Một cỗ xe dừng phắt lại trong luồng ánh nến chập chờn và yếu ớt đang nhảy múa trên màn đêm lộng gió ngoài xưởng mộc của Crickledon, nằm đối diện với bãi biển. Người ta hỏi đường tới nhà ông Tinman. Crickledon ngưng tay bào, nửa người nhoài trên tấm ván, quát lên: “Rẽ phải; cứ thẳng tiến; không lẫn đi đâu được.” Anh gật đầu với một trong số những kẻ thân cận đang chăm chú quan sát công việc của mình: “Trừ khi chúng định làm mồi cho cá bơn. Tự hỏi không biết vị khách đó đến gặp Tinman làm gì nhỉ?” Những phỏng đoán của bạn bè Crickledon liền chìm nghỉm trong tiếng rít của chiếc bào gỗ.
Một người ngó đầu qua cửa và nhận xét rằng chiếc xe vẫn còn ở đó. “Gã quý tộc đã xuống xe và đi bộ,” Crickledon nói. Có người báo cho anh biết là vẫn thấy có ai đó ở bên trong. “Chắc là vợ của vị quý tộc đó,” anh đáp. Mọi người thoải mái tận hưởng đặc quyền suy diễn theo ý muốn, và xưởng mộc chìm trong sự im lặng quen thuộc. Anh cung cấp cho họ âm thanh và chuyển động để giải trí, thỉnh thoảng lại có thêm vài mẩu chuyện trò; và những vị khách điềm đạm hơn sống ở vùng lân cận thường có thói quen ghé qua xem anh làm việc cho đến giờ ăn tối, thay vì tìm đến những chốn vui chơi ồn ào và tốn kém hơn ở quán rượu.
Crickledon ngẩng lên khỏi vạch đo trên ngón tay cái. Ngưỡng cửa xuất hiện một quý ông râu ria xồm xoàm, tự xưng bằng một câu cảm thán đầy kinh ngạc: “Thật là một phen rắc rối!” rồi vội vã nhường chỗ cho một người quen mặt với họ là Ned Crummins, thợ bọc nệm. Trên lưng anh ta vác một món đồ đạc, và để minh họa cho tình trạng của nó bằng một sự cô đọng hài hước xứng đáng được văn chương ca ngợi, anh ta lặng lẽ quay một vòng khi bước vào.
“Vỡ nát!” tiếng hô vang lên từ đám đông.
“Tôi đâm sầm vào hắn,” vị quý ông nói. “Lão quái nào thế!—mà may là không gãy xương nào. Hắn kìa—nhìn hắn xem: trông như một con rùa bằng thủy tinh ấy.”
“Đó là một chiếc gương trang điểm có khung xoay,” Crickledon nhận xét, đồng thời đặt ngón tay lên ngôi sao ở chính giữa.
“Quý ông đâm sầm vào tôi,” Crummins nói, vừa đặt chiếc khung xuống sàn xưởng.
“Chưa bao giờ trong đời tôi phải chịu một cú sốc như vậy,” vị quý ông tiếp lời. “Thề có Chúa, tôi cứ tưởng hắn là cái cửa: thật đấy. Một thứ ánh sáng rọi ra từ một ngôi nhà nào đó của các anh ở đây, và trong bóng tối như bưng, tôi cứ ngỡ mình đang đứng trước cửa nhà lão Mart Tinman, và có quỷ mới biết nếu tôi không lao thẳng vào—rầm! Nhưng mà sao quái lạ thế, anh bạn, lại đi khiêng một chiếc gương soi to đùng như thế vào ban đêm? Rồi đây, nói cho tôi nghe xem; sao anh lại đi quay mặt kính ra phía trước trong khi lại vác gương trên lưng thế hả?”
“Chà, đó đâu phải lỗi của tôi, tôi biết chứ,” Crummins đáp lại. “Tôi đi cẩn thận hết mức một con người có thể. Tôi vừa định la lên với Đại nhân Tinman rằng, ‘Tôi biết đường rồi, cứ yên tâm đi’; vì tôi tưởng nghe thấy tiếng ngài ấy gọi từ trong nhà, ‘Cậu có thấy đường không?’, thế là vị quý ông này lao thẳng vào tôi hết sức lực, và chiếc gương vỡ tan tành. Tôi chỉ cách cổng nhà Đại nhân Tinman có mười bước chân, và tôi cẩn trọng đến mức đếm từng bước chân mình đặt xuống ấy chứ; tôi biết là mình có làm thế mà.”
“Chà, chính là tôi gọi cơ mà, ‘Tôi chắc chắn là mình không nhìn thấy đường.’”
“Anh nghe thấy tôi cơ mà, cái đồ lừa đảo này!” vị quý ông râu rậm vặn lại. “Anh chĩa cái gương đó vào phía tôi đúng ngay khoảnh khắc tôi lao tới thì có ích gì chứ?”
“Thì, thề có Chúa là chẳng phải lỗi của tôi,” Crummins nói. “Gió thổi quật cả giọng nói đi vào một đêm tối như hũ nút thế này, làm sao anh biết được tiếng phát ra từ bên vai nào. Và nếu vì chuyện này mà tôi phải mất việc dẫu chẳng có lỗi lầm gì——”
“Tôi đã bảo với anh là tôi sẽ đền bù thiệt hại cơ mà? Nào,” vị quý ông vừa nói vừa lúi húi thọc tay vào áo ghi-lê, “nào, cầm lấy tấm danh thiếp này. Đọc đi.”
Lần đầu tiên kể từ khi sự việc diễn ra trong xưởng mộc, một vẻ ra oai phô trương bỗng phảng phất trong giọng điệu của vị quý ông. Động thái đưa danh thiếp dường như có tác dụng khích lệ ông ta chẳng khác nào tiếng kèn lệnh tấu lên trước mặt những bậc vĩ nhân.
“Van Diemen Smith,” ông lớn tiếng tự xưng để Ned Crummins dễ bề ghi nhớ; biểu cảm lo lắng buồn rầu của người thợ khi nhận tấm danh thiếp dường như ngầm tố cáo một lương tâm thiếu phần học thức.
Một giọng nữ đầy lo âu vang lên ngay sát bên cạnh ông Van Diemen Smith.
“Ôi, cha ơi, có tai nạn gì xảy ra vậy ạ? Cha có bị thương không?”
“Không hề gì đâu, Netty; chẳng sao cả. Chỉ là đâm sầm vào một chiếc gương lớn trong bóng tối thôi mà. Chuyện nhỏ tầm tám mươi bảng, ngần ấy tiền chẳng thấm tháp gì với chúng ta đâu. Nhưng tôi gọi những chuyện thế này ở Nước Anh Cũ là vô cùng kỳ quặc, khi mà người ta không thể bước đi trong đêm tối ven bờ biển mà lại không đâm bổ vào một chiếc gương. Quả là một điềm gở cho chuyến viếng thăm lão Mart Tinman của tôi.”
Rồi ông quay sang đám đông hỏi: “Các anh có thể chỉ cho tôi một nhà trọ nào sạch sẽ và lành mạnh được không? Tôi đã định đường hoàng kéo cả người lẫn hành lý đến nhờ cậy ngị thị trưởng của các anh, hoặc bất kỳ chức sắc nào—bạn học cũ của tôi; nhưng tôi không thích kiểu khởi đầu thế này cho lắm. Cả thảy hai phòng ngủ và một phòng khách; ga giường sạch sẽ, thoáng đãng; đồ ăn ngon, nấu nướng chu đáo; trả tiền trọ hàng tuần trước.”
Hòn sỏi ném xuống vực sâu phải mất một khoảng thời gian dài những bọt khí mới nổi lên tới mặt nước, và tương tự như vậy, câu hỏi rất đỗi đơn giản do ông Van Diemen Smith đặt ra đã mất một khoảng thời gian khá lâu để len lỏi vào tâm trí những người có mặt trong xưởng mộc, mà chẳng để lộ chút dấu hiệu nào cho thấy nó đã chạm tới đáy.
“Chắc chắn là chúng ta có thể đến một quán trọ chứ ạ? Thế nào cũng phải có khách sạn nào đó chứ,” con gái ông lên tiếng.
“Có chỗ nghỉ ngơi rất tốt ở Khách sạn Cliff ngay gần đây,” Crickledon nói.
Nhưng một người trong số bạn bè của anh lại bảo: “Nếu ngài không muốn đi xa thế, thưa ngài, thì có ngay nhà của bác Crickledon ở sát vách đây, vợ bác ấy có cho thuê phòng trọ, và dọc theo bờ biển này chẳng tìm đâu ra đầu bếp giỏi hơn đâu ạ.”
“Thế sao gã này lại không nhắc đến? Sợ tôi không dám thuê chắc?” ông Smith hỏi với giọng hơi gầm gừ. “Tôi có thể chưa nổi tiếng lắm ở nước Anh; nhưng tôi nói cho các anh biết, cứ thử sang bên Úc mà hỏi đường tìm ông Van Diemen Smith xem sao.”
“Vâng, thưa cha,” cô con gái ngắt lời, “chỉ là cha phải cân nhắc xem giờ này đã muộn thế rồi, liệu họ có tiện đón chúng ta vào không.”
“Không phải thế đâu thưa cô, xin lỗi cô nhé,” Crickledon nói. “Tôi vốn có nguyên tắc không bao giờ tự đề cử nhà mình cả. Chuyện là thế đấy. Bằng không thì các vị cứ tự nhiên ghé trọ.”
“Tôi đã định đường đột đến thăm người bạn học cũ, và thử thách lòng hiếu khách của người Anh xem sao,” ông Smith trầm ngâm. “Nhưng trời đã muộn rồi. Hơn nữa lại vướng cái cỗ máy quái quỷ kia! Thôi được, chúng ta sẽ ở lại nhà anh vậy, thợ mộc ạ. Ngày mai tôi sẽ sai người đưa danh thiếp sang cho Mart Tinman, để cho lão ta được một phen hốt hoảng ngay bữa sáng.”
Ông Van Diemen Smith vẫy tay ra hiệu cho Crickledon dẫn đường.
Đến lúc này, Ned Crummins mới ngẩng lên khỏi tấm danh thiếp mà anh ta đã lật đi lật lại, trông giống hệt như một kẻ đang đưa ra phán quyết kết tội một con cá.
“Tôi không thể cứ mang danh thiếp của ông này trả cho chủ thay vì tấm gương được,” anh ta nhận xét.
“Ừ phải, nhắc tôi mới nhớ; và tôi cũng muốn biết ý các anh là gì khi đem chiếc gương đó rời khỏi nhà ông Tinman vào ban đêm chứ?” ông Smith nói. “Nếu tôi phải đền tiền, tôi có quyền được biết. Chuyển nhà vào ban đêm có ý nghĩa gì chứ? Nào, nghe xem nào. Đêm hôm không phải lúc để khiêng những chiếc gương lớn như thế. Tôi không chắc là mình không có cơ sở kiện tụng đâu đấy.”
“Nếu ngài chịu cùng tôi ghé qua chỗ chủ nhân của tôi, thưa ngài,” Crummins nói, “biết đâu ngài ấy sẽ giải thích cho.”
Crummins được yêu cầu cho biết chủ của anh ta là ai, và anh ta đáp: “Hãng Phippun và Cộng sự;” nhưng ông Smith nhất quyết từ chối đi cùng anh ta.
“Nhưng này,” ông nói, “tặng anh một đồng vương miện đấy, vì anh là một kẻ biết điều. Sáng mai anh sẽ biết tìm tôi ở đâu; và nhớ cho, tôi sẽ đòi hãng Phippun và Cộng sự phải giải thích rõ ràng lý do tại sao họ lại đi khiêng một chiếc gương lớn vào một đêm thế này. Thôi, biến đi.”
Đồng tiền vương miện trong tay đã tạo ra một sự biến chuyển tốt đẹp trong thái độ muốn giãi bày của Crummins. Crickledon cất lời hỏi anh ta về chiếc gương; hai hoặc ba người khác có mặt ở đó cũng hùa vào giục giã. “Ned này, ông Tinman muốn gì mà lại bắt khiêng gương đi muộn thế? Chủ cậu lo lắng cho tài sản của mình hay sao?”
“Làm gì có chuyện đó,” Crummins nói, rồi bắt đầu bặm môi trên, chớp chớp mắt và đứng ngượng ngùng, đó là những dấu hiệu lờ mờ báo hiệu thủy triều của câu chuyện sắp tuôn trào.
Anh ta bắt gặp ánh mắt của ông Smith, liền tỏ ra lúng túng trước mặt cô con gái.
Crickledon nhìn thấu tình thế tiến thoái lưỡng nan của anh ta. “Cứ nghĩ gì nói nấy đi, Ned; đừng bận tâm cách diễn đạt. Tiếng Anh là tiếng Anh. Ông Tinman sai cậu đến lấy gương đi, đúng thế không nào?”
“Vâng, đúng thế,” Crummins nói.
“Và cậu đã đến gặp ông ta.”
“Vâng, tôi đến chứ.”
“Rồi ông ta vác chiếc gương trang điểm lên lưng cậu.”
“Chính xác là thế.”
“Mọi chuyện rõ như ban ngày rồi. Ông ta đã mua chiếc gương đó chưa?”
“Chưa, ông ấy chưa mua. Ông ấy thuê đấy chứ.”
Cũng giống như khi bắt buộc phải đến nha sĩ, người ta nhổ xong một chiếc răng thì những chiếc răng sâu còn lại sẽ dễ dàng chấp nhận điều trị hơn, đến nỗi giấy phép thi ca có thể mạo muội tuyên bố rằng họ trút bỏ chúng nhẹ nhàng như lá rụng trên cây, Crummins vốn đang ngập ngừng không dám mở miệng, giờ đây lại tự nguyện thốt ra liền mạch cả câu. Và sự quan trọng của chúng đối với đồng hương của anh ta, ông Smith, và đặc biệt là cô Annette Smith, thể hiện rõ qua những tiếng kêu kinh ngạc của họ, trước khi chính họ bị cuốn vào dòng xoáy của sự tò mò.
Và sự tình là thế này: Tinman đã thuê chiếc gương trong ba ngày. Gần tối, ngay trong ngày đầu tiên thuê mượn, khi trời vừa sập tối, ông ta đã ra những mệnh lệnh khẩn thiết bắt hãng Phippun và Cộng sự phải tháo gỡ chiếc gương ra khỏi nhà mình ngay lập tức. Và tại sao ư? Bởi vì, theo như ông ta khăng khăng, chiếc gương có một tì vết khiến hình ảnh phản chiếu trở nên kỳ cục và ngớ ngẩn; và ngay lúc đó ông ta đang chờ đợi một chiếc gương trang điểm khác được chuyển đến.
“Kể tiếp đi, Ned,” Crickledon giục.
“Quái quỷ thật, sao lão ta lại cứ phải khăng khăng đòi một chiếc gương trang điểm làm gì cơ chứ?” ông Smith kêu lên, suýt làm đứt mạch câu chuyện khi gợi ý người kể chuyện phải “quay lại đầu dòng,” điều mà đối với anh ta chẳng khác nào việc nhảy qua một vực thẳm từ phía sau. May thay, bộ óc của anh ta đã kịp ghi lại một hình ảnh:
“Ông Tinman, ngài ấy đang đứng mặc bộ đồ Triều đình đẹp nhất của mình.”
Người bạn học cũ của ông Tinman giật nảy mình; và cũng chẳng có gì là lạ.
“Đứng á?” ông kêu lên; và vì hành động đứng thực ra chẳng có gì là bất thường, ông liền xoáy vào bộ trang phục: “Triều đình ư?”
“Bà Cavely bảo với tôi thế, đó là trang phục ngài ấy đang mặc lúc bấy giờ, và lúc tôi tìm thấy thì ngài ấy vẫn đang mặc nguyên bộ đồ đó,” Crummins nói.
“Bây giờ lão ta vẫn đang mặc nó sao?” ông Van Diemen Smith há hốc miệng hỏi.
Crummins cứng đầu nhắc lại lời khẳng định đó. Nhiều kẻ khi thuật lại sẽ thêu dệt thêm thắt, nhưng anh ta thì chỉ tôn sùng sự thật trần trụi.
“Lão ta chắc phải kiêu hãnh lắm vì có nổi một bộ đồ Triều đình,” ông Smith nói, rồi đăm đăm nhìn cô con gái với ánh mắt đờ đẫn đến mức cô phải mỉm cười, dù lòng đang vô cùng sốt ruột muốn đến nhà trọ của vợ chồng Crickledon.
“Ồ! Chuyện là thế đấy à?” thợ mộc chen vào, nhíu mày cười tủm tỉm trước một câu nói nhỏ của Ned Crummins. “Đang tập luyện đấy phỏng? Ông Tinman đang tập trước gương để chuẩn bị vào cung điện ở London phỏng.”
“Ngài ấy đã cho tôi một shilling,” Crummins nói.
Crickledon hiểu ý ngay lập tức. “Chúng ta sẽ không nhắc đến chuyện đó đâu, Ned.”
Vậy anh đã thấy gì? Câu hỏi được gợi ý một cách vô cùng thận trọng như thế.
Đồng shilling đang nằm sẵn trên đầu lưỡi Crummins như một thứ để kìm hãm việc tiết lộ cảnh tượng bí mật. Nhưng nhớ ra rằng mình chỉ vô tình chứng kiến, và ông Tinman chưa hoàn toàn tin tưởng giao phó bí mật cho mình, anh ta liền thọc tay vào túi để mân mê đồng vương miện đang nằm chung với đồng xu có mệnh giá gấp năm lần nó, và được thôi thúc để nghĩ rằng mình có quyền cất lời: “Tất cả những gì tôi thấy là khi cánh cửa mở ra. Không phải cửa chính của ngôi nhà. Mà là cửa phòng khách. Tôi thấy ngài ấy bước tới trước gương, rồi bước lùi lại từ chỗ chiếc gương. Và khi đến sát gương, ngài ấy cúi đầu chào, đúng thế đấy, rồi ngài ấy lùi lại thế này này.”
Không còn nghi ngờ gì nữa, sự hiện diện của một người phụ nữ chính là tác nhân chủ chốt ngăn cản Crummins không uốn cong toàn bộ cơ thể, và không cho phép anh ta miêu tả chi tiết hơn tư thế lùi bước của ông Tinman trước chiếc gương. Nhưng đó quả là một khoảnh khắc hề hước trơ trẽn, và dẫu nó được đón nhận với vẻ nghiêm túc đúng mực bởi những người đàn ông trong xưởng mộc, Annette vẫn giật giật tay áo cha mình.
Cô không sao giục ông rời đi được. Hình ảnh người bạn học cũ Martin Tinman đang tập luyện trước gương trang điểm để diện kiến triều đình tại cung điện dường như đã làm tê liệt trí tuệ mang phong cách Úc của ông.
“Lão ta có quyền gì mà đòi vào triều kiến?” ông Van Diemen Smith thắc mắc, tựa như một kẻ tha hương đã quen với xứ người.
“Ông Tinman là người giữ kho bạc của thị trấn,” Crickledon đáp.
“Và phản ứng của lão ta đối với chiếc gương tôi đã đập vỡ là gì?”
“Ngài ấy là một quý ông khá là nóng nảy,” Crickledon lẩm bẩm, rồi quay sang Crummins.
Crummins càu nhàu: “Ngài ấy bảo nó bị mờ đục, và làm méo mó hình ảnh.”
“Đúng là một tên ngốc to xác! Phải không nhỉ?” Ông Smith đưa mắt nhìn Crickledon và những khuôn mặt khác để nghe phán quyết của người dân thị trấn về tính cách của Tinman.
Họ có những lý do riêng để đánh giá Tinman theo một cách khác.
“Lão ta chẳng ngốc chút nào,” Crickledon nói.
Một người khác lắc đầu. “Rất sắc sảo trong chuyện buôn bán.”
“Đích thị là thế,” cả đám đông hùa theo.
Ông Smith được thông báo rằng ông Tinman rất có thể sẽ kết thúc bằng việc thâu tóm một nửa thị trấn.
“Thế thì,” ông Smith nói, “lão ta dư sức trả một nửa tiền cho chiếc gương đó, và lão ta nhất định phải trả.”
Tuyên bố của ông đã hé lộ một khía cạnh nghiêm trọng của thảm họa vừa rồi.
Giữa lúc cuộc trò chuyện về chi phí của chiếc gương đang diễn ra—khoảng thời gian mà người dân thị trấn bắt đầu nhận ra rằng cảnh tượng mà Crummins chứng kiến chứa đựng đủ tiếng cười cho cả năm trời, miễn là họ hoãn lại quyền cười cợt của mình và nhấm nháp nó dần dần—Annette đã thuyết phục được cha ra hiệu cho Crickledon rằng ông đã sẵn sàng đi xem phòng trọ. Vừa làm điều đó xong, ông liền thốt lên: “Quỷ thần ơi, cái gì bắt chúng ta phải chờ đợi ngần này thời gian ở đây cơ chứ? Cha đói rồi, con yêu ạ; cha muốn ăn tối.”
“Đó là vì cha vừa trải qua một nỗi thất vọng đấy ạ. Con hiểu cha mà, cha ơi,” Annette nói.
“Ừ, chuyện về lão già Mart Tinman đúng là một gáo nước lạnh,” cha cô hùa theo. “Bằng không thì chắc ta vẫn chưa hoàn toàn bình tâm sau cú sốc đập vỡ chiếc gương kia, và lại trút giận lên đầu lão ta. Nhưng thề có Chúa, lão ta là người quen duy nhất của ta ở nước Anh này, ta chẳng có lấy một người họ hàng nào mà ta biết tới, thế mà vừa về đến nơi lại thấy người bạn duy nhất của mình cư xử như một thằng ngốc, ngần ấy thứ cũng đủ khiến một người chỉ muốn lo ăn với uống.”
Annette trách móc lẩm bẩm: “Chúng ta khó mà nói đó là người quen duy nhất ở nước Anh của mình được, cha nhỉ, đúng không ạ?”
“Ý con là cái gã trẻ tuổi đó phỏng? Con sắp làm cha mất cả cảm giác thèm ăn nếu cứ nhắc đến hắn đấy. Hắn chỉ là một kẻ xa lạ. Cha không tin là hắn đáng giá nổi một xu. Hắn tự nhận mình là cái thứ mà hắn gọi là nhà báo.”
Những lời cuối này được trao đổi vội vàng ngay bậc cửa nhà Crickledon.
“Trông chẳng có vẻ gì là hứa hẹn lắm nhỉ,” ông Smith nhận xét.
“Tôi có quảng cáo giới thiệu đâu,” Crickledon đáp.
“Thế sao anh lại còn cho thuê phòng trọ làm quái gì?”
“Những ai đã đến một lần thì lần sau lại tới.”
“Ồ! Đúng là tôi đang ở nước Anh rồi,” Annette vui mừng thở dài, cảm thấy thân thuộc trước một nét tính cách mà cô vừa phát hiện ra ở Crickledon.