Chloe rút sợi dây lụa ra khỏi ngực áo, khi nàng bước xuống con đường mờ ảo xuyên qua vùng đất của những nữ thần phục hận, rồi lần theo các nút thắt để đếm số lượng của chúng. “Ta chẳng có quyền gì để sống nữa,” nàng lẩm bẩm. Bảy là con số ấy; đúng bảy năm nàng mỏi mòn chờ đợi người yêu trở về; nàng đếm tuổi đời của mình và khép lại nó bằng những chu kỳ bảy năm. Thuyết định mệnh từng nâng đỡ nàng suốt những năm tháng vắng bóng người tình, và giờ đây nó vẫn đang nắm giữ nàng chặt chẽ. Nhờ thế mà nàng đã có thể tự nhủ rằng, “Chàng sẽ đến”; và khi thốt lên, “Chàng đã đến,” đầu ngón tay nàng liền dừng lại ở nút thắt đầu tiên trên sợi dây. Nàng chẳng thể nhấc ngón tay mình ra, và nguyên nhân của việc thắt nút ấy hiện lên trong tâm trí nàng bằng những ký tự đỏ sậm, mắt thường hay lý trí chẳng thể đọc nổi, nhưng nó gợi lại khoảnh khắc từng giáng xuống tâm hồn nàng một cách rõ mồn một như con người thực tại, chỉ trừ ánh ban mai: nàng có cảm giác mình đã đánh mất ánh sáng, và nhờ thế mà tầm nhìn dường như lại sáng rõ hơn. Mọi thứ đoan chắc với nàng rằng nàng nhìn thấu đáo hơn những kẻ khác; và nàng cũng nhận thức rõ khi nào thì nên chấm dứt cuộc đời là điều hay hơn.
Số phận của nàng thật trớ trêu khi mang trong mình trí tưởng tượng của một thi sĩ, để rồi phải thổn thức cùng người phụ nữ đang cướp đoạt vị trí của mình và chia sẻ sự mê hoặc từ gã đàn ông bội bạc. Ngay trong lần đầu tiên họ hội ngộ, trước mặt nàng, nàng đã nhận ra họ không phải là những kẻ xa lạ; nàng thương hại họ vì những lời dối trá, và nàng tự thề sẽ ngăn chặn chuỗi điều ác ấy để cứu lấy một sinh linh trẻ tuổi cùng giới với mình, chứ không phải vì sự ganh đua. Nàng đối xử với cả hai bằng một sự hào hiệp kiêu hãnh vượt lên trên cả lòng nhân hậu. Mọi tính ích kỷ trong lòng nàng giờ đây đã thu gọn lại thành việc tận hưởng trọn vẹn một tháng trời sống trong ảo tưởng do chính nàng kiên quyết dựng nên.
Nụ hôn mà nàng đã hạ mình đón nhận không tước đoạt của ai bất cứ thứ gì, thậm chí chẳng tổn hại đến sự trinh bạch của thể xác nàng, bởi vì khi nút thắt này được buộc lại cũng là lúc nàng phó mặc số phận cho hồi kết của cuộc đời, và bản thân nàng lúc ấy đã biến thành một nắm bụi tro. Những nút thắt khác trên sợi dây chỉ là sự minh chứng; còn nút thắt đầu tiên này xuất phát từ một nỗi nghi ngờ, và nó trở nên vô giá biết bao, nàng cảm thấy nó đích thực là một chân lý; nó đến từ thế giới tăm tối bên kia vòm trời, nơi mọi điều đều được tỏ tường. Niềm tin của nàng rằng nó xuất phát từ chốn ấy được nuôi dưỡng bởi những minh chứng, chính là khoảng không gian tối tăm mà nàng đã sống kể từ dạo ấy, vắt kiệt chút sinh lực cuối cùng để giả vờ vui tươi như một đứa trẻ ngây thơ—chẳng qua chỉ là việc duy trì cảm xúc của khoảnh khắc đắng ngọt cay cay ấy—dẫu có thế nào đi nữa, những kẻ khốn khổ dưới âm phủ cũng đạt được sự thấu hiểu về niềm vui—đó là khi, trong cuộc gặp gỡ đầu tiên với người tình, nhận thức về sự phản bội của chàng đối với tâm hồn đã đặt trọn niềm tin vào chàng, đã nói cho nàng biết rằng nàng đã thực sự sống, đồng thời mở ra trước mắt nàng vương quốc đáng quý của sự vô cảm như một phần di sản thuộc về nàng.
Nàng khiến sự khiêm nhường bi thương của mình cất lời biết ơn sâu sắc đối với vết thương đã tước đoạt mạng sống nàng. “Nếu không có điều đó, hẳn ta đã chẳng gặp được chàng,” nàng tự nhủ:—Người tình của nàng sẽ chẳng đời nào đến tìm nàng nếu hắn không mải miết theo đuổi một người phụ nữ khác.
Nàng tha thứ cho việc hắn bị thu hút bởi bông hoa đồng nội đẹp đẽ ấy: và cũng tha thứ cho cả nàng ta. “Khi tôi mới gặp chàng, chàng cũng đẹp đẽ nhường ấy đối với tôi. Và vì chàng, tôi cũng có thể đã làm ngần ấy điều.”
Mãi tận đằng xa trong một gian phòng rực rỡ ánh đèn ở phương Tây, gia đình nàng đang giơ cao đôi tay đầy trách móc. Họ chỉ là những bóng hình nhỏ bé, hiện lên sắc nét như những bức tượng tí hon chạm khắc trên thép. Cảm xúc chẳng thể nào ấm áp nổi đối với họ, bởi họ quá nhỏ nhoi, ngăn cách giữa nàng và họ là một vùng biển từng nhận chìm cuộc đời nàng; và khi hướng tầm mắt về phía đó, nàng hầu như chẳng còn chút hơi ấm tình cảm nào, ngoại trừ hình ảnh dòng thác trắng xóa tuôn rơi từ một kẽ mây rách qua những tán đá rợp cành, nơi nàng từng leo trèo và mơ mộng thủa thơ ấu. Giấc mơ thuở ấy là về những ngày tháng rực rỡ ở tương lai; còn giờ đây tâm trí nàng đã trở lại ngây thơ như một đứa trẻ, nàng dõi theo dòng nước tản mác chảy rộng ra, nếm vị bọt nước mặn mòi, ngồi đó tận hưởng khung cảnh, lòng thảnh thơi không gợn bóng âu lo chẳng khác gì một chú cừu non, chỉ khác một đứa trẻ ở chỗ nàng biết rằng mình đã rũ bỏ cuộc đời để quay trở về nhà và tìm lại sự thanh thản. Nàng nghe tiếng người thân trò chuyện; họ cứ râm ran mãi không dứt trong tiếng thác nước. Chân lý thuộc về họ, và cả sự khôn ngoan nữa. Vậy thì, sao nàng có thể tự nhận mình còn chút quyền được sống nào chứ? Giờ đây nàng thậm chí chẳng còn lấy một cái tên; sự tồn tại của nàng còn lu mờ hơn cả một tấm bia mộ. Bởi vì Chloe là ai chứ? Người nhà nàng có thể bước qua nấm mộ của Chloe mà không hề rơi lệ, chẳng mảy may triết lý điều gì. Họ đã đoán trước được sự suy sụp của nàng, họ đã tiên đoán điều đó, họ reo hò nó trên những dòng nước, rồi cứ thế xuôi về vùng đồng bằng, rao giảng với thế gian về lời tiên tri của mình, và biến những điều chưa ai hay biết thành một việc nhẹ nhàng hơn để thực hiện.
Những ngọn đèn xếp thành hàng chấm phá không đều dưới chân đồi đang vẫy gọi nàng trở lại với bổn phận phải đóng vai người vui tươi nhất trong số những kẻ đang thở hít khí trời mỗi ngày và còn nhịp đập con tim cho ngày mai.