"Hãy để tôi gọi ngài là vĩ đại, bởi ngài đã chinh phục tôi."
Sáng hôm sau là Lễ Phục sinh. Trong bộ trang phục mới bằng vải ferrandine màu mận chín, điểm xuyết dải bèo nhún vải đăng ten mịn nhất cùng chiếc lông chim mới đính trên mũ, tôi trang trọng rảo bước bên cạnh cô tôi qua những con phố đông đúc. Ai nấy đều khoác lên mình bộ quần áo đẹp nhất và cùng hướng về một ngả — Nhà thờ Madeleine, để tận mắt chứng kiến Quan Đệ nhất Chấp chính tham dự lễ. Ánh nắng rực rỡ, chim hót líu lo, không khí dịu nhẹ ấm áp quyện cùng hương hoa và trầm hương phảng phất từ những cánh cửa nhà thờ đang rộng mở.
Thế giới ngập tràn hạnh phúc, và tôi cũng vậy. Tôi vô cùng háo hức, bởi sắp sửa lần đầu tiên được chiêm ngưỡng người nắm giữ vận mệnh của các quốc gia trong tay, người mà chỉ một lời nói uy quyền phát ra cũng đủ khiến cả nền cộng hòa tự hào của chúng tôi phải run sợ.
Tôi đã ở Paris ba tuần mà vẫn chưa từng gặp ngài. Hình như số tôi không may mắn, chưa bao giờ có mặt trên đường phố vào những lúc ngài cưỡi ngựa rầm rộ đi qua; và dù đã có vài buổi tiếp tân diễn ra, tủ đồ của tôi lại chưa sẵn sàng để tham dự. Ít nhất cô tôi nghĩ như thế. Tôi cho rằng mình sẵn lòng khoác lại bộ nhung màu quả mận cũ kỹ chỉ để được chiêm ngưỡng Bonaparte vĩ đại, nhưng Bà Marbois lại không nghĩ vậy.
"Không ai cầu kỳ về nghi thức, lễ tiết hay chuộng sự lộng lẫy như Quan Đệ nhất Chấp chính đâu," cô bảo. "Nếu cháu muốn tạo ấn tượng tốt với ngài, hoặc làm vẻ vang cho gia đình ở quê nhà, cho chú và cho cô, cháu phải đợi bộ trang phục mới."
Thế là cô dẫn tôi đến tiệm may, đặt mua nhiều quần áo đến mức tôi nghĩ cả đời mình cũng chẳng mặc hết. Khi đồ được giao về nhà và Cæsar (cậu gả da màu của riêng tôi đem từ quê sang) bày tất cả ra trong phòng, tôi mới thấy sự chờ đợi thật đáng giá. Có trang phục đi lễ nhà thờ, trang phục dự tiệc tối, phục trang đi ngựa và dạo phố, và lộng lẫy nhất là hai bộ triều phục. Đặc biệt có một bộ bằng satin trắng thêu nhiều đăng ten kim tuyến và chỉ vàng lấp lánh khiến tôi không khỏi sững sờ. Tôi vốn có điểm yếu là thích quần áo đẹp — một sở thích mà tôi luôn thầm tự trách, vì e rằng đó là sự thói nữ tính chẳng hề phù hợp với một người lính bôn ba kiếp phong sương, con đường sự nghiệp mà tôi đã chọn và quyết tâm đuổi theo. Tuy vậy, tôi chưa bao giờ thấy lòng yêu thích quần áo đẹp làm giảm đi chí khí rút kiếm cứu giúp kẻ vô tội hay yếu thế, nên tôi hy vọng đó không phải là dấu hiệu thiếu đi bản lĩnh nam nhi thực thụ.
Dù sao đi nữa, tôi vẫn vui vẻ bước đi bên cạnh cô vào buổi sáng Phục sinh đẹp trời ấy. Một phần niềm vui trong lòng tôi đến từ bộ ferrandine màu mận chín vừa vặn và mang nét quý phái mà tôi tin chắc không bộ đồ nào trước đây của mình có được, bởi lẽ chúng được may ngay tại Paris.
Tôi không nhớ rõ lắm về buổi lễ; quả thực tôi chẳng đủ chú ý để theo dõi một cách nghiêm cẩn, bởi tâm trí tôi bị thiêu đốt bởi khao khát duy nhất — sự xuất hiện của Quan Đệ nhất Chấp chính.
Một tiếng thì thầm khe khẽ (mà với tôi nghe gần như những tiếng "Đức Vua quân vạn suế" bị nén lại) vang lên báo hiệu ngài vừa bước qua cánh cửa. Vì ngồi ngay sát lối đi chính nơi ngài sắp bước qua, lại ở hàng ghế phía trên, tôi chỉ cần xoay người và không chút ngượng ngùng vươn cổ ra là đã có thể ngắm nhìn ngài thật rõ.
Con người nhỏ bé này, người mà chiều cao có lẽ chỉ đến ngang tầm tay tôi giơ ngang vai, liệu có thể là vị anh hùng của trận Marengo! Là nhà Độc tài của nước Pháp đang nắm giữ và khiến cả châu Âu phải run sợ trong tay mình sao! Trước đây tôi vẫn vô thức cho rằng vóc dáng đồ sộ mới đi liền với trái tim, trí tuệ và sự dũng cảm phi thường, và tôi từng rất tự hào về chiều cao của mình. Nhưng giờ đây tôi lại thấy hơi hổ thẹn về điều đó, bởi người đàn ông nhỏ bé đang bước nhanh xuống lối đi với bước chân vững chãi, dứt khoát kia dường như toát ra uy quyền từ từng đường nét trạm trổ nơi cánh mũi, từ nụ cười kiêu hãnh trên làn môi đẹp, nhưng rõ nhất là từ ánh mắt đen mang thần thái đế vương lấp lánh dưới đôi lông mày ngang. Nếu gương mặt ấy không tràn đầy quyền uy và cả sự ngạo mạn, thì nó đã quá đỗi thanh tú đối với một người đàn ông, được bao bọc bởi mái tóc tơ màu nâu đang thưa dần ở thái dương nhưng lại xoăn thành một lọn tối màu rủ xuống vầng trán rộng và trắng nón.
Nhưng nếu việc thấy một vóc dáng nhỏ bé chứa đựng sự vĩ đại đại lớn lao như thế làm tôi cảm thấy khiêm nhường, thì tôi lại được an ủi không ít khi nhận ra bậc vĩ nhân ấy chẳng hề coi khinh chuyện ăn mặc. Bộ quần áo ngắn và chiếc áo gile bằng da hươu trắng của ngài ôm sát lấy từng đường nét trên cơ thể hoàn hảo như thể được đúc ra. Chiếc áo khoác quân phục màu xanh thẫm bằng loại vải mịn nhất được tôn lên bởi cặp tua vai bằng vàng nặng trịch cùng dải ruy băng màu xanh lam rộng bắc qua ngực mang huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh đính đá quý. Chiếc thắt lưng kiếm màu đỏ thắm giữ bao kiếm bằng vàng nạm đá quý lấp lánh đã hoàn thiện trọn vẹn ba màu cờ của nước Pháp trên trang phục ngài. Ngài mang đôi bốt quân sự cao cổ, tôi nghĩ là để tăng thêm khí chất binh nghiệp cùng với tua vai và thanh kiếm, bởi lẽ trong hình ảnh một người lính, vị anh hùng của muôn vàn chiến công, người mang lại vinh quang cho nước Pháp, nhân dân mới tôn thờ ngài đến thế.
Nhìn sang trái rồi sang phải, ánh mắt chim ưng của ngài thu trọn toàn bộ giáo đường rộng lớn, và khi ngài đi qua, ánh mắt ấy dừng lại ở tôi. Ánh nhìn của ngài không bao giờ là vô tình; tôi biết ngài đã thấy tôi, và mạch đập của tôi thổn thức, rộn ràng như của một thiếu nữ trẻ. Từ khoảnh khắc đó, tôi đã trở thành nô lệ của ngài không khác gì một người lính ở La Vendée, và nếu chính ngài không làm tôi vỡ mộng một cách cay đắng sau này, thì có lẽ đến giờ tôi vẫn sẽ coi ngài là vị anh hùng trong mơ, một nhân vật không sợ hãi và không vết ố, người đàn ông và vị tướng vĩ đại nhất mọi thời đại. Tôi vẫn tin danh hiệu thứ hai thuộc về ngài, nhưng danh hiệu đầu tiên thì không, bởi một người vĩ đại phải là một người tốt nữa, như Washington của chúng tôi, mà Bonaparte thì lại không phải như vậy.
Thế nên không có gì ngạc nhiên khi tôi gần như phát điên vì sung sướng lúc ăn bữa trưa, khi chú tôi bảo:
"Cháu có muốn cùng chú cưỡi ngựa ra St. Cloud chiều nay không? Quan Đệ nhất Chấp chính đã triệu tập chú đến một cuộc hội đàm, nếu chú không nhầm thì là về chủ đề cháu đã nghe thảo luận ngày hôm qua."
"Ôi, cháu cảm ơn chú. Liệu cháu có được tham dự cuộc hội đàm không ạ?" Tôi nói nhanh và nông nổi, vì quá đỗi dâng trào cảm xúc.
Chú tôi bật cười.
"Chà, khó đấy cháu trai, trừ khi cháu tìm được cách như ngày hôm qua để buộc Quan Đệ nhất Chấp chính phải mời cháu vào."
Tôi không thích bị chế giễu, nhưng tôi biết đó chỉ là kiểu trêu đùa của chú. Suốt đoạn đường đi qua khu rừng Boulogne thơ mộng — chim hót líu lo, ánh nắng chan hòa, làn gió xuân dịu nhẹ thổi qua, những cây dăm và cây liễu xa xa ánh lên sắc hồng và vàng nhạt, những chồi nụ lớn của cây dẻ ngựa đang bung lá và đâu đâu cũng là màu xanh tươi mới của thảm cỏ; trái tim tôi đập rộn ràng niềm hân hoan vì được ở Paris xinh đẹp và đang trên đường đến St. Cloud lịch sử, nơi ở của người đàn ông phi thường nhất thế giới; còn Fatima thì tung tăng nhún nhảy bên dưới, đôi guốc nhỏ nhắn của nó tưởng như can hệ chẳng chạm đất khi nhảy múa dọc theo các lối đi xanh mướt của công viên St. Cloud xinh đẹp, chia sẻ niềm vui với tôi (dù tôi đoán chỉ là niềm vui tự nhiên của một con ngựa trước cây cối, cỏ mướt và nắng ấm) — trong suốt chuyến cưỡi ngựa nhanh và tuyệt đẹp đó, sóng đôi cùng cỗ xe ngựa của chú, câu nói của chú cứ vang vọng trong tai tôi, và tôi khao khát bằng cả trái tim được có mặt tại cuộc hội đàm ấy: không phải để nghe những gì được nói, mà là để thấy Bonaparte vĩ đại cất lời.
Tôi chia tay chú tại một trong những đài phun nước lớn; chú đi xe ngựa lên tận cửa cung điện, còn tôi và Fatima bắt đầu chuyến thám hiểm quanh công viên. Chú không đồng ý để tôi ngồi chờ, vì bảo cuộc họp có thể kéo dài nhiều giờ, và thậm chí Chấp chính có thể giữ chú lại cả đêm tại St. Cloud như thỉnh thoảng vẫn xảy ra, để gọi hỏi bất cứ lúc nào trong đêm khi ngài nảy ra ý tưởng mới.
Cưỡi ngựa nhanh như thói quen mỗi khi chỉ có một mình với Fatima, chẳng mấy chốc chúng tôi đã thưởng ngoạn hết vẻ đẹp của công viên, và mắt tôi bắt đầu đăm đăm nhìn về phía cung điện với vẻ thèm muốn. Đâu đó đằng sau những bức tường uy nghi ấy, cuộc hội đàm hẳn đang diễn ra. Quả thực, ngành ngoại giao cũng có những đền đáp xứng đáng khi tạo cơ hội cho một người như chú tôi được đàm đạo riêng với một nhân vật như Quan Đệ nhất Chấp chính. (Nói vậy tôi không hề có ý coi nhẹ Chú François, vì trong mắt tôi chú luôn là người đàn ông đáng kính nhất. Chỉ là lúc đó, tôi thấy việc có thể trò chuyện thân mật với Bonaparte vĩ đại là một đặc quyền vượt quá tầm của những người bình thường.)
Tôi định ở lại St. Cloud cho đến chiều tối, vì nếu cuộc hội đàm ngắn gọn, tôi vẫn có thể có được niềm vui cùng chú trở về. Nhưng thời gian bắt đầu trở nên dài lê thê, và tôi nảy ra ý định hỏi người lính gác mà tôi đã nhìn thấy từ xa đang rảo bước qua lại trước lối vào chính, xem liệu có thể vào thăm cung điện hay không. Tôi nghĩ khả năng cao là nơi này không mở cửa cho khách tham quan vì Quan Đệ nhất Chấp chính đang ở đó, nhưng hỏi thử thì cũng chẳng hại gì, và nếu may mắn được vào, ít nhất tôi cũng có niềm vui được dạo bước qua những gian phòng nơi ngài sinh sống.
Trước tiên cần phải cất Fatima, và một lùm cây thường xuân ở một bên cung điện đã lọt vào mắt tôi, hứa hẹn một bóng râm dễ chịu tránh cái nắng ấm ban chiều (vào đầu mùa thế này chỉ có thể tìm thấy dưới bóng cây thường xuân) và là nơi giấu ngựa an toàn khỏi bất kỳ kẻ trộm vặt nào muốn thó mất nó, hoặc khỏi những tên lính gác phiền phức có thể bắt gặp rồi dắt nó về chuồng của Chấp chính.
Vì thế tôi cưỡi ngựa đi vào lùm cây, men theo con đường ngoằn ngoèo dẫn về phía đầu trên gần cung điện, và ngay sát rìa trên cùng, tôi đã tìm thấy đúng thứ mình cần — một bụi cây mọc dày đến mức tạo thành một bức màn gần như không thể xuyên qua. Chúng thấp hơn các cây thường xuân khác — không cao hơn tai ngựa là mấy, nhưng thế là đủ. Tôi dắt Fatima vào giữa bụi cây rồi xuống ngựa.
"Đứng yên ở đây nhé, Mối Tình Đầu," tôi khẽ nói, "và không được nhúc nhích một bước vì bất kỳ ai ngoài chủ của mi."
Nó dụi mũi vào vai tôi như thể ra hiệu đã hiểu, và tôi lại ghé sát tai nó thì thầm:
"Không được hí, không được phát ra tiếng động nào nhé, Cô Em Đẹp Đẽ," rồi tôi rời đi, lòng tin chắc không kẻ nào có thể ăn trộm và cũng không lính gác nào có thể dùng mưu hay sức mạnh dắt nó đi, mà nó cũng chẳng tự làm lộ vị trí bằng bất kỳ tiếng động nào.
Khi rời khỏi khu cây thường xuân với ý định đi vòng ra phía trước tòa nhà để nói chuyện với người lính gác, tôi thấy một thiếu nữ trẻ đẹp đi xuống theo con đường về phía mình, mà qua trang phục tôi nhận ra cô ấy hẳn là hầu gái trong cung điện.
"Mình sẽ hỏi cô ấy," tôi tự dặn mình ngay tắp lừ, "vì cô ấy cũng sẽ biết rõ như lính gác liệu có được vào hay không, và chắc chắn cô ấy sẽ có cách trả lời dễ nghe hơn nhiều dù là đồng ý hay từ chối."
Thế nên, khi cô ấy sắp sửa đi qua tôi với một cú nhún người chào nhẹ nhàng và nụ cười tươi tắn, tôi liền giữ cô ấy lại.
"Thưa Tiểu thư," tôi vừa nói vừa ngả mũ chào, "hôm nay có được phép vào thăm cung điện không?"
"Không, thưa Ngài," cô trả lời, "trừ khi Ngài được mời hoặc có việc quan trọng cần gặp Quan Đệ nhất Chấp chính."
Tôi vốn luôn tin tưởng vào sự lanh lợi của phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ Pháp, và đột nhiên tôi nghĩ nếu cô gái này cũng nhanh trí như đa số đồng bảo của mình, cô ấy sẽ biết cách giúp tôi vào cung điện; và nếu cô ấy tỏ ra tốt bụng như tôi tin rằng việc nhìn thấy vàng cùng một lời nói dễ nghe có thể mang lại, thì thành công của tôi đã nắm chắc trong tay.
"Thưa Tiểu thư," tôi nói với thái độ cung kính không kém gì đối với bà chủ của cô ấy. "Tôi không được mời, và tôi cũng chẳng có việc quan trọng gì với Quan Đệ nhất Chấp chính; nhưng tôi đến từ châu Mỹ, và tôi sẽ vô cùng sung sướng nếu được ngắm nhìn các gian phòng nơi vị tướng nổi tiếng sinh sống. Tiểu thư có thể nghĩ ra cách nào không?" Và tôi dúi vào tay cô ấy một đồng louis d'or.
Cô lại nhún người chào và mỉm cười lần nữa, rồi trả lời:
"Điều đó rất khó, thưa Ngài, nhưng tôi có một người bạn đang gác ở hành lang phía trên. Nếu tôi có thể thỏa thuận với anh ấy để cho chúng ta qua, tôi có thể dẫn Ngài đi xem đại sảnh, phòng khách nhỏ và phòng ăn hoàng gia. Như thế Ngài có vừa lòng không?"
"Quá vừa lòng ấy chứ," tôi đáp, bởi dù có thể không xem được tất cả những gì mình muốn, điều đó cũng giúp giết thời gian trong lúc chờ đợi, lại mang một chút hương vị phiêu lưu làm hài lòng tâm hồn thích dịch chuyển của tôi.
"Tôi sẽ đi bàn với Gaston," Cô Félice nói (vì cô ấy đã cho tôi biết cái tên xinh đẹp đó, và tôi coi đó là một điềm lành), "và tôi sẽ quay lại trong vòng năm phút. Nếu Ngài chờ tôi ở gần bãi thông, Ngài sẽ không phải đợi lâu đâu."
Tuy nhiên, thời gian trôi qua tưởng chừng rất dài. Tôi chắc chắn đã nhiều cái năm phút trôi qua, và tôi bắt đầu nghĩ mình sẽ không bao giờ gặp lại cả đồng vàng lẫn cô nàng Félice xinh đẹp nữa, thì cô ấy lại tung tăng đi tới từ một hướng hoàn toàn khác với hướng đã rời đi.
Cô ấy đã gặp rắc rối. Gaston có những e ngại. Nhỡ đâu có ai định hại vị tướng của anh ta thì sao? Phụ nữ rất dễ bị lừa. Người "Mỹ" này biết đâu lại là một kẻ sát nhân người Anh cải trang. Cô đã phải lấy bản thân ra đảm bảo — chính cô, Félice! — cho sự trong sạch và danh dự của tôi. Cô cũng buộc phải cho Gaston xem đồng vàng tôi trao và hứa với anh ta sẽ có một đồng nữa nếu anh ta chịu hợp tác. Tôi đoán cô cũng thấy cần phải trao cho anh ta một khoản hối lộ hữu hình không kém đồng vàng nhưng ít mang tính tiền bạc hơn, bởi gương mặt cô ửng hồng hơn, đôi mắt sáng hơn và mái tóc hơi rối hơn so với lần đầu tôi gặp.
Và bây giờ cuộc phiêu lưu thực sự mới bắt đầu, vì Félice quả quyết cần phải hết sức cẩn trọng. Cách cả hai chúng tôi lén rời khỏi bụi thông, cô ấy đi trước một khoảng xa, còn tôi thong thả dạo bước phía sau; cách cô ấy ra hiệu cho tôi khi nào tiến lên, khi nào dừng bước bằng những ký hiệu nhỏ suýt soát không thể nhận ra; cách cô ấy cuối cùng dẫn tôi qua một lối vào hẹp phía sau, rồi qua những hành lang tối cùng cầu thang xoắn ốc đến đúng hành lang mà Gaston đang canh gác; và cách tôi dúi một đồng vàng khác vào tay Gaston khi chúng tôi đi qua anh ta, kể ra thì dài lắm.
Gaston đang làm nhiệm vụ gác trước hai cánh cửa cách nhau khoảng hai mươi bước chân. Một cánh cửa mở ra hành lang bên tối mịt (nơi chúng tôi vừa đi qua anh ta và tôi đã dúi đồng vàng vào tay anh ấy), còn cánh cửa kia dẫn vào đầu hành lang chính. Chúng tôi vừa bước vào hành lang chính và Félice đang dẫn đường vào đại sảnh thì cô đột ngột quay lại:
"Quay lại mau, thưa Ngài," cô thầm thì đầy hốt hoảng, "có một sĩ quan đang đi tới!"
Tôi cũng đã thoáng thấy người đó, và tôi càng sẵn lòng quay lại nhanh chóng vì trong thoáng nhìn vội vã, vị sĩ quan ấy trông rất giống Hiệp sĩ Le Moyne. Tôi nghĩ nhiều khả năng mình nhìn nhầm, nhưng tôi không muốn mạo hiểm bị hắn nhìn thấy, và tôi hy vọng trong mờ tối của đoạn hành lang đó, hắn chưa thấy chúng tôi hoặc ít nhất là chưa nhận ra.
Chúng tôi vội vã chạy ngược trở lại qua hành lang bên tối mịt, tôi với cảm giác hào hứng mãnh liệt (vì cảm giác nguy cơ hay hiểm nguy nào cũng luôn làm tinh thần tôi dâng cao nhất), nhưng Félice, tôi tin là bắt đầu hối hận về sự thỏa thuận của mình.
"Thưa Ngài," cô thì thầm, "chúng ta sẽ quay lại theo đường cũ—" nhưng cô định nói thêm điều gì nữa thì tôi chịu không biết, vì đúng lúc đó một cánh cửa ở cuối hành lang bên mở ra. Đó là cánh cửa chúng tôi bắt buộc phải đi qua để tìm đường ra, và qua đó lúc này chúng tôi nghe thấy tiếng cười nói lớn của đàn ông. Rõ ràng một ván bài đang kết thúc, và qua cánh cửa mở đó vài người chơi sắp sửa bước ra. Đường lui của chúng tôi đã bị cắt đứt.
Félice ôm đầu tuyệt vọng.
"Ôi, Chúa ơi!" cô than van, "Tôi sẽ mất việc mất! Tôi sẽ mất mạng mất!"
Tôi còn chẳng kịp nghĩ đến tình cảnh của chính mình, vì quá thương cảm trước sự hoảng loạn của cô ấy và hối hận khi nghĩ rằng mình đã đưa cô vào thế bí chỉ vì một cuộc phiêu lưu ngớ ngẩn.
Nhưng Félice nảy ra một ý. Chúng tôi đang đứng khựng lại bên cạnh Gaston và một trong hai cánh cửa anh ta canh gác mở ra hành lang bên. Chính anh ta cũng dừng lại một chút trong lúc tuần tra, phân vân trước tình thế tiến lui đều khó của chúng tôi.
"Nhanh lên, Gaston," Félice thì thầm sốt sắng, "cho Ngài đây vào buồng thay đồ; đó là nơi duy nhất!"
Gaston có vẻ ngần ngừ, nhưng Félice lấn lướt anh ta một cách hống hách.
"Anh phải làm thế, Gaston! Nhanh lên! Anh muốn Ngài Fouché tống cả hai chúng ta vào tù sao? Tôi sẽ quay lại đón Ngài ấy trong vài phút nữa, ngay khi mọi chuyện êm ả."
Gaston không còn do dự nữa. Anh ta đẩy mở cánh cửa trước mặt chúng tôi, và cả hai vội vã đưa tôi vào một gian phòng mà tôi nhận ra ngay là phòng thay đồ của một quý ông.
"Ngài phải thật im lặng đấy, thưa Ngài," Félice thì thầm; rồi cô mở một cánh cửa và nhét tôi vào một buồng nhỏ tối om, đóng cửa lại không một tiếng động khi thì thầm: "Tôi sẽ quay lại trong vài phút."
Tôi chỉ như cục sáp trong tay cô ấy, vì đã đưa cô vào hoàn cảnh khó khăn và hiểm nguy như vậy, tôi thấy mình phải tuân theo bất kỳ phương cách nào giúp cô tránh khỏi hậu quả thảm hại. Dù vậy, tôi chẳng thích thú gì việc bị nhốt trong một buồng tối ở phòng thay đồ của quý ông. Tôi cũng bắt đầu nghĩ đến nguy hiểm của chính mình, và suốt một phút tròn sau khi thấy mình ở chỗ trốn, đầu gối tôi rung lên bần bật, trái tim đập liên hồi trong lồng ngực đến mức tôi như người điếc và không còn ý thức được xung quanh.
Nhưng khi sự hoảng hốt bắt đầu lắng xuống, tôi nhận ra từ nãy đến giờ mình vẫn nghe thấy vài giọng nói: một giọng nói chiếm phần lớn cuộc trò chuyện, cao, gắt gỏng, kịch liệt và đầy giận dữ; hai giọng còn lại chỉ đáp lại ngắn gọn hoặc bằng một từ, tông giọng thấp và kiềm chế. Tôi cũng bắt đầu nhận ra mình không hoàn toàn ở trong tối. Một ánh sáng mờ nhạt xuyên qua giữa hai tấm rèm khép không kín vốn ngăn cách buồng nhỏ của tôi với một căn phòng khác ngoài phòng thay đồ. Tôi nhìn qua khe hở này, chỉ vừa đủ rộng cho tầm mắt, không đủ rộng để lộ ra với bất kỳ ai trong phòng bên kia, nhất là khi tôi đang ở trong tối còn ánh nắng Phục sinh đang tràn ngập căn phòng bài trí sang trọng.
Đứng với thái độ cung kính ở hai bên chiếc bệ lò sưởi bằng đá cẩm thạch thấp có đặt chiếc đồng hồ bằng vàng lộng lẫy là hai quý ông. Một trong hai người là chú tôi, Ông Marbois, còn người kia tôi không biết, sau này mới biết là Bộ trưởng Decrés. Vừa ra bộ kịch liệt vừa nói năng vô cùng kích động, dọc theo giữa căn phòng, bước đi nhanh qua lại chính là Quan Đệ nhất Chấp chính!
Tôi bàng hoàng trước cảnh tượng đó. Nhờ trò đùa nào của số phận mà tôi lại bị đẩy vào ngay giữa cuộc hội đàm mà mình vô cùng khao khát được tham dự như thế này? Máu trong vú chảy rần rật với tốc độ hỗn loạn cuốn phăng cả lý trí của tôi. Không một ý nghĩ nghe lén những gì không dành cho mình vương lại trong đầu, chỉ có niềm vui lớn lao vì đang ở giữa một cuộc phiêu lưu kỳ lạ như tôi từng đọc trong sách, nơi những điều phi thường xảy ra với vị anh hùng ẩn nấp sau bức trướng. Và chẳng có điều gì phi thường hơn đối với tôi bằng việc được nhìn thấy và lắng nghe Bonaparte vĩ đại!
Và đây là những gì ngài đang nói:
"Tôi biết rõ toàn bộ giá trị của Louisiana, và tôi vẫn luôn mong muốn sửa chữa sai lầm của nhà đàm phán Pháp, người đã từ bỏ nó vào năm 1763. Vài dòng trong một bản hiệp ước đã trả nó lại cho tôi, nhưng tôi vừa mới lấy lại nó thì đã phải chuẩn bị tâm lý để mất nó. Nhưng nếu nó tuột khỏi tay tôi," ngài dừng lại và đột ngột quay sang hai vị bộ trưởng, giơ một bàn tay đe dọa, "thì một ngày nào đó những kẻ buộc tôi phải tự tước bỏ nó sẽ phải trả giá đắt hơn nhiều so với những kẻ mà tôi muốn trao nó cho."
Ban đầu tôi tưởng lời đe dọa này dành cho Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, và trông ngài đáng sợ đến mức, giống như một nữ thần phục hận, tôi rùng mình khi nghĩ đến việc đất nước mình là đối tượng của cơn giận dữ báo thù của ngài. Nhưng những lời tiếp theo của ngài đã làm tôi vỡ lẽ. Ngài lại tiếp tục bước đi nhanh chóng và tiếp tục nói với sự kích động tương tự:
"Người Anh đã lần lượt chiếm đoạt của Pháp vùng Canada, Đảo Cape Breton, Newfoundland, Nova Scotia và Ấn Độ. Chúng đang châm ngòi cho những cuộc nổi dậy ở San Domingo. Chúng sẽ không có được vùng Mississippi mà chúng thèm muốn đâu.
"Louisiana chẳng là gì so với những vùng đất chúng xâm chiếm trên khắp toàn cầu, thế nhưng sự đố kỵ của chúng trước việc khôi phục chủ quyền của Pháp đối với thuộc địa này cho tôi biết chúng muốn chiếm lấy nó, và đó là cách chúng sẽ bắt đầu cuộc chiến.
"Chúng có hai mươi tàu chiến ở Vịnh Mexico; chúng giăng buồm trên những vùng biển đó như những kẻ xưng hùng xưng bá! Việc chinh phục Louisiana sẽ thật dễ dàng nếu chúng chịu khó đổ bộ xuống đó. Tôi không có một phút nào để lãng phí trong việc đưa nó ra khỏi tầm tay của chúng! Tôi không biết liệu chúng đã ở đó hay chưa. Đó là thói thường của chúng, và nếu ở vào vị trí của chúng, tôi đã không chờ đợi. Tôi muốn, nếu vẫn còn kịp thời gian, tước bỏ mọi ý định mà chúng có thể có về việc sở hữu thuộc địa đó."
Một lần nữa ngài dừng lại và đối mặt với hai vị bộ trưởng, đăm đăm nhìn họ một lúc, hết người này đến người kia, trước khi cất lên những lời tiếp theo. Tôi không biết ngài dừng lại vì ngần ngừ cất lời, hay vì muốn làm cho chúng thêm phần sức nặng. Rồi ngài nói chậm rãi và đầy ấn tượng, không còn chút dấu vết nào của sự kích động đã đặc trưng cho những lời trước đó:

"Tôi đang nghĩ đến việc nhượng lại nó cho Hợp chúng quốc Hoa Kỳ."
Nếu ngài kỳ vọng tạo ra một sự chấn động thì ngài đã không thất vọng; giật mình không thể đè nén của mỗi người, đôi mắt sáng lên, khao khát được phát biểu thể hiện rõ trên cả hai gương mặt là những minh chứng dồi dào cho điều đó, và tôi trong buồng tối còn kích động hơn cả hai người họ: vì ở đây còn hơn cả những giấc mơ ngông cuồng nhất của tôi được hiện thực hóa. Nhưng Bonaparte vẫn chưa nói xong; với một cử chỉ ngăn họ thốt ra những lời đang vội vã chực trào trên môi, ngài tiếp tục:
"Các ông sẽ nói rằng tôi khó có thể nhượng nó cho họ, vì nó vẫn chưa nằm trong tay chúng ta. Tuy nhiên, nếu tôi để lại dù chỉ một chút thời gian cho kẻ thù, tôi sẽ chỉ chuyển giao một danh nghĩa rỗng tuếch cho những người cộng hòa mà tôi muốn tìm kiếm tình hữu nghị. Họ chỉ xin tôi một thành phố ở Louisiana; nhưng tôi đã coi thuộc địa này là hoàn toàn mất mát rồi, và với tôi có vẻ như dưới tay thế lực đang lên này, nó sẽ có ích hơn cho chính sách của Pháp, và thậm chí cho thương mại của Pháp, so với việc tôi cố gắng giữ lấy nó. Công dân Bộ trưởng," ngài nhìn chú tôi, "ý kiến của ông thế nào?"
Chú tôi, người ban đầu rất sốt sắng muốn phát biểu, dường như lại ngần ngừ khi cơ hội được trao cho mình.
"Tôi tin rằng, thưa Công dân Đệ nhất Chấp chính," chú nói chậm rãi, "chúng ta không nên ngần ngại hy sinh thứ đang tuột khỏi tay mình. Chiến tranh với Anh là không thể tránh khỏi. Liệu với lực lượng hải quân yếu thế hơn, chúng ta có thể bảo vệ Louisiana trước thế lực đó không? Vào thời điểm phát hiện ra Louisiana, các tỉnh lân cận cũng yếu ớt như chính nó. Bây giờ họ đã hùng mạnh còn Louisiana vẫn đang ở thời kỳ phôi thai. Đất nước này hầu như chưa có người ở; ngài không có lấy năm mươi người lính ở đó. Phương tiện nào để ngài gửi lực lượng đồn trú đến đó? Chúng ta có thể khôi phục các pháo đài đã sụp đổ và xây dựng một chuỗi pháo đài dài trên biên giới bốn trăm dặm không? Nếu Anh để ngài thực hiện những điều này, đó là vì chúng sẽ làm kiệt quệ tài nguyên của ngài, và họ sẽ thấy niềm vui thầm kín khi chứng kiến ngài kiệt sức trong những nỗ lực mà chỉ mình họ hưởng lợi. Ngài sẽ gửi đi một hạm đội; nhưng trong khi nó vượt đại dương, thuộc địa sẽ thất thủ, và hạm đội đến lượt mình sẽ rơi vào nguy hiểm lớn. Louisiana bỏ ngỏ cho người Anh từ phía bắc qua các Đại Hồ, và nếu ở phía nam họ xuất hiện ở cửa sông Mississippi, New Orleans sẽ ngay lập tức rơi vào tay họ. Cuộc chinh phục này thậm chí còn dễ dàng hơn đối với người Mỹ: họ có thể đến Mississippi bằng nhiều con sông có thể đi lại được, và để làm chủ đất nước này, chỉ cần họ tiến vào là đủ. Thuộc địa này đã tồn tại một thế kỷ, và bất chấp những nỗ lực cùng hy sinh đủ mọi kiểu, báo cáo cuối cùng về dân số và tài nguyên của nó chứng minh cho sự yếu ớt của nó. Nếu nó trở thành một thuộc địa của Pháp và gia tăng tầm quan trọng, thì ngay trong sự phồn vinh của nó sẽ có một mầm mầm độc lập không lâu nữa sẽ phát triển. Nó càng phát triển thì chúng ta càng ít có cơ hội giữ được nó.
"Người Pháp đã cố gắng thành lập thuộc địa ở nhiều nơi thuộc lục địa Bắc Mỹ. Những nỗ lực của họ ở khắp nơi đều thất bại. Người Anh kiên nhẫn và chịu khó; họ không sợ sự cô đơn và tĩnh lặng của những vùng đất mới khai phá. Người Pháp, sống động và hoạt bát, đòi hỏi phải có xã hội; ông thích trò chuyện với hàng xóm. Ông sẵn lòng dấn thân vào thử nghiệm trồng trọt đất đai, nhưng ngay thất vọng đầu tiên đã bỏ cuốc và rìu để đi săn."
Bonaparte, khi chú tôi ngừng nói, đã tự gieo mình xuống một chiếc ghế bành và ra hiệu cho những người khác ngồi xuống. Ngài đã lắng nghe với sự chú ý sâu sắc bài phát biểu dài của chú tôi, nhưng giờ đây ngài ngắt lời chú một cách đột ngột và gay gắt.
"Tại sao người Pháp, những người không thể thành công ở một thuộc địa lục địa, lại luôn đạt được tiến bộ lớn ở Tây Ấn?"
"Bởi vì," Ông Marbois đáp, "nô lệ thực hiện mọi công việc nặng nhọc. Người da trắng, những người sẽ sớm bị kiệt sức vì sức nóng của khí hậu, tuy nhiên lại có nghị lực tinh thần cần thiết để chỉ đạo các hoạt động của họ."
"Ai là người canh tác đất đai ở Louisiana?" Quan Đệ nhất Chấp chính hỏi.
"Chế độ nô lệ," chú tôi trả lời, "đã cho Louisiana một nửa dân số. Một sự thiếu thận trọng không thể bào chữa đã được thực hiện khi đột ngột trao cho các nô lệ ở San Domingo một sự tự do mà họ chưa được chuẩn bị. Người da đen và người da trắng đều là nạn nhân của sai lầm lớn này."
"Tôi chưa quyết định được," Bonaparte nói, "liệu nên duy trì hay xóa bỏ chế độ nô lệ ở Louisiana thì tốt hơn."
"Trong tất cả những tai họa đã hành hạ nhân loại," chú tôi đáp lại, "chế độ nô lệ là đáng ghét nhất! Nhưng ngay cả lòng nhân đạo cũng đòi hỏi những sự cẩn trọng lớn trong việc áp dụng phương thuốc, và ngài không thể áp dụng nó nếu Louisiana lại trở thành của Pháp. Các chính phủ vẫn nửa chừng chống lại sự giải phóng: họ dung túng trong bí mật những gì họ lên án công khai, và chính họ bị bối rối bởi vị thế giả tạo của mình. Tình cảm chung của thế giới nghiêng về sự giải phóng; vô ích khi những người thực dân và chủ đồn điền muốn ngăn chặn một phong trào mà dư luận ủng hộ. Việc chiếm giữ Louisiana — một thuộc địa có nô lệ — sẽ gây cho chúng ta nhiều chi phí hơn là mang lại lợi nhuận."
Khi chú tôi ngừng nói, Bonaparte quay sang Bộ trưởng Decrés và với một động tác tay ra hiệu rằng ngài sẵn sàng nghe ý kiến của ông. Vị bộ trưởng bắt đầu một cách sốt sắng:
"Chúng ta vẫn đang hòa bình với Anh," ông nói; "thuộc địa này vừa mới được nhượng lại cho chúng ta; việc giữ gìn nó phụ thuộc vào Quan Đệ nhất Chấp chính. Sẽ là không khôn ngoan nếu ngài từ bỏ, vì sợ một nguy cơ không chắc chắn, cơ sở quan trọng nhất mà chúng ta có thể thành lập bên ngoài nước Pháp, và tự tước đoạt nó không vì lý do nào khác ngoài khả năng xảy ra chiến tranh; thà rằng, nếu không muốn nói là tốt hơn, nó bị tước đoạt khỏi chúng ta bằng lực lượng vũ trang.
"Ngài sẽ không thừa nhận, bằng việc từ chức ở Louisiana, rằng Anh là bá chủ thế giới trên biển, rằng cô ta ở đó không thể bị tổn thương, và không ai có thể sở hữu thuộc địa trừ khi có sự đồng ý của cô ta! Ngài không nên sợ các vua nước Anh! Nếu họ chiếm Louisiana, như một số người muốn ngài sợ, Hanover sẽ ngay lập tức nằm trong tay ngài, như một sự đảm bảo chắc chắn cho sự phục hồi của nó. Nước Pháp, bị tước đi hải quân và thuộc địa, bị tước đi một nửa sự lộng lẫy và một phần lớn sức mạnh của mình. Louisiana có thể bồi thường cho chúng ta mọi tổn thất. Không tồn tại trên địa cầu một cảng duy nhất, một thành phố duy nhất, có khả năng trở nên quan trọng như New Orleans, và sự lân cận của các bang Mỹ đã làm cho nó trở thành một trong những nơi thương mại nhất trên thế giới. Sông Mississippi không đến đó cho đến khi nó nhận được hai mươi con sông khác, hầu hết trong số đó vượt quá kích thước của những con sông đẹp nhất Châu Âu.
"Tàu thuyền đi đến Ấn Độ, bằng cách vòng qua Mũi Hảo Vọng, đã thay đổi tuyến đường thương mại Châu Âu và làm phá sản Venice và Genoa. Hướng đi của nó sẽ ra sao nếu, tại Eo đất Panama, một kênh đào đơn giản được mở để nối đại dương này với đại dương khác? Cuộc cách mạng mà ngành hàng hải sẽ trải qua sau đó sẽ còn đáng kể hơn nữa, và việc đi vòng quanh thế giới sẽ trở nên dễ dàng hơn so với những chuyến đi dài ngày hiện đang được thực hiện khi đi và về từ Ấn Độ. Louisiana sẽ nằm trên tuyến đường mới này, và khi đó người ta sẽ thừa nhận rằng sở hữu này có giá trị vô giá.
"Cuối cùng, nước Pháp, sau những rắc rối kéo dài, đòi hỏi một thuộc địa như vậy cho sự bình định nội bộ của mình; nó sẽ đối với đất nước chúng ta như một thế kỷ trước đối với Anh là các khu định cư mà những người di dân từ ba vương quốc đã nâng lên một mức độ phồn vinh cao như vậy. Đó sẽ là nơi trú ngụ của những người bất đồng ý kiến về tôn giáo và chính trị của chúng ta; nó sẽ chữa lành một phần những căn bệnh mà Cuộc Cách mạng đã gây ra, và là người hòa giải tối cao của tất cả các đảng phái mà chúng ta bị chia rẽ. Ngài sẽ tìm thấy ở đó những phương thuốc mà ngài tìm kiếm với bao nhiêu sự lo lắng!"
Tôi nghĩ đây là một bài phát biểu rất táo bạo, và nó được thốt ra với nhiều nhiệt huyết và sự hăng hái. Tôi không thể chắc chắn Chấp chính đón nhận nó như thế nào, vì ngài không nói một lời nào trong suốt quá trình đó. Khi vị bộ trưởng nói xong, ngài cho cả hai lui ra với vài lời, nhưng bảo họ rằng ngài kỳ vọng họ sẽ ở lại suốt đêm.
Khi cánh cửa khép lại sau lưng hai vị bộ trưởng, Bonaparte tự gieo mình trở lại chiếc ghế của mình, hai tay khoanh trước ngực, đầu gục về phía trước, trong một tư thế suy ngẫm sâu sắc. Với tôi có vẻ nhiều khả năng những lời của Bộ trưởng Decrés đã chạm đến lòng tự trọng và lòng yêu nước của ngài, và giờ đây ngài đang ngần ngừ trước ý nghĩ từ bỏ thuộc địa quan trọng cuối cùng của nước Pháp.
Ngài bị ngắt đoạn trong sự suy tư bởi một sĩ quan mang đến những công văn từ London vừa mới tới, và ngài gửi lời qua vị sĩ quan bảo Bộ trưởng Marbois đến gặp ngài ngay lập tức.
Chỉ vài khoảnh khắc cho đến khi chú tôi quay lại, nhưng trong khoảng thời gian đó tôi có thể thấy Bonaparte lướt qua các công văn với tốc độ tia chớp đến mức đối với tôi, một người đọc mọi thứ đều chậm chạp, có vẻ không thể ngài đã nắm được ý nghĩa của chúng. Khi Ông Marbois bước vào căn phòng, Bonaparte chào chú.
"Công dân Bộ trưởng," ngài nói, "công văn từ London đã tới. Ông đã xem chúng chưa?"
"Tôi vừa mới đọc chúng," chú tôi đáp, "khi ngài cho gọi tôi."
"Ông có thấy nước Anh đang chuẩn bị cho chiến tranh không? Rằng cả sự chuẩn bị về hải quân và quân sự đang tiến hành với tốc độ phi thường?"
"Có," vị bộ trưởng nói, "tôi hiểu như vậy."
"Có lẽ ông cũng thấy rằng, trong Quốc hội Mỹ, Ông Ross đã đề xuất rằng Tổng thống nên chiêu mộ năm mươi ngàn quân và chiếm lấy New Orleans?"
"Có," chú tôi nhắc lại, "tôi đã thấy, và tôi rất tiếc vì bất kỳ nguyên nhân bất đồng nào nảy sinh giữa các quốc gia của chúng ta."
Quan Chấp chính bật dậy và tiếp tục bước đi nhanh qua lại trong phòng mà không thốt ra một lời nào trong suốt hai phút tròn, nhưng với một cái cau mày sâu giữa hai mắt, như tôi có thể thấy mỗi khi ngài đối mặt với tôi trong bước đi vội vã qua lại.
Đột nhiên ngài dừng lại và quay sang chú tôi.
"Sự thiếu quyết đoán và sự cân nhắc không còn đúng lúc nữa," ngài nói chậm rãi, và sau đó thêm vào với ngọn lửa đột ngột:
"Tôi từ bỏ Louisiana! Không chỉ New Orleans tôi sẽ nhượng lại, đó là toàn bộ thuộc địa không chút bảo lưu. Tôi từ bỏ nó với sự tiếc nuối lớn nhất! Cố chấp giữ lấy nó sẽ là sự ngu ngốc lớn nhất. Tôi chỉ đạo ông đàm phán vụ việc này với các phái viên của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Đừng thậm chí chờ đợi sự tới nơi của Ông Monroe; hãy có một cuộc phỏng vấn vào ngày mai với Ông Livingston. Nhưng tôi đòi hỏi rất nhiều tiền cho cuộc chiến này với Anh, và tôi không muốn bắt đầu nó với những khoản đóng góp mới. Tôi sẽ vừa phải, trong sự xem xét về sự cần thiết mà tôi đang có trong việc thực hiện một vụ bán; nhưng hãy giữ điều này cho riêng ông. Tôi muốn năm mươi triệu, và với ít hơn số tiền đó tôi sẽ không thương lượng; tôi thà thực hiện một nỗ lực tuyệt vọng để giữ những vùng đất đẹp đẽ này. Ngày mai ông sẽ có toàn quyền."
Tôi nghĩ chú tôi có phần bàng hoàng trước sự đột ngột của quyết định bán toàn bộ đất nước, mặc dù chính chú đã khuyên điều đó, và còn hơn thế nữa trước trách nhiệm lớn lao đẩy lên chú trong việc dẫn dắt các cuộc đàm phán thay cho Bộ trưởng Ngoại giao. Có lẽ, giờ đây khi việc bán đã được quyết định hoàn toàn, chú bị xúc động bởi những tiếc nuối và nghi ngại. Dù sao đi nữa, chú nói, có phần ngần ngừ:
"Ngài cảm thấy chắc chắn, thưa Công dân Chấp chính, rằng chúng ta có quyền nhượng lại chủ quyền của một dân tộc mà không tham vấn chính dân tộc đó sao? Chúng ta có quyền từ bỏ cái mà người Đức gọi là những tâm hồn không? Họ có thể là đối tượng của một hợp đồng bán hoặc trao đổi không?"
Bây giờ tôi thực sự nghĩ từ những gì tôi đã thấy về sự suy ngẫm của Bonaparte trong khi vị bộ trưởng ở ngoài phòng, về những suy tư cau mày của ngài trong bước đi nhanh qua lại đó, và về sự trang trọng trong thái độ của ngài khi cuối cùng ngài thông báo quyết định bán của mình, rằng ngài đã bị trăn trở bởi cùng những nghi ngại đó. Nhưng không vì thế mà môi ngài bớt bĩu ra một cách mỉa mai khi ngài lắng nghe chú tôi, và đôi mắt ngài hẹp lại và rực lên với một ngọn lửa hiểm độc. Ngài khó lòng chờ chú nói xong cho đến khi ngài bùng nổ một cách cay đắng:
"Ông đang trao cho tôi, trong tất cả sự hoàn hảo của nó, tư tưởng về luật tự nhiên và các dân tộc! Nhưng tôi đòi hỏi tiền để làm chiến tranh với quốc gia giàu có nhất thế giới. Hãy gửi những châm ngôn của ông đến thị trường London! Tôi chắc chắn chúng sẽ được chiêm ngưỡng lớn ở đó; thế mà không có sự chú ý lớn nào được trả cho chúng khi câu hỏi là sự chiếm giữ những vùng đất đẹp nhất của Châu Á!"
Tôi nghĩ chú tôi sẽ héo mòn dưới sự mỉa mai cay đắng như vậy, vì chưa bao giờ tôi thấy bất kỳ điều gì hiểm độc hơn toàn bộ khía cạnh của Bonaparte, và tôi run rẩy cho chú. Nhưng chú dường như không rất sợ sự đe dọa của người đàn ông vĩ đại, và kiên trì trong lập luận của mình khi có vẻ như với tôi phần của sự khôn ngoan sẽ là giữ im lặng.
"Nhưng, thưa Công dân Chấp chính," chú thúc giục, "ngài không sợ bằng việc nhượng lại những sở hữu lớn như vậy cho Mỹ ngài có thể làm cho cô ta trong khoảng hai hoặc ba thế kỷ quá hùng mạnh cho Châu Âu — bá chủ thế giới sao?"
Môi Quan Chấp chính lại bĩu ra lần nữa. Ngài trả lời bằng một giọng gay gắt:
"Sự nhìn xa của tôi không bao gồm những nỗi sợ xa xôi như vậy. Tôi không có con cái; sau tôi là đại hồng thủy! Ngoài ra, chúng ta có thể sau này kỳ vọng những sự kình địch giữa các thành viên của Liên minh. Các liên bang được gọi là vĩnh cửu chỉ kéo dài cho đến khi một trong các bên ký kết tìm thấy nó nằm trong lợi ích của mình để phá vỡ chúng."
Vị bộ trưởng không đáp lại, mặc dù Bonaparte chờ đợi một khoảnh khắc như thể kỳ vọng một câu trả lời. Sau đó ngài tiếp tục:
"Ông Monroe đang trên bờ vực tới nơi. Đến vị bộ trưởng này, đi một ngàn dặm từ những cử tri của mình, Tổng thống hẳn đã trao những chỉ thị bí mật cho sự quy định về các khoản thanh toán được thực hiện, rộng lớn hơn sự ủy quyền rõ ràng của Quốc hội. Cả vị bộ trưởng này lẫn đồng nghiệp của ông đều không được chuẩn bị cho một quyết định đi vô cùng vượt quá bất kỳ điều gì họ sắp sửa yêu cầu chúng ta. Bắt đầu bằng việc thực hiện sự dạm hỏi mà không có bất kỳ sự ngụy trang nào. Ông sẽ làm cho tôi biết, ngày này qua ngày khác, giờ này qua giờ khác, về sự tiến triển của ông. Các bộ trưởng của London được thông báo về các biện pháp được áp dụng tại Washington, nhưng nó không thể có sự nghi ngờ nào về những biện pháp tôi đang thực hiện bây giờ. Quan sát sự bí mật lớn nhất, và giới thiệu nó cho các bộ trưởng Mỹ: họ không có một lợi ích ít hơn chính ông trong việc tuân theo lời khuyên này. Ông sẽ tương tác với Ông de Talleyrand, người duy nhất biết các ý định của tôi. Giữ cho ông ấy được thông báo về sự tiến triển của vụ việc này."
Tất cả điều này được thốt ra trong một tông giọng cắt ngắn sắc bén, đôi khi gay gắt và gắt gỏng, mang theo một hiệu ứng không thể tưởng tượng được của quyền lực độc tài. Khi ngài hoàn thành ngài làm một cử chỉ cho lui ra, nhưng khi vị bộ trưởng sắp sửa rút lui ngài gọi chú quay lại lần nữa.
"Ông Marbois," ngài nói trong một tông giọng dịu dàng hơn nhiều so với ngài đã sử dụng từ trước đến nay, "sẽ có một hiệp ước được soạn thảo giữa ông và các bộ trưởng Mỹ, dĩ nhiên, và tôi muốn viết một điều khoản của hiệp ước đó. Nếu ông ngồi xuống vài khoảnh khắc tôi sẽ không giữ ông lâu."
Chú tôi cúi đầu và ngồi xuống, và với sự kỳ diệu nhanh chóng cây bút của Bonaparte bay qua tờ giấy trước mặt ngài. Trong chưa đầy một phút thời gian ngài ngẩng lên từ tờ giấy của mình.
"Đây là điều khoản, thưa Ông Marbois, mà tôi muốn ông làm cho nó thành việc của mình để thấy được thể hiện đâu đó trong hiệp ước." Và sau đó ngài đọc chậm rãi, trong một giọng nói vững chắc, rõ ràng, không còn bất kỳ tông giọng gắt gỏng nào:
"Những người dân của lãnh thổ được nhượng lại sẽ được hợp nhất trong Liên minh của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, và được thừa nhận càng sớm càng tốt, theo các nguyên tắc của Hiến pháp Liên bang, đến sự hưởng thụ của tất cả các quyền, lợi ích, và miễn trừ của công dân Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Và trong thời gian đó họ sẽ được duy trì và bảo vệ trong sự hưởng thụ tự do về sự tự do, tài sản, và tôn giáo mà họ xưng khai."
Quan Chấp chính đứng dậy khi ngài đọc xong và mở rộng tờ giấy về phía chú tôi.
"Công dân Bộ trưởng," ngài nói (và tôi gần như nghĩ có một âm hưởng buồn bã trong tông giọng của ngài, nhưng tôi không thể tin một cảm xúc như vậy có thể đối với người chinh phục hống hách), "hãy để những người Louisiana biết rằng chúng ta chia tách khỏi họ với sự tiếc nuối; rằng chúng ta quy định trong sự ủng hộ của họ mọi thứ mà họ có thể khao khát; và hãy để họ sau này, hạnh phúc trong sự độc lập của họ, nhớ lại rằng họ đã là người Pháp, và rằng nước Pháp, trong việc nhượng lại họ, đã bảo đảm cho họ những lợi ích mà họ không thể có được từ một thế lực Châu Âu, dù cho nó có thể mang tính phụ tử đến đâu. Hãy để họ giữ lại cho chúng ta những tình cảm thương yêu; và cầu mong nguồn gốc chung, dòng dõi, ngôn ngữ, và tập quán của họ kéo dài mãi mãi tình hữu nghị."
Ngài nói xong, và quay lưng lại đột ngột với chú tôi, người cúi đầu lặng lẽ và rút lui. Tôi không thể thấy gương mặt của cả hai, nhưng tôi tin cả hai đều bị xúc động quá sâu sắc để thốt ra một lời nào khác. Khi chú tôi rời khỏi phòng, Bonaparte tự gieo mình một lần nữa vào chiếc ghế tay dựa sâu của ngài trong cùng tư thế suy ngẫm ngài đã duy trì trước đó trong khoảng thời gian vị bộ trưởng vắng mặt — hai tay khoanh lại, cằm chìm sâu trên ngực.
Đối với tôi có vẻ một thời gian dài ngài ngồi như vậy, vì tôi đang trở nên mỗi khoảnh khắc lo lắng hơn cho sự thoát khỏi an toàn của chính mình từ chỗ trốn. Félice đã hứa quay lại đón tôi trong vài khoảnh khắc nếu đường trống, và tôi chắc chắn nó phải gần như nhiều giờ hơn là vài khoảnh khắc mà tôi đã quan sát người đàn ông hàng đầu của toàn thế giới quyết định vận mệnh của một dân tộc và tương lai của quốc gia tự hào của chính tôi. Tôi đã bị quan tâm một cách mãnh liệt đến mức tôi không chú ý đến sự trôi qua của thời gian, nhưng bây giờ khi Quan Đệ nhất Chấp chính ngồi cuốn trong suy tư, tôi, cũng vậy, bắt đầu suy nghĩ, tự hỏi, và trở nên mỗi khoảnh khắc lo lắng hơn. Điều gì đã xảy ra với người dẫn đường nhỏ bé của tôi? Cô ấy đã bỏ rơi tôi và để tôi lại với số phận của mình sao? Và nếu cô ấy đến đón tôi bây giờ, liệu tôi có thể, với những cử động vụng về của mình, thoát ra mà không bị nghe thấy, khi căn phòng không còn vang vọng với những tông giọng gắt gỏng của Bonaparte?
Có một tiếng thở dài kéo dài từ chiếc ghế của Quan Đệ nhất Chấp chính. Ngài mở hai tay, ngửa đầu ra sau, và bật dậy, một lần nữa bước đi nhanh qua lại. Đột nhiên ngài dừng lại, giơ một tay lên như thể kêu gọi Thiên Đường làm chứng, và thốt lên thành tiếng:
"Sự gia tăng lãnh thổ này củng cố mãi mãi sức mạnh của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ! Tôi vừa mới trao cho Anh một đối thủ hàng hải sớm hay muộn sẽ làm hạ sự tự cao của cô ta!"
Bàn tay ngài rơi xuống một chiếc chuông mà ngài rung dữ dội. Ngay lập tức có một âm thanh cào nhẹ trên tấm ô của một cánh cửa dẫn vào một căn phòng bên ngoài.
"Vào đi!" Bonaparte nói, và ở đó lướt nhẹ lặng lẽ vào căn phòng Rustan, người hầu Mameluke nổi tiếng mà tôi đã nghe nói nhiều.
"Tôi sẽ mặc đồ cho bữa tối, Rustan," Quan Đệ nhất Chấp chính nói; "gọi người phục vụ của tôi và bảo anh ta chuẩn bị bồn tắm cho tôi."