Bông Hồng Thành St. Louis

Lượt đọc: 407 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 30
Đóa Hồng Của St. Louis

❊ ❊ ❊

"Tên gọi có là chi?

Dù ta gọi hoa hồng bằng cái tên nào khác,

Thì hương thơm vẫn ngát đượm như thường."

Nhưng lòng tôi có nôn nóng cũng chẳng giải quyết được gì, bởi trước khi rời Phủ Thống đốc, Bác sĩ Saugrain đã mời tôi tới dùng bữa tối tại Trú xá Émigré; dù có bồn chồn bứt rứt đến đâu, tôi cũng chẳng dám mò mến tới đó trước giờ cơm.

Năm giờ chiều, tôi đã ngồi trong gian phòng khách thân thương cũ kỹ, phấp phỏng chờ đợi sự xuất hiện của phu nhân và Pelagie. Vẫn là căn phòng ấm cúng ấy, nơi tôi đã hình dung biết bao lần trong trí óc; tất cả những đại sảnh lộng lẫy ở Paris mà tôi từng ghé qua từ lần cuối nhìn thấy nơi này cũng không hề làm nó bớt đi vẻ ấm áp, gần gũi trong mắt tôi. Đó là một chiều xuân ấm áp, những ô cửa sổ phía tây mở rộng, rèm cửa trắng khẽ đung đưa theo làn gió thoảng. Chỉ có điều, trên chiếc ghế thấp bên cửa sổ không còn bóng dáng cô gái bận trang phục trắng, cũng chẳng thấy cây đàn guitar hay chú chó Leon đâu.

Tôi chỉ phải đợi trong chốc lát. Cánh cửa mở ra, phu nhân bước vào, hai tay dang rộng, chạy ùa về phía tôi. Khi tôi cúi đầu trước bà, bà áp hai tay ôm lấy má tôi, đặt một nụ hôn lên má tôi và gọi tôi là "Con trai của ta." Bước theo sau bà là Pelagie. Nàng bước đi chậm rãi nhưng ngước nhìn tôi—đúng vậy, cuối cùng nàng cũng nhìn tôi—bằng đôi mắt sáng như sao, nhịp tim đập dồn dập nơi chiếc cổ trắng ngần như tuyết, cùng những vệt hồng ửng lên rồi lại nhạt đi trên đôi má. Ngay trước mặt phu nhân, tôi đã suýt nữa ôm chồm lấy nàng vào lòng và gọi nàng là của mình, bởi tôi đã quyết tâm bằng mọi giá nàng phải thuộc về tôi. Tôi nhìn nàng bằng ánh mắt mãnh liệt đến mức tôi nghĩ nàng đã đoán được một phần ý định ấy nên khẽ rụt lại.

Vì thế, tôi đành chỉ cúi đầu hôn lên tay nàng rồi vui vẻ nói:

"Cuối cùng tiểu thư cũng chịu hạ cố nhìn tôi rồi; tôi cứ ngỡ hôm nay mình đã vĩnh viễn bị cấm cửa khỏi những ánh nhìn thân thiện của cô cơ đấy."

Trút bỏ được nỗi e ngại ban đầu, nàng tinh nghịch đáp lại:

"Nếu quý ông đây đến mà không báo trước, làm sao có thể trông mong được nhận ra sau bao nhiêu tháng ngày xa cách cơ chứ?"

Đúng lúc đó, chú chó Leon oai phong bước vào, hơi khập khiễng một chút. Vừa nhác thấy tôi, nó tiến lại gần, ngửi ngửi một hồi rồi chồm lên người tôi với những cú nhảy mừng rỡ điên cuồng, đến mức tôi phải hô nó dừng lại, e rằng cặp móng lớn của nó sẽ làm hỏng bộ đồ Paris sang trọng mà tôi vừa diện để biểu thị sự tôn trọng với tiểu thư. Để dỗ nó nguôi đi, tôi bắt chước giọng điệu của tiểu thư, cất tiếng cao nheo nhéo vô cùng hài hước:

"Taise-toi, mon ange!" (Tắt đài đi, thiên thần của tôi!) và cả hai chúng tôi cùng bật cười vui vẻ.

Tôi hạnh phúc đến mức sẵn sàng làm bất cứ điều gì ngốc nghếch, và tôi tin rằng tiểu thư cũng đang rất đỗi vui mừng, bởi chẳng có trò ngớ ngẩn nào của tôi mà nàng không bật cười đón nhận.

Rôi vị bác sĩ nhỏ nhắn bước vào, chạy lại phía tôi và nhất quyết ôm lấy tôi (vì tôi đang ở trong chính nhà ông), kéo đầu tôi xuống và hôn lên từng bên má. Hành động đó làm tôi đỏ bừng mặt, dù trước đó khi phu nhân hôn, tôi chẳng hề xấu hổ đến thế. Tiếp theo là thuyền trưởng của tôi và Thuyền trưởng Lewis bước vào. Mọi người cùng lúc cất lời, dồn dập hỏi đủ mọi câu hỏi về đủ mọi đề tài, khiến tôi hầu như chẳng có cơ hội nói thêm với Pelagie lời nào.

Sau đó bữa tối bắt đầu. Như thường lệ, phu nhân xếp tôi ngồi cạnh bà, còn Pelagie ngồi ở đầu bàn bên kia. Nhưng lần này không còn sự lạnh nhạt ghẻ lạnh nào nữa, và tôi có cơ hội ngắm nhìn nàng tốt hơn hẳn so với khi nàng ngồi ngay kế bên. Có lẽ như vậy lại hay hơn, bởi ánh mắt tôi có thể bộc lộ với nàng nhiều điều hơn những gì làn môi tôi dám cất lời trước đông đảo quan khách như thế này.

Narcisse phục vụ bàn ăn, gương mặt rạng rỡ những nụ cười chào đón. Đến giữa bữa ăn, lấy cớ này cớ nọ, Clotilde bước vào chào tôi, mắt ngấn lệ xen lẫn nụ cười khi nhớ lại những gian nan chúng tôi đã cùng nhau trải qua. Và cuối cùng là Yorke, nụ cười rạng rỡ mở rộng từ tai này sang tai kia, miệng "cầu Chúa chứng giám" rằng tôi đã "cao thêm cả thước kể từ dạo đó." Nghe vậy, tôi chỉ muốn tẩn cho nó một trận ngay tại chỗ và bảo thẳng với nó như thế, điều đó chỉ khiến nó cười tươi hơn nữa nếu có thể.

Đó là một bữa tối tuyệt vời. Tôi bảo với Phu nhân Saugrain rằng ngay tại Paris tôi cũng chưa từng được thưởng thức món nào ngon bằng một nửa món gà gà tây rừng, bánh croquecignolles và rượu dâu rừng của bà. Tôi nói điều đó bằng cả tấm lòng, và nó đã làm mát lòng mát dạ tâm hồn đảm đang của người nội trợ trong bà.

Trở lại phòng khách sau khi bữa ăn kết thúc, tôi cảm thấy thiếu thiếu một thứ gì đó liền đảo mắt quanh phòng để tìm kiếm. Đó là chiếc gương đứng kiểu Pháp dài mà tôi từng dùng để ngắm nhìn Pelagie—niềm tự hào trong lòng phu nhân.

"Ủa, thưa phu nhân," tôi lên tiếng, "bà đã làm gì với chiếc gương của mình rồi?"

Bà nhún vai, nhìn chồng với vẻ ngao nát.

"Antoine," bà nói, "cần một ít thủy ngân cho các thí nghiệm của ông ấy. Voilà! Chiếc gương của tôi đấy!"

Tôi liếc nhìn Bác sĩ Saugrain; ông đỏ mặt với vẻ mặt đầy tội lỗi, và vì lý do nào đó, tôi thấy Thuyền trưởng Lewis trông cũng có vẻ như thế.

"Để tôi giải thích cho," thuyền trưởng của tôi lên tiếng. "Chàng trai à, cậu phải biết rằng hai người này," ông xua tay chỉ về phía vị bác sĩ và Thuyền trưởng Lewis, "đã là đồng mưu của nhau suốt mùa đông qua trong môn nghệ thuật hắc ám. Họ sống luôn trong phòng thí nghiệm, và những dụng cụ họ chế tạo cho chuyến đi ngược dòng Missouri và qua các dãy núi của chúng ta thật đáng sợ và kỳ diệu khi chiêm ngưỡng. Mỗi người chúng ta được trang bị một hộp gồm những que phốt pho nhỏ, nhờ đó chúng ta sẽ loại bỏ hoàn toàn việc dùng đá lửa. Nhưng còn kỳ diệu hơn thế nhiều, từ chiếc gương của phu nhân, Bác sĩ Saugrain đã chế tạo ra các ống thủy tinh nhỏ chứa thủy ngân, có vạch đo ở bên cạnh để chúng ta có thể biết chính xác trời nóng hay lạnh đến mức nào. Kỳ diệu hơn nữa, ông ấy còn chế tạo các ống nhỏ khác giúp chúng ta biết khi nào sắp có dông bão và khi nào trời sẽ đẹp. Và tôi không thể kể hết cho cậu nghe tất cả những thiết bị tuyệt vời mà vị pháp sư này đã chế tạo cho sự thoải mái và an toàn của chúng ta trong mùa đông này, với sự tiếp tay và giúp sức nhiệt tình của người nô lệ mẫn cán, Thuyền trưởng Lewis."

Điều đó đã khơi mào cho cái miệng của vị bác sĩ, và suốt phần còn lại của buổi tối, chúng tôi không thể nào thoát khỏi những điều kỳ diệu của khoa học. Những điều ông và Thuyền trưởng Lewis kể về những gì khoa học có thể làm được kỳ lạ đến mức lẽ ra tôi đã rất thích thú với cuộc trò chuyện của họ, nếu như tôi không khắc khoải mong mỏi có vài lời riêng tư với Pelagie.

Tôi hạ quyết tâm không để một ngày nào nữa trôi qua mà không có được điều đó; thế nên, trong buổi tối hôm ấy, tôi đã tìm cách hỏi xem liệu nàng có muốn cùng tôi cưỡi ngựa đến Hồ Chouteau vào chiều ngày mai không. Một buổi cưỡi ngựa đôi đến Hồ Chouteau là chuyện thường xuyên xảy ra ở ngôi làng này, và lẽ ra tôi sẽ không sợ bị từ chối nếu như Pelagie không sống quá lâu ở nơi có những nghi thức xã hội nghiêm ngặt hơn. Bởi vậy, tôi hồi hộp chờ đợi câu trả lời của nàng. Nhưng nàng đã e ấp gật đầu, và đối với tôi, buổi tối tại Trú xá Émigré đã thành công rực rỡ.

Mười hai giờ trưa ngày hôm sau, mùng mười tháng Ba, tất cả chúng tôi lại một lần nữa có mặt tại Phủ Thống đốc; các toán quân Mỹ lại dàn hàng trước phủ, và người dân lại tràn ngập các con phố.

Mọi người rất trật tự; không còn những tiếng reo mừng nữa, mà mọi ánh mắt đều ngước lên lá cờ sắp sửa hạ xuống khỏi tầm mắt.

Có rất nhiều người da đỏ trên phố—người Delaware, Sac, Shawnee và các bộ tộc khác—bị thu hút đến thị trấn bởi tiếng súng nổ ngày hôm trước. Thuyền trưởng Stoddard đã nhờ Thống đốc Delassus nói chuyện và giải thích cho họ về sự thay đổi chính quyền, và các binh sĩ đã được cử đi gom họ lại gần ban công Phủ Thống đốc để Don Delassus có thể phát biểu với họ. Một đám đông sẫm màu, nét mặt trầm tư, họ đứng ngước nhìn chúng tôi, không một cơ mặt nào biến đổi trong khi vị thống đốc nói chuyện với họ theo phong thái trang trọng và uy nghi mà họ ưa thích.

"Hỡi người Delaware, người Sac, người Shawnee và các anh em da đỏ khác:

"Những người cha cũ của các người, người Tây Ban Nha và người Pháp, nắm lấy tay người cha mới của các người, vị thủ lĩnh tối cao của Hợp chúng quốc. Bằng một hành động thể hiện thiện chí của họ, và theo các điều khoản của hiệp ước mới nhất, ta đã bàn giao lại cho họ toàn bộ những vùng đất này. Họ sẽ giữ gìn và bảo vệ chúng, đồng thời bảo vệ tất cả người da trắng lẫn người da đỏ sinh sống trên đó. Các người sẽ sống hạnh phúc như thể người Tây Ban Nha vẫn còn ở đây.

"Ta đã thông báo với người cha mới của các người, người thay thế vị trí của ta ở đây, rằng người Delaware, Shawnee và Sac luôn cư xử tốt; rằng các thủ lĩnh luôn kiềm chế những thanh niên của mình hết mức có thể.

"Trong vài ngày qua, chúng ta đã bắn đại bác để thông báo cho tất cả các dân tộc biết rằng người cha Tây Ban Nha của các người sắp ra đi, lòng ngài ấm áp khi biết các người sẽ được bảo vệ và nâng đỡ bởi người cha mới, và mong rằng khói thuốc súng sẽ bốc lên tới Đấng Tạo hóa, cầu xin Ngài ban xuống cho tất cả các người một số phận hạnh phúc và sự thịnh vượng khi luôn sống hòa thuận với người da trắng."

Có nhiều tiếng "Ứch!" ừ hữ thốt ra khi ông kết thúc bài phát biểu, và tôi nghĩ, từ cách những đôi mắt sẫm màu quan sát gương mặt của các sĩ quan mới, họ đã hiểu được ít nhất một phần những gì được truyền đạt.

Một lần nữa, người binh sĩ ở góc ban công lại vẫy chiếc mũ về phía tháp trắng; một lần nữa đại bác lại gầm lên và lá cờ tam tài của Pháp từ từ hạ xuống, trong khi lá cờ Hoa Kỳ giăng sao kéo lên nghênh đón. Đến giữa cột cờ, chúng dừng lại. Trong một khoảnh khắc, hai lá cờ cùng tung bay trong gió, sóng đôi bên nhau, và một tiếng reo hò tự phát bùng lên từ người dân trước hình ảnh thân thiện ấy. Rồi lá tam tài từ từ hạ hẳn, còn lá cờ ngàn sao chậm rãi kéo lên, tung bay những sọc màu trắng và đỏ rộng lớn—biểu tượng tuyệt đẹp của tự do và chủ quyền của một dân tộc tự do—bên trên ngôi làng nhỏ bé nằm ẩn mình giữa những vòm cây trên triền núi, nơi một ngày nào đó có thể trở thành một đô thị hùng mạnh; bên trên Dòng Sông Lớn cuồn cuộn chảy ra Vịnh, nơi mà một tương lai không xa sẽ chứng kiến thương mại của cả thế giới đè nặng trên lồng ngực nó; bên trên những đồng cỏ bao la trải dài đến những dãy núi xa xôi, nơi những năm tháng sắp tới chắc chắn sẽ chứng kiến hàng triệu con người hạnh phúc sinh sống.

Trái tim tôi dâng trào cảm xúc. Tôi vẫy cao chiếc mũ trên không và cất tiếng reo hò dũng mãnh, dẫn dắt các toán quân cùng nhóm nhỏ của chúng tôi trên ban công. Nhưng chúng tôi chỉ là một nhóm nhỏ nên không tạo ra nhiều tiếng động, còn tất cả người Pháp và người Tây Ban Nha đều đứng nhìn với vẻ u buồn. Và vì trái tim chúng tôi xúc động trước niềm đau của họ, chúng tôi không reo hò nữa, mà chỉ ngước nhìn lá cờ đẹp đẽ của mình với niềm tự hào, niềm vui và sự kính yêu trong lòng.

Ba tiếng đồng hồ sau, tôi đã ngồi trên ban công Trú xá Émigré để đợi tiểu thư, như tôi từng đợi nàng vào ngày đi dã ngoại ở Hồ Chouteau. Narcisse đang giữ con ngựa Bourbon Prince ở lối đi bên dưới, còn tôi thì chật vật giữ vẻ ngoài điềm tĩnh, bởi trái tim tôi đang đập liên hồi như búa máy trong lúc lắng nghe tiếng bước chân của tiểu thư.

Nàng bước ra ban công, khoác trên mình bộ trang phục cưỡi ngựa, đội chiếc mũ và đeo tấm che mặt theo mốt Paris mới nhất—chẳng còn là Pelagie bé nhỏ của ngày đi dã ngoại nữa, mà là Pelagie, một công chúa dòng họ Condé; trái tim tôi như muốn nghẹn lại.

Tôi nhìn nàng, và nàng đang mỉm cười với tôi bằng một nụ cười mà tôi không sao hiểu nổi. Rồi nàng quay đi, và mắt tôi đi theo ánh mắt nàng. Từ góc nhà, Yorke đang dắt một con ngựa ra—nó có một ngôi sao trắng trên trán và một chân màu trắng giống như Bourbon Prince, nhưng toàn thân lại khoác một màu lông hạt dẻ tuyệt đẹp. Trong một khoảnh khắc, tôi quên mất tiểu thư của mình. Tôi lao xuống các bậc thang, ôm lấy cổ con ngựa mái màu hạt dẻ.

"Cung đàn lòng!" tôi thì thầm vào tai nó. "Mày có nhận ra tao không, sweetheart?"

Nó hí lên sung sướng, rúc chiếc mõm mềm mại lên xuống trên tay tôi rồi lại hí lên lần nữa. Yorke thì nhe răng cười hết cỡ trong niềm hân hoan, còn tiểu thư của tôi thì bật cười và vỗ tay như một đứa trẻ hạnh phúc.

Tôi đã không nghĩ nàng có thể mang Fatima theo bên mình nên đã không hỏi về nó, mặc dù nói thật ra, tôi chẳng có mấy cơ hội để hỏi nàng về bất cứ điều gì.

Khi tôi nói vậy với nàng, "Tôi sẽ không đi nếu không có nó đâu," nàng vừa nói vừa thẹn thùng nhìn tôi. "Nhưng tôi hi vọng anh không đòi lại nó, vì tôi yêu nó lắm."

Có chứ, tôi muốn đòi lại nó, tôi tự nói với lòng mình; nhưng phải đi kèm với cả cô chủ của nó cơ. Dẫu vậy, câu trả lời duy nhất của tôi dành cho tiểu thư chỉ là một nụ cười mà tôi nghĩ nàng đã hiểu, bởi nàng nhanh chóng ngoảnh mặt đi chỗ khác.

Sau đó, tôi đỡ nàng lên lưng Fatima—con ngựa giờ đây mang một chiếc yên kiểu Paris thay vì chiếc đệm ngồi phía sau—và chúng tôi cưỡi ngựa ra khỏi hàng rào cọc nhọn, đi xuống con đường gồ ghề dẫn ra dòng sông La Petite Rivière, băng qua đoạn cạn (giờ đây sâu hơn do lũ xuân, so với dạo tôi ngồi nghe tiếng chim đỗ quyên hót), rồi đi dọc theo bờ cây rậm rạp ở bên kia, nơi chúng tôi từng phi ngựa bạt mạng để chạy trốn khỏi người da đỏ (dù nàng chưa từng biết điều đó). Vậy mà tôi vẫn chưa thốt ra được những lời tôi định nói.

Dưới bóng cây từng là đích đến cho cuộc đua của chúng tôi, tôi ghìm ngựa lại một phút. Đây, tôi nghĩ, sẽ là nơi có điềm lành, vì chính tại nơi đây tôi đã thắng được điệu nhảy đầu tiên với nàng, và chính tại nơi đây tôi sẽ chinh phục được nàng. Nhưng đột nhiên tôi nhớ lại rằng đây chính là nơi lần đầu tiên tôi nhìn thấy vị hiệp sĩ; không, đó là điềm gở. "Bằng những lần thoát chết trong gang tấc, chúng ta luôn chiến thắng," ông ta từng nói thế. Tôi e sợ "vận may của dòng họ Le Moyne" cùng phương châm tai hại của họ.

Nơi chúng tôi dừng lại ngắm nhìn hồ nước trước kia, tôi lại dừng lại một lần nữa. Cảnh sắc nơi đây dưới sự kết hợp của sắc hồng và xanh dịu nhẹ của đầu mùa xuân còn đẹp hơn cả dưới ánh nắng vàng ươm của mùa thu. Tại đây, tôi nghĩ, mình sẽ thổ lộ. Nhưng thoáng thấy tháp cối xay gió phủ đầy dây thường xuân giữa những vòm cây, cùng làn nước tuyệt đẹp và những bờ cây rậm rạp đã gợi cho Pelagie nhớ về Ettenheim, và nàng bắt đầu kể cho tôi nghe về lá thư nàng vừa nhận được từ Công tước d'Enghien khiến nàng vô cùng lo lắng.

"Anh ấy viết," Pelagie nói, "rằng anh ấy đang bị một người Anh theo dõi khắp nơi, người mà anh ấy tin chắc là gián điệp được Bonaparte trả tiền—tôi sẽ không bao giờ gọi hắn là hoàng đế đâu!" Pelagie cất lời với đôi mắt rực lửa. "Và mặc dù anh ấy nói không cảm thấy lo lắng cho bản thân, anh ấy càng mừng hơn khi nghĩ rằng tôi đang ở một nơi an toàn, xa rời mọi nguy hiểm."

Nhưng suy nghĩ về lá thư đã làm Pelagie thoáng buồn một lúc, và tôi không muốn lên tiếng lúc này. Làm sao chúng tôi có thể ngờ rằng ngay trong chính ngày hôm đó, có lẽ vào chính giờ phút đó, vị công tước trẻ tuổi đang bị các tay sai của Napoleon bắt giữ, bất chấp mọi hiệp ước trung lập, rồi bị giải gấp đến pháo đài u ám Vincennes, nơi mà mười ngày sau, sau một phiên tòa dàn dựng kéo dài hai tiếng đồng hồ trong đêm tối om, không cho ông một cơ hội tự vệ nào, ông bị giải ra ngoài, bị bắn chết và chôn trong cái hào nơi ông gục xuống. Khi tin tức kinh hoàng đó đến với chúng tôi vài tuần sau, nó đã phủ một bóng đen lên cuộc đời Pelagie ngọt ngào của tôi trong một thời gian, bởi đó là một tội ác mà ngay cả những người bạn của Napoleon cũng không thể bào chữa hay tha thứ: một vết hoen ố đen tối trên danh tiếng của ông mà thời gian sẽ không bao giờ xóa mờ.

Nhưng chiều hôm đó, chúng tôi hoàn toàn không hay biết gì về những gì đang xảy ra cách xa bốn ngàn dặm, và nỗi u buồn của Pelagie chỉ là một thoáng mây trôi trôi qua, để rồi chỉ một lúc sau cả hai chúng tôi lại tràn ngập niềm vui.

"Suối Đá," tôi nghĩ, "nơi đơm hoa kết trái của những kẻ yêu nhau, sẽ là địa điểm thích hợp." Nhưng tại Suối Đá, tôi chẳng thể nghĩ được gì ngoài hình ảnh Yorke cưỡi trên lưng vị hiệp sĩ, cảnh tượng nhem nhuốc của vị hiệp sĩ khi Yorke bị hất văng ra, rồi nỗi hiểm nguy kinh hoàng mà Pelagie từng gặp phải khi tôi bế nàng trong tay chạy trốn trên lưng Fatima. Không, Suối Đá không phải là nơi thích hợp.

Và thế là chúng tôi lại trở lại đoạn cạn, sắp sửa về đến nhà. Những bóng dài đổ xuống làn nước mát lành, một con chim hoét đang cất tiếng hót chiều trên những vạt rừng sau lưng chúng tôi, vậy mà câu chuyện của tôi vẫn chưa được tỏ bày. Chúng tôi đã có nhiều trò chuyện ngọt ngào, và đã nhiều lần lời nói chực trào ra trên môi tôi, nhưng không hiểu sao—tôi chẳng rõ bằng cách nào—Pelagie luôn tìm được cách lảng sang chuyện khác. Ít nhất là tôi nghĩ nàng đã làm vậy, bởi với những lời lẽ nằm sẵn trên môi, tôi lại thấy mình đang bàn về một chủ đề hoàn toàn khác.

Bấy giờ, khi những chú ngựa sục mõm xuống làn nước mát lạnh, bắn tung những giọt nước sáng la lấp lánh quanh chúng tôi, tôi cúi xuống nhìn nàng. Sắc xanh đậm của bộ trang phục cưỡi ngựa làm nền tôn lên vẻ ửng hồng dịu dàng trên đôi má nàng, vệt lông vũ rủ xuống từ chiếc mũ phủ lên chiếc cổ trắng ngần như tuyết rồi hòa vào những lọn tóc xoăn sẫm màu, còn một bàn tay nhỏ nhắn mà nàng đã tháo găng ra đang đùa nghịch với bờm ngựa màu sẫm của Fatima—và tôi đột ngột đưa ra một quyết định.

"Tiểu thư," tôi nói, "cô có biết rằng hôm nay cô không còn là một quý cô nước Pháp kiêu kỳ nữa, mà là một thiếu nữ Mỹ đơn sơ không?"

Nàng ngước nhìn tôi, ngỡ ngàng. Tôi nghĩ nàng đã biết điều gì sắp đến, nhưng nàng vẫn dũng cảm đáp lại, dù bằng một giọng rất đỗi dịu dàng:

"Vâng, thưa ông," rồi nàng cúi mặt xuống, lại tiếp tục đùa nghịch với bờm ngựa Fatima.

"Tiểu thư, cô có nhớ trên dòng La Belle Rivière, vụ cá cược mà cô đã không cho tôi thực hiện không?"

"Vâng, thưa ông," giọng nàng còn dịu dàng hơn trước.

"Tiểu thư, nếu lúc đó tôi thực hiện vụ cá cược ấy, thì hôm nay tôi đã thắng rồi. Cô đã dạy tôi điều tốt hơn, và giờ đây tôi sẽ không dùng một vụ cá cược để chiếm lấy cô dù có thể. Nhưng ôi, tiểu thư, cô từng nói rằng bàn tay thiếu nữ phải được chinh phục bằng phẩm hạnh và những chiến công oanh liệt; thế nhưng trên đời này chẳng có ai—đặc biệt là tôi—xứng đáng với cô cả, tiểu thư ạ, và chẳng có chiến công nào đủ vĩ đại để xứng với cô. Tôi chẳng có gì để chinh phục cô ngoại trừ tình yêu to lớn của mình; liệu điều đó có hiệu lực không,—Pelagie?"

Nàng không trả lời ngay; nàng đỏ bừng mặt, đầu cúi thấp, với một nụ cười hạnh phúc nở trên môi, giống như nàng từng như thế trong căn phòng của Đệ nhất Pháp quan.

Tôi đặt bàn tay to lớn của mình lên bàn tay nhỏ nhắn của nàng vẫn đang đùa nghịch với bờm ngựa Fatima, siết chặt lấy nó, dù lúc đầu nó run rẩy như một chú chim nhỏ rồi nằm yên ngoan ngoãn.

"Pelagie, Pelagie, hãy ngước nhìn anh đi," tôi thì thầm. "Anh có thể gọi em là Pelagie chứ, phải không?"

Nàng nhanh chóng và e ấp ngước nhìn vào mắt tôi, còn tôi thì nhìn thẳng vào thiên đường.

"Vâng, thưa ông," nàng thì thầm.

Đột nhiên nàng bật cười nhỏ rồi tìm cách rút tay ra khỏi tay tôi.

"Tên em không phải là Pelagie đâu," nàng nói.

"Không phải Pelagie ư!" tôi thốt lên, cứ ngỡ nàng đang đùa một trò đùa vui vẻ với mình, và ước gì nàng chọn một thời điểm khác để chơi trò đó.

"Không, thưa ông," nàng nghiêm nét mặt nói. "Người ta đặt tên em là Pelagie khi đưa em qua biển, nhưng tên thật của em là Louise Adelaide, đặt theo tên cô em, Nữ viện trưởng tu viện Remiremont."

Tôi im lặng một lúc, vì tôi không thích nghĩ về Pelagie bé nhỏ bằng bất kỳ cái tên nào khác. Rồi tôi lại nhẹ nhàng nắm lấy tay nàng và đưa lên môi:

"Louise Adelaide," tôi nói, "có thể hợp với một công chúa dòng họ Condé, nhưng em sẽ mãi là Pelagie bé nhỏ của anh," và tình yêu trong lòng tôi lớn đến mức giọng tôi run lên khi cất lời, rồi cả hai chúng tôi đều rất đỗi im lặng trong chốc lát, trong khi bàn tay nàng nằm yên ngoan ngoãn trong tay tôi.

Đột nhiên một ý nghĩ lóe lên trong đầu tôi:

"Pelagie," tôi nói, "em chưa bao giờ gọi tên anh cả; anh không tin là em biết tên anh là gì đâu."

"Em biết chứ, thưa ông." Nàng lém bỉnh ngước nhìn tôi. "Em nói cho anh biết nhé?"

"Hãy gọi anh bằng cái tên đó đi!" tôi dịu dàng nài nỉ nàng.

Để trả lời, nàng đưa tay lên, kéo đầu tôi xuống gần nàng và thì thầm cái tên đó vào tai tôi.

Còn tôi, tôi đã làm gì?

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 5 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.