Tôi rất đỗi vui mừng được dâng lên dẫu chỉ là đôi dòng chứng thực khiêm nhường và ngắn ngủi nhất—khi thiếu đi những gì tốt đẹp hơn—về Abraham Lincoln. Mọi điều tôi nghe được một cách xác thực về ông, và mỗi lần tôi được gặp ông (tôi thật may mắn từ năm 1862 đến năm 1865 có lẽ đã tầm hai, ba mươi lần được tận mắt nhìn thấy, dăm dôi dăm ba lời, hoặc lặng ngắm ông), đều bồi đắp và tôi luyện thêm lòng kính trọng cùng tình yêu mến của tôi tại thời điểm ấy. Và khi tôi nghiền ngẫm những gì chính tai nghe, chính mắt thấy về người con vĩ đại của miền Tây ấy, rồi hòa quyện nó vào lịch sử và văn chương của thời đại mình, của mọi thời đại tôi có thể chạm tới, và khép lại bằng cái chết của ông, thì mọi sự tựa như một vở kịch bi tráng nào đó, vượt lên trên tất cả những gì tôi biết—vĩ đại hơn, cuồng nhiệt hơn, và chấn động hơn đối với nước Mỹ của chúng ta, so với những gì Aeschylus hay Shakspere từng viết cho Athens hay cho nước Anh. Và rồi, trên hết là bài học luân lý thấm đượm và làm nền tảng cho tất cả! Một bài học mà chẳng ai quá xa xôi, chẳng ai quá mù chữ—chẳng thời đại nào, chẳng giai cấp nào—là không thể trực tiếp hay gián tiếp lĩnh hội!
Bản chất của Abraham Lincoln thực sự là một trong những tính cách mà kết quả tốt đẹp nhất của nó là thành quả của cả một chuỗi dài nguyên nhân và kết quả—cần một khoảng không gian thời gian nhất định, và có lẽ cả sự lùi xa của thời gian, để có thể ôm trọn và thấu hiểu—mang ảnh hưởng vô song đến việc định hình nền Cộng hòa này (và do đó là cả thế giới) như ngày nay, và sau này còn mang ý nghĩa trọng đại hơn gấp bội. Do đó, thời điểm để có thể đánh giá một cách toàn diện về ông hoàn toàn chưa tới. Dù vậy, chúng ta, những người sống trong thời đại của ông—những người từng thấy ông, nghe ông nói bằng xương bằng thịt, và đang ở giữa, hoặc vừa bước ra từ, những biến cố dữ dội và kỳ lạ mà ông cùng chúng ta từng trải qua—vẫn có thể, ở một chừng mực nào đó, đưa ra những lời chứng giá trị, thậm chí không thể thiếu về con người ông.
Trước tiên, tôi muốn phác họa một chân dung rất chân thực và tiêu biểu về Lincoln, như tôi từng thấy và quan sát ông vào một buổi chiều ở Washington, trong suốt gần nửa giờ đồng hồ, không lâu trước khi ông qua đời. Đó là lúc ông đứng trên ban công của khách sạn National Hotel trên đại lộ Pennsylvania, có đôi lời ngắn ngủi với đám đông tụ tập bên dưới, nhân dịp một trung đoàn nổi tiếng của Illinois được trao bộquân kỳ mới, hay nhân sự kiện những người trai miền Tây gan dạ thu giữ được một số lá cờ từ tay "kẻ địch" (tiện đây xin nhắc lại, cụm từ sau hoàn toàn không được ông sử dụng trong bài phát biểu của mình). Tôi không rõ bức ảnh ấy ra đời như thế nào, nhưng vài ngày sau tôi đã mua được nó ở Washington, và nó đã được tán thành bởi bất cứ ai tôi từng cho xem. Dù đã có hàng trăm bức chân dung được thực hiện bởi các họa sĩ và nhiếp ảnh gia (nhiều bức trong số đó được sao chép để lưu truyền cho đời sau), tôi chưa từng thấy bức nào mà theo quan điểm của mình, xứng đáng được gọi là một chân dung hoàn hảo; và tôi cũng không tin rằng thực sự có một bức như thế trên đời. Tôi có thể mạnh dạn khẳng định rằng, cũng giống như việc chưa có—và có lẽ không thể có—một bức họa hay bức tượng nào thực sự đủ tầm và biểu trưng cho Abraham Lincoln, thì cho đến nay vẫn chưa hề tồn tại một bài đánh giá hay tổng kết văn học nào thực sự thỏa đáng về ông?
Cách tốt nhất để ước định giá trị của Lincoln là hình dung xem tình trạng nước Mỹ sẽ ra sao vào ngày nay, nếu ông chưa từng sống—chưa từng làm Tổng thống. Việc ông được đề cử và đắc cử nhiệm kỳ đầu phần lớn là những sự tình cờ, những cuộc thử nghiệm. Nhìn nhận một cách khắt khe, người ta khó lòng dành nhiều thiện cảm cho các đảng phái chính trị Mỹ, từ thủa ban đầu sau cuộc Chiến tranh giành độc lập cho đến tận ngày nay. Chắc chắn rằng, dẫu chúng từng có những công dụng riêng—từng và đang là "bãi cỏ cho bò ăn"—và là những yếu tố tiết kiệm không thể thiếu trong quá trình trưởng thành, thì không thể chối cãi rằng dưới những cái tên phớt đời, chúng chỉ đơn thuần đại diện cho những cảm xúc nhất thời, những thói đồng bóng, hoặc đôi khi là định kiến, sự dốt nát, hay lòng thù hận. Thứ duy nhất mang hơi hướng của một tư tưởng lớn lao và cao cả thổi sức sống vào một chính đảng, biến nó thành anh hùng, chính là niềm nhiệt huyết vào năm '64 nhằm tái đắc cử Abraham Lincoln, và lý do ẩn sau niềm nhiệt huyết ấy.
Con người này sánh sao với vị "Cha già đất nước" đã được thừa nhận? Washington được nhào nặn theo khuôn mẫu Saxon ưu tú nhất, còn Franklin—thuộc thời đại nhà Stuart (bén rễ từ thời kỳ Elizabeth)—về cơ bản là một quý ông Anh quốc cao quý, chính là mẫu người cần thiết cho hoàn cảnh và thời đại năm 1776–1783. Lincoln, ẩn sau vẻ thực tế của mình, lại ít mang chất châu Âu hơn rất nhiều, mang đậm bản sắc miền Tây, độc đáo, phi truyền thống về căn bản, và mang một dấu ấn hoang dã nào đó của chốn đồng cỏ. Một trong những nhà bình luận xuất sắc gần đây về Shakspere (Giáo sư Dowden), cho rằng đỉnh cao và tổng hòa phẩm chất của ông với tư cách là một nhà thơ chính là việc ông hòa quyện một cách triệt để lý tưởng với thực tế hoặc hiện thực. Nếu điều này đúng, tôi muốn nói rằng những gì Shakspere làm được trong biểu đạt thơ ca, thì Abraham Lincoln về cơ bản đã thực hiện được trong đời sống cá nhân và trên cương vị chính trị của mình. Tôi muốn nói rằng nền tảng vô hình và xương sống trong tính cách của ông, hơn bất kỳ nhân vật nào trong lịch sử, mang tính huyền bí, trừu tượng, luân lý và tâm linh—trong khi trên tất cả những điều ấy, dưới sự chi phối của hoàn cảnh thông thường, đã xây dựng nên và tỏa sáng từ đó thứ mà người phàm gọi là sự khôn ngoan thực tế, cùng một cuộc đời đôi khi phải uốn mình vì những lý do thực dụng và chính trị bức thiết nhất.
Ông dường như là một người có sự kiên định bất khuất (thậm chí bướng bỉnh) trong những dịp hiếm hoi liên quan đến các vấn đề lớn lao; nhưng nhìn chung ông rất thoải mái, uyển chuyển, khoan dung, có phần xuề xòa đối với những chuyện nhỏ nhặt. Tôi nhận thấy rằng ngay cả những câu chuyện và giai thoại cố tình hạ thấp ông, tất cả đều để lại dư âm là một ấn tượng tốt đẹp về con người ông. Về bản chất tôn giáo của ông, theo tôi, chắc chắn thuộc loại phong phú nhất, có cội rễ sâu xa nhất và cao cả nhất.
Một thế hệ mới đã bắt đầu bước lên vũ đài, kể từ sau những con người và sự kiện của cuộc chiến tranh ly khai. Tôi không ít lần tự tưởng tượng ra thời điểm thế kỷ hiện tại khép lại, một thế kỷ mới mở ra, và những con người cùng chiến công của cuộc chiến đó đã trở nên mờ ảo và mang màu sắc thần thoại—tưởng tượng rằng ở một thành phố lớn nào đó ở miền Tây, hay trong một nhóm người tụ họp, hoặc một dịp lễ hội công cộng, nơi những ngày xưa cũ của năm 1863, '4 và '5 được ôn lại—có một cựu chiến binh già ngồi ở góc khuất khi câu chuyện tiếp diễn, để lộ cảm xúc qua đôi mắt ngấn lệ—giống như vị lữ khách xứ Ithaca trong bữa tiệc của Vua Alcinous, khi người hát rong ca hát về những chiến binh giao tranh và các trận chiến của họ trên đồng bằng Troy:
“Từ mạch lệ Ulysses tuôn trào,
Tiếng thở dài nối tiếp tiếng thở dài.”
Tôi đã tưởng tượng, tôi xin nhắc lại, về một di tích đáng kính như thế của thời đại chúng ta, còn được lưu giữ đến thế hệ tiếp theo hoặc tiếp theo nữa của nước Mỹ. Tôi đã hình dung, trong những dịp như thế, những thanh niên quây quần xung quanh; sự kinh ngạc, những câu hỏi đầy háo hức: “Sao cơ! Các bác đã từng thấy Abraham Lincoln—và nghe ông ấy nói—và chạm tay vào ông ấy ư? Các bác đã từng tận mắt chứng kiến Grant, Lee và Sherman chưa?”
Yêu thương biết bao dành cho nền Dân chủ, cho đến tận cùng! Và giữa những nghịch lý do nước Mỹ sinh ra, điều kỳ lạ không kém chính là cảnh tượng tất cả các vị vua, hoàng hậu và hoàng đế trên thế giới, nhiều người đến từ những xứ sở xa xôi, gửi những lời chia buồn và tiếc thương để tưởng nhớ một con người xuất thân từ tầng lớp bình thường nhất của cuộc sống—một kẻ chẻ gỗ và là kẻ chèo thuyền độc mộc!
Nhìn nhận từ các quan điểm đương thời—ai mà biết tương lai sẽ phán quyết điều gì?—và từ quan điểm của nền Dân chủ hiện tại cùng Liên bang (thứ duy nhất giống như niềm đam mê hay sự mê muội ở con người này chính là niềm đam mê dành cho sự thống nhất của các bang này), Abraham Lincoln đối với tôi dường như là nhân vật vĩ đại nhất cho đến nay trên bức tranh hoành tráng của Thế kỷ XIX.