặn. Bờ bên kia rậm rạp cây cối hơn, và khi ngồi thảnh thơi dùng roi ngựa hất những bọt nước khỏi mạn sườn Fatima, tôi nhận ra rằng từ nãy đến giờ mình cứ nghe văng vẳng tiếng chim bắt cô hồn gọi bầy và tiếng con mái đáp lời. Khu rừng trông đủ rậm rạp để làm chốn trú ngụ cho loài chim cô độc ấy, thế nhưng tôi vẫn cảm thấy bất an và bắt đầu lắng tai nghe — bởi hiếm hoi lắm người ta mới nghe thấy tiếng chim bắt cô hồn kêu giữa ban ngày. Tôi rất rành về các loài chim, và chẳng mấy chốc tôi đâm ra hoài nghi rằng tiếng chim bắt cô hồn này chẳng giống bất kỳ loài nào tôi từng nghe. Tiếng kêu hồi đáp của chúng quá rập rôn có tính toán, và nhịp điệu thưa mau khác nhau nghe hệt như một hệ thống tín hiệu. Tôi bắt đầu ước gì tiểu thư đừng chần chừ khi khởi hành, để chúng tôi có bạn đồng hành trên đường đi, đồng thời căng tai lắng nghe xem có thu thập được tiếng động nào từ Yorke, kẻ đáng lẽ không ở quá xa phía sau.

Nhưng hoàn toàn chẳng có dấu hiệu nào của Yorke; và con ngựa của tiểu thư đã uống nước xong, chẳng còn lý do gì để chúng tôi chần chừ thêm nữa. Tôi không muốn làm tiểu thư hoảng sợ với những ngờ vực của mình, thế nhưng tôi muốn súng ống phải sẵn sàng trong tầm tay. Tôi rút khẩu súng lục ra khỏi bao, đặt vắt ngang qua cái cung yên, và thảng thốt nói rằng nếu thoáng thấy con chim bắt cô hồn đó trong rừng, tôi sẽ bắn hạ nó mang về cho người cô ở Paris — người đang sưu tầm các loài chim châu Mỹ.

Mademoiselle Pelagie tiếp nhận lời giải thích của tôi mà không hề bình luận gì, và tôi dẫn đường đi lên con dốc đứng ở bờ bên kia. Khi đã lên tới đỉnh, tôi hài lòng nhận ra con đường vẫn đủ rộng cho hai người. Tôi xếp tiểu thư đi phía gần bờ sông La Petite Rivière nhất, còn tôi cưỡi ngựa phía sát mép rừng; và dẫu tiểu thư bỗng trở nên nói nhiều, tuôn ra đủ thứ sự sắc sảo trứ danh kiểu Pháp, tôi e rằng mình đã tỏ ra rất đần độn trước mặt nàng, bởi trong suốt thời gian cố gắng duy trì phần đối đáp và bông đùa của mình, tai tôi vẫn căng ra lắng nghe, lắng nghe. Cuối cùng thì tiểu thư cũng nhận ra tôi có vẻ lơ đễnh.

“Sao ngài cứ dán mắt vào khu rừng thế, thưa ngài? Ở Pháp, chúng tôi được dạy rằng nhìn thẳng vào một quý cô khi nàng đang nói chuyện mới là phép lịch sự.”

“Xin lỗi tiểu thư,” tôi ấp úng. “Tôi đang tìm con chim bắt cô hồn ấy.”

“Lời xin lỗi của ngài thừa thãi quá rồi đấy, thưa ngài,” nàng cất giọng kiêu kỳ nhất. “Chắc chắn sẽ chẳng còn cơ hội nào thích hợp hơn thế để bổ sung vào bộ sưu tập của cô ngài đâu.”

Tôi vẫn dán mắt vào khu rừng ngay cả khi đang nói chuyện với nàng, không dám rời mắt đi, nhưng trước giọng điệu đó, tôi vội vã quay phắt lại phía nàng.

“Xin lỗi, Mademoiselle la comtesse,” tôi bắt đầu một cách tinh nghịch, nhưng rồi tiếp tục với vẻ nghiêm túc. “Xin phép nàng, tôi cầu xin nàng hãy lượng thứ cho sự thô lỗ này, dẫu đó là điều xa vời nhất mà tôi muốn tỏ bày. Đang có nhiều điều vượt xa cả hứng thú bất chợt của người cô tôi bị đe dọa. Một ngày nào đó tôi sẽ giải thích cho nàng hiểu.”

Ngay khi tôi đang nói thì bỗng giật mình trước một tiếng lách tách khô khốc theo sau bởi một tiếng sột soạt lén lút, tựa như có ai đó vô tình dẫm lên một cành cây khô rồi nhanh chóng lướt đi mất dạng. Tôi lập tức quay người về phía khu rừng, và suýt chút nữa dám thề rằng mình vừa thoáng thấy bóng một bàn tay màu đồng và ánh chớp của nòng súng trường. Nhưng khi tôi căng mắt nhìn kỹ hơn, chẳng có gì ngoài tán lá rậm rạp của đám sồi lùn mọc lúp xúp dưới những tán rừng già, và tôi thầm hy vọng mình đã nhầm.

Một đoạn đường phẳng lì trải dài trước mặt chúng tôi.

“Nào tiểu thư, nàng có muốn đua với tôi đến cái cây đằng kia không?”

Càng đến hồ Chouteau sớm bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu, tôi thầm nghĩ, và càng bỏ lại đám chim bắt cô hồn phía sau nhanh bao nhiêu thì lại càng hay bấy nhiêu.

“Tôi sẽ đua và thắng ngài cho mà xem,” nàng vui vẻ nói; “con La Bette nhỏ bé của tôi chạy nhanh lắm đấy. Nhưng phần thưởng sẽ là gì nào?”

“Nếu tôi thắng,” tôi mạnh dạn tuyên bố, “điệu nhảy đầu tiên ngày hôm nay thuộc về tôi.”

Tôi tưởng một thoáng bóng mây khó chịu lướt qua nét mặt nàng, nhưng nó nhanh chóng tan biến và nàng ranh mãnh đáp lời:

“Còn nếu tôi thắng, tôi sẽ đòi con chim bắt cô hồn đầu tiên ngài bắn được; con thứ hai xin nhường lại cho cô ngài.”

“Thành giao!” tôi nghiêm túc nói. “Chúng ta xuất phát chứ?”

Hiển nhiên là dẫu La Bette có phi nhanh đến đâu, Fatima vẫn vượt trội hơn hẳn. Nhưng đời nào tôi lại chịu bỏ mặc tiểu thư lại phía sau; thế nên, dù ra chiều thúc giục Fatima tiến lên, thực chất tôi vẫn kìm hãm con ngựa lại bằng những cái chạm nhẹ quen thuộc mang ý nghĩa giảm tốc. Tuy vậy tôi vẫn không quên phần thưởng của mình, và khi chúng tôi chỉ còn cách cái cây chừng hai mươi bước chân, nghĩ rằng mọi chuyện đã an toàn, tôi buông lỏng dây cương cho Fatima và vượt qua thân cây trước hẳn một thân người.

Lúc này tôi cảm thấy dễ chịu hơn một chút, bởi nghĩ rằng nếu thực sự có tên da đỏ nào vác súng lẩn khuất trong bụi cây, chúng tôi đã bỏ hắn lại ở một khoảng cách an toàn, và chúng tôi lại thả lỏng người bước vào một nhịp chạy đều đều thoải mái bên nhau. Bỗng nhiên, tôi lại nghe thấy tiếng lách tách đầy điềm gở của một cành cây khô, và quay phắt người lại, tôi nhìn thẳng vào một đôi mắt đen láy đang nhòm ngó qua lùm cây. Tôi không chần chừ lấy một giây, vội giơ súng lục lên, chĩa thẳng nòng về phía đôi mắt ấy và suýt bóp cò, nếu không có một tiếng gọi vang lên bằng thứ tiếng Anh chuẩn xác:

“Khoan đã, thưa ngài! Đừng nạp đạn!”

Và từ sau lùm cây bước ra một người đàn ông ăn vận chải chuốt hơn bất kỳ ai tôi từng gặp ở St. Louis. Quả thực, tôi thấy hắn ta diện đồ quá kiểu cách đối với một nơi rừng thiêng nước độc, bởi có những đường viền đăng ten tinh xảo ở cổ tay và đầu gối, và bên dưới chiếc áo choàng bằng da lộn thấp thoáng mép áo lót bằng sa tanh màu vàng hoàng yến. Mái tóc hắn dài, uốn xoăn và thắt nơ ruy-băng, nhưng không phấn bột, và rủ xuống trán những lọn tóc xoăn ngắn màu đen làm cho làn da trông vô cùng trắng trẻo và hồng hào; quả thực, tôi không hoàn toàn chắc liệu sắc hồng trên má và sắc đỏ trên môi hắn là do tài nghệ trang điểm hay sự pha trộn của tự nhiên. Bộ râu mép sẫm màu mềm mại trên môi trên, được chải chuốt và uốn cong cẩn thận, chứng tỏ hắn ta là một gã công tử Paris theo mốt mới nhất, và tôi lập tức có ác cảm cùng sự hoài nghi bản năng đối với hắn. Tôi chưa từng gặp hắn trước đây, nhưng chẳng hề ngạc nhiên khi tiểu thư cất tiếng gọi hắn là Chevalier Le Moyne và buông lời giới thiệu hắn với tôi.

Có một chút không bằng lòng thoáng hiện trong cung cách của Mademoiselle, bởi chevalier quả thực đã bị bắt quả tang đang rình mò, nếu không muốn nói là làm điều gì mờ ám hơn thế; và hắn ta cũng biết ngượng ngùng, vội vã đưa ra những lời xin lỗi bằng thứ tiếng Pháp lưu loát tuôn trào, điều mà hắn có lẽ đinh ninh rằng tôi không thể hiểu nổi.

“Tôi không thấy tiểu thư ở buổi lễ hội, nên đã thong thả đi dạo ra đây xem có dấu hiệu nào cho thấy sự xuất hiện của nàng hay không. Tiểu thư hẳn phải biết rằng đối với tôi chẳng có lễ hội nào ra hồn khi vắng bóng nữ hoàng, và ngày hôm nay thực sự tẻ nhạt biết bao khi không được soi sáng bởi đôi mắt nàng. Tôi không chắc đó có phải là tiểu thư khi nghe thấy tiếng người, nên mới vén bụi cây nhìn cho kỹ trước khi lên tiếng.”

“Anh cất tiếng vừa đúng lúc đấy,” tiểu thư đáp lời. “Ngài đây đã nhầm anh với một con chim bắt cô hồn, và chỉ chậm một khoảnh khắc nữa thôi,” nàng liếc nhìn tôi đầy tinh nghịch, “ngài ấy suýt nữa đã cho anh vào bộ sưu tập của cô mình rồi.”

Lúc đầu tôi nghĩ vị tiểu thư nhà ta chắc phải nhẫn tâm lắm mới đem chuyện thoát chết trong gang tấc ra làm trò đùa, nhưng khi liếc nhìn nàng, tôi thấy những đốm lửa nhỏ đang chớp lóe trên đôi má và một mạch máu đang đập mạnh nơi cổ họng, và tôi hiểu rằng vẻ dật dờ dửng dưng ấy chỉ là một lớp mặt nạ.

Tôi chăm chú quan sát chevalier khi nàng nhắc đến con chim bắt cô hồn, và tôi thấy hắn ta nhanh chóng liếc nhìn nàng đầy sửng sốt, nhưng sự ngây thơ rành rành của nàng đã trấn an hắn. Tôi cất tiếng nói bằng ngôn ngữ của hắn, một phần để cho hắn thấy tôi hiểu rất rõ thứ tiếng này và hắn phải cẩn trọng với những gì mình thốt ra trước mặt tôi, một phần vì tôi không chắc hắn có hiểu tiếng của tôi hay không. Quả thực, đã nhiều lần tôi thầm cảm ơn vì tiếng Pháp đối với tôi tự nhiên chẳng khác gì tiếng Anh, bởi ở cái thị trấn nói cả tiếng Pháp lẫn tiếng Tây Ban Nha này hầu như chẳng có ai thốt nổi ngôn ngữ của tôi. Thỉnh thoảng lắm mới có một lần (nhưng không nhiều) tiểu thư cố gắng nói tiếng Anh, hoặc để luyện tập hoặc như một cách để chiều lòng vị đại úy — người nói tiếng Pháp không được trôi chảy bằng tôi. (Và khi nàng làm thế, những âm điệu ngọng nghịu đáng yêu của nàng khiến thứ ngôn ngữ thô ráp của chúng tôi trở nên ngọt ngào hệt như tiếng chim ca).

“Ngài thật may mắn khi cất tiếng đúng lúc đấy chứ,” tôi lên tiếng. “Tôi đang săn lùng chim bắt cô hồn, và đã nhầm ngài với một con trong số đó. Chậm một khoảnh khắc nữa thôi là đã quá muộn rồi.”

Nhưng khi nói, tôi nhìn thẳng vào đôi mắt hắn với một hàm ý mà hắn không thể nào không hiểu nổi. Ánh mắt hắn chùng xuống, và một sắc đỏ sẫm từ từ dâng lên từ bên dưới lớp phấn hồng nhân tạo trên má lan khắp mặt. Tuy nhiên, hắn nhanh chóng lấy lại bình tĩnh và vui vẻ đáp lời:

“Cảm ơn ngài vì đã giúp tôi thoát nạn trong gang tấc. Đó là vận may của dòng họ Le Moyne. Chắc ngài biết châm ngôn của gia tộc chúng tôi chứ? — ‘Nhờ những phen thoát chết trong đường tơ kẽ tóc mà chúng ta luôn chiến thắng.’”

Và lần này hắn nhìn thẳng vào mắt tôi, gửi gắm qua ánh nhìn ấy một lời khiêu chiến kiêu ngạo.

Tôi im lặng cúi đầu chấp nhận; và tiểu thư, nhận thức được qua thái độ của chúng tôi rằng cả hai chẳng hề mấy thiện cảm với nhau, vội vã lên tiếng để ngăn chặn mọi sự khó chịu đang chực chờ bùng nổ.

“Tôi nghĩ chevalier sẽ thông cảm nếu chúng ta đi tiếp. Chúng ta đã muộn rồi, và tôi e rằng mình sẽ bắt bữa điểm tâm phải chờ đợi mất.”

Chevalier cúi đầu thật sâu, tay đặt lên ngực, rồi lùi sang một bên nhường đường cho chúng tôi đi qua.

Chỉ mất chừng năm phút cưỡi ngựa là chúng tôi rời khỏi lối mòn trong rừng cùng khúc quanh vui nhộn của con sông nhỏ để đặt chân lên bờ hồ Chouteau. Tôi không hề nghĩ nơi đây lại là một hồ nước trong rừng đẹp đẽ đến thế, và trước tiếng kêu đầy ngạc nhiên thích thú của tôi, tiểu thư tỏ ra vô cùng hài lòng.

“Chúng tôi rất tự hào về cái hồ của mình, do ngài Auguste Chouteau tạo ra cho chúng tôi đấy,” nàng nói. “Nó có đẹp bằng những hồ nước ở Pennsylvania của các ngài không?”

“Tôi chưa từng thấy cái nào đẹp hơn thế!” tôi tha thiết thốt lên, và đó hoàn toàn là sự thật.

Chúng tôi đã dừng cương trên một mỏm đất cao, và ngay dưới chân chúng tôi là dòng nước của con sông nhỏ, với những ghềnh thác bọt tung trắng xóa kéo dài đến tận chân con đập cao, nơi dòng nước hồ tuôn trào thành một dải lụa bạc. Phía bên phải, ẩn mình giữa lùm cây, là những tháp đá phủ đầy dây leo của cối xay gió Chouteau, và xa hơn nữa là những sườn đồi thoai thoải cỏ mọc xanh rờn, với những cành cây rủ xuống nhúng mình vào làn nước. Phía bên trái là những bờ đất cao với tán lá xum xuê vòm lên trên, rồi uốn lượn qua hết vũng nước này đến vũng nước khác ẩn mình trong bóng râm suốt cả dặm dài, cho đến khi tan biến vào khoảng không mờ ảo đằng xa. Ngay phía dưới chúng tôi, hồ nước hiện lên rực rỡ như một viên hoàng bích trong ánh nắng muộn màng tháng Mười Một, được bao bọc bởi những thảm rừng sồi sắc pô-phia sẫm màu, sắc vàng nâu của những hàng dương, cùng màu xanh ngọc lục bảo của thảm cỏ và sắc xanh thẳm của tùng bách — tạo nên một khung cảnh nạm ngọc phong phú và hài hòa hơn nhiều so với sắc đỏ rực và vàng chói của những cánh rừng miền Đông chúng tôi. Trên mặt hồ phẳng lặng, một cánh buồm trắng đang trôi lững lờ vì gió thổi rất hiu hảu, và hai hay ba chiếc xuồng độc mộc đang lướt đi vùn vụt từ bờ này sang bờ khác, nhát chèo khua động làm mặt hồ vỡ vụn thành muôn vàn mảnh bạc lấp lánh.

Chẳng còn dấu hiệu nào khác của sự sống, và giờ thì tiểu thư vượt lên dẫn đầu, chúng tôi theo sát bờ phía bên phải của hồ đi vòng qua cối xay đá, dọc theo những sườn dốc ngập cỏ râm mát, cho đến khi — sau vài khúc cua — chúng tôi xuất hiện tại một vịnh nhỏ, nơi một dòng suối bạc phun trào và róc rách chảy thành một con rạch nhỏ đổ ra hồ. Bao quanh dòng suối là thảm cỏ xanh mượt, với những phiến đá tự nhiên làm ghế ngồi, được che bóng bởi những tán cây cao lớn vươn tận mép nước của vịnh nhỏ, và tại đây chúng tôi tìm thấy đoàn người đang hoan ca vui vẻ. Ngựa chiến, ngựa lùn và bò đều được buộc sâu trong rừng, trong khi các chàng trai thiếu nữ đang chạy ngược chạy xuôi, sắp xếp những chồng gà quay, thịt nai và bánh nướng thịt đầy hấp dẫn lên tấm khăn trải bàn trắng phau trên thảm cỏ xanh. Hương thơm ngào ngạt của cà phê bay ra từ một chiếc vạc lớn treo trên lò sưởi bằng đá với chiếc cần cẩu tự chế, và hai chàng trai đang pha chế trong một chiếc thau lớn thứ hỗn hợp cay nồng gồm nước suối, rượu ratafia, gia vị ngọt và rượu vang mâm xôi.

Họ hân hoan chào đón sự xuất hiện của tiểu thư, và chàng thanh niên trẻ Josef Papin chạy à tới, cầm lấy dây cương ngựa của nàng để dẫn nàng lên hàng ghế đầu của bàn tiệc — nơi họ đã dựng một chiếc ngai vàng cho nữ hoàng buổi lễ từ một phiến đá phẳng, phủ những chiếc áo choàng màu sắc sỡ và kết quanh bằng những vòng dây leo rực rỡ lá cành.

Anh ta đòi quyền lợi của người khoản đãi bữa tiệc là được ngồi bên phải nàng, đồng thời nhường cho tôi — với tư cách là người hộ tống — chiếc ghế bên trái nàng. Trong lúc chen chúc vui vẻ để giành chỗ ngồi theo sau đó (chẳng hề có chút thô lỗ nào; những con người Pháp này vô cùng nhã nhặn và lịch thiệp ngay cả trong những trò vui nhộn nhất) chevalier đã bị lãng quên. Khi hắn ta đến muộn (vẻ mặt có chút phớt hồng, như thể hắn vừa chạy hộc tốc lúc không ai nhìn thấy, nhưng vẫn điềm đạm, mỉm cười và tuôn ra vô số lời xin lỗi), chẳng còn chỗ nào trống cho hắn ngồi gần tiểu thư, và tôi không hề cảm thấy tiếc nuối. Thú thật là hắn ta cũng chẳng tỏ ra buồn bã gì, bởi hắn đăm đăm bám lấy Mademoiselle Chouteau — một cô nàng tiểu thư điệu đà quyến rũ không kém gì những gì tiểu thư đã mô tả.

Đến giữa bữa ăn, chevalier kiếm cớ đi lấy một cốc nước suối, và khi đi ngang qua phía sau tiểu thư, hắn dừng lại giây lát để thì thầm xin nàng điệu nhảy đầu tiên. Tiếng nói không quá nhỏ để tôi không nghe thấy, và tôi cũng nghe rõ cả giọng điệu tiếc nuối khi nàng đáp rằng điệu nhảy ấy đã có người đặt trước. Tôi suýt tưởng giọng điệu đó chỉ là phép xã giao bề ngoài nếu không bắt gặp ánh mắt của nàng, thứ ánh mắt cất lời vang dội hơn bất kỳ ngôn từ nào rằng: “Tôi thà đó là anh còn hơn,” và tôi tự nhủ: “Hoặc tiểu thư là một kẻ điệu đà cực kỳ nguy hiểm, hoặc chevalier đã thành công trong việc chinh phục sự quan tâm của nàng,” và có lúc từ cửa miệng nóng nảy của mình suýt thốt ra lời giải phóng nàng khỏi lời hứa ấy. Nhưng tôi mím chặt môi trước khi kịp nói ra.

- "Ce garçon-çà! Vậy điệu thứ hai nhé?"

Tôi quay mặt đi và cố tình không nghe thêm gì nữa, nhưng chẳng thể tránh khỏi việc nghe lỏm thêm một lần nữa khi chevalier cất giọng với ý định chọc tức và vì thế chắc chắn càng rõ mồn một hơn:

- "Nếu những điệu nhảy của tiểu thư chưa bị chiếm chỗ cho toàn bộ buổi chiều, có lẽ nàng sẽ từ bi hỷ xả mà cho tôi biết mình được đặc ân ban cho điệu nào chứ?"

Tôi không nghe thấy câu trả lời của nàng; nhưng tôi nghe được tiếng đáp lại đầy hân hoan của hắn:

- "Ngàn lần cảm ơn, thưa nữ hoàng xinh đẹp; vậy hẹn gặp lại ở điệu thứ ba nhé!"

Tôi đã phân vân suốt phần còn lại của bữa ăn: tôi nên giữ tiểu thư theo lời hứa vốn dĩ đang làm nàng khó chịu, hay nên trả tự do cho nàng? Cuối cùng, tôi tự nhủ rằng điệu nhảy ấy đích thị thuộc về tôi và tôi sẽ bắt nàng phải giữ lời. Thế nhưng khi âm nhạc vang lên và hàng ngũ bắt đầu dàn trận, tôi hơi chậm chân trong việc đến bên nàng, bởi tôi đang bắt chước chevalier để đi đặt chỗ trước cho các điệu nhảy tiếp theo của mình, và Mademoiselle Chouteau cứ bận rộn với những trò điệu đà kiểu Pháp khiến tôi chật vật mãi mới thoát ra kịp để đến nhận lấy bàn tay của tiểu thư. Tôi thấy nàng đang giậm đôi giày nhỏ đầy bất mãn, với một nếp nhăn đầy điềm gở giữa đôi mày sẫm màu. Tôi cúi đầu hạ mình xin lỗi, nhưng tiểu thư đáp lại bằng sự lạnh lùng khinh miệt.

“Giá như tôi biết việc giữ đúng hẹn lại làm ngài khó chịu đến thế, tôi đã giải thoát cho ngài rồi. Vẫn có những người khác biết trân trọng vinh dự này, vì dẫu sao tôi cũng có trách nhiệm mở màn điệu nhảy.”

“Thật không thể bào chữa nổi,” tôi lầm bầm, “nhưng đó là điều bất đắc dĩ”; và không đợi nàng đay nghiến thêm, tôi dẫn nàng lên đầu hàng.

Tôi chưa từng thấy ai khiêu vũ điệu minuet với vẻ duyên dáng và đầy linh khí đến thế. Đám người Pháp này có đôi chân có cánh, và dẫu tôi nắm vững các bước nhảy cũng như chẳng đến nỗi vụng về, thế nhưng giờ đây với vóc dáng to lớn của mình, tôi có cảm giác thật bất khả thi nếu không muốn nói là một gã khổng lồ vụng về trong mắt tiểu thư. Điều đó càng làm tôi tự giác hơn về sự lóng ngóng của mình khi đang dẫn đầu hàng ngũ cùng tiểu thư — nữ hoàng của buổi lễ, người sở hữu dáng vẻ uyển chuyển hệt như một tiên nữ — và đối diện với chúng tôi, cùng với Mademoiselle Chouteau, là chevalier với đầy rẫy những điệu bộ Paris dẫu có vẻ hơi nực cười đối với tôi nhưng chắc chắn là niềm ngưỡng mộ của mọi thiếu nữ.

Và nếu có điều gì đó khiến tôi càng thêm phần vụng về, thì đó chính là sự cố xảy ra trong khúc múa gươm. Đến lượt tôi phải chéo kiếm với chevalier, và dẫu tôi không chắc hắn ta cố ý hay không, nhưng tình hình lúc đó lại bày ra như thế. Chỉ bằng một cú xoáy cổ tay, hắn đã hất văng thanh gươm của tôi khỏi tay, khiến nó rơi leng keng xuống mặt đất ngay dưới chân vị tiểu thư của tôi. Giá như tôi trông đợi điều gì đó vượt ra ngoài những cú chạm mũi kiếm thông thường, cái nắm tay của tôi đã chắc chắn hơn, và tôi thực sự tin mình chẳng có lỗi gì. Thế nhưng tôi vẫn ngập tràn ngượng ngùng, và khi cúi xuống nhặt nó lên, vô tình làm chậm trễ bước đi của quý cô — người đang dẫn đầu hàng thiếu nữ bước qua vòm gươm — tôi liếc nhìn nét mặt nàng, chẳng mong chờ gì hơn một nụ cười giễu cợt vốn là thứ tôi đã học cách sợ hãi. Sự kinh ngạc tột độ khi ánh mắt tôi chạm phải một nụ cười ngọt ngào nhất, và người vừa co rúm lại lúc này chính là chevalier.

“Tôi hy vọng ngài tha thứ cho sự vụng về của chevalier,” nàng cất lời; “dẫu sao anh ta cũng thoải mái hơn khi ở trong phòng khiêu vũ kiểu Paris hơn là một vũ hội đồng quê trên thảm cỏ thế này.”

Sau câu nói đó, các ngài có thể chắc chắn rằng tôi đã ngẩng cao đầu tự hào, và sự ngọt ngào bất ngờ của nàng đã khiến tôi đắc ý đến mức vứt bỏ mọi cảm giác lóng ngóng, để rồi bắt đầu nghe thấy những lời thì thầm ngưỡng mộ mà tôi biết đích thị dành cho mình, đồng thời tiếp thêm đôi cánh cho đôi chân tôi sải bước.

“Thật là một đôi trai tài gái sắc!” “Dáng điệu mới duyên dáng làm sao!” “Anh ta ngẩng cao đầu hệt như một đại quý tộc!” — và Mademoiselle Chouteau đủ tinh quái để khi chúng tôi lướt qua nhau trong điệu nhảy, ngước nhìn tôi rồi thì thầm buông lời trêu chọc:

“Tôi chết vì mong đợi điệu thứ ba lắm rồi đấy, thưa ngài!”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 5 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.