Chắc hẳn là vào năm 1822 hoặc 1823, lần đầu tiên tôi đến sinh sống tại Brooklyn. Ban đầu chúng tôi ở phố Front, cách cái gọi là "Bến phà Mới" hồi đó không xa, nối liền bờ sông từ chân phố Catharine (hoặc phố Main) sang thành phố New York.
Lúc đó tôi hãy còn là một đứa trẻ (sinh năm 1819), nhưng đã tha thẩn đi khắp vùng lân cận và thị trấn; thường xuyên lui tới chuyến phà mới nói trên; vẫn nhớ mình được các nhân viên gác cổng và thủy thủ cưng chiều và cho miễn vé ra sao (những người như vậy thường rất tốt bụng với trẻ nhỏ), và còn nhớ cả những con ngựa mà tôi thấy thật kỳ lạ khi chúng lầm lũi quay vòng ở gian giữa của thuyền để tạo ra sức nước. (Bởi vì đó là ngay trước thềm thời đại của động cơ hơi nước, thứ chẳng bao lâu sau đã được đưa vào sử dụng trên các tuyến phà). Edward Copeland (sau này làm Thị trưởng) lúc bấy giờ có một cửa hàng tạp hóa ở góc phố Front và phố Catharine.
Chẳng bao lâu sau, tất cả gia đình Whitman chúng tôi chuyển lên phố Tillary, gần phố Adams, nơi cha tôi, một thợ mộc, đã tự tay dựng một ngôi nhà cho chính ông và tất cả chúng tôi. Chính từ nơi này, tôi đã "góp mặt" trong chuyến viếng thăm Brooklyn của Lafayette vào năm 1824–1825. Ông đi qua Bến phà Cũ — tên gọi lúc bấy giờ của Bến phà Fulton ngày nay (vào thời điểm đó vẫn một phần dùng "thuyền ngựa" để qua lại, dù chiếc tàu thủy hơi nước đầu tiên đã bắt đầu xuất hiện quanh vùng này) — và được đón tiếp nồng nhiệt ở chân phố Fulton. Cũng trong dịp đó, viên đá góc của Thư viện Học nghề, tọa lạc tại góc phố Cranberry và phố Henry — nay đã bị phá bỏ — đã được chính tay Lafayette đặt xuống. Rất nhiều trẻ em đã tề tựu tại đó, và tôi là một trong số đó, được một số quý ông giúp đỡ đưa đến những vị trí an toàn để quan sát buổi lễ. Giữa khung cảnh ấy, Lafayette, người cũng đang giúp đỡ lũ trẻ, đã bế tôi lên — lúc đó tôi mới lên năm, ôm chầm lấy tôi trong chốc lát, đặt một nụ hôn lên trán rồi thả tôi xuống một nơi an toàn. Lafayette khi ấy ở độ tuổi từ sáu mươi lăm đến bảy mươi, mang vóc dáng trượng phu và gương mặtôn hòa.