A-lanh vẫn tiếp tục giọng nói ngọt lật, song không phải để bày tỏ thiện cảm, mà là báo hiệu sự hiện diện của Tử Thần :
- Chào ông. Thật là vinh dự cho tôi được trò chuyện vài ba phút trước khi ông chết.....
CHƯƠNG VIITRƯỞNG TY A-LANH
Trong đời, tôi đã bị dọa giết nhiều lần, có thể tính cả trăm lần, song tôi không hề nao núng. Chẳng phải vì tôi kiêu căng quá đáng, nếu các bạn vào hoàn cảnh tôi các bạn cũng không hề run như tôi. Làm nghề gián điệp hành động, từng giết nhân viên của địch như ngóe, thì khi bị bắt có run sợ nữa cũng vô ích. Thà phớt tỉnh, đặt mạng sống của mình vào tay (nữ) thần may rủi, rồi đến đâu hay đến đó, địch hớ hênh thì phóng atêmi chuyển bại thành thắng, giả sử bị thua thì cũng chẳng đau đớn gì. Một viên đạn bắn trúng tim hoặc xuyên óc có thể làm chết tức khắc. Khi biết là bị trúng đạn thì đã nằm thẳng đơ, hồn bay lên không gian.
Bởi vậy, thái độ thông thường của tôi trước lời dọa giết của đối phương là phớt tỉnh, hoàn toàn phớt tỉnh.
Nhưng không hiểu sao hôm ấy tôi lại không thể phớt tỉnh được trước lời dọa giết của A-lanh
Hắn phì phèo điếu Salem, một tay thọc túi quần, thái độ nhàn nhã như những sự việc đang diễn tiến chỉ là trò đùa. Tôi đinh ninh hắn là ông già khọm khẹm, nếu không khọm khẹm bằng ông Hoàng thì cũng có mái tóc muối tiêu, cặp kính trắng đeo trễ trên sống mũi, và bộ com-plê rộng thùng thình hoặc chật như áo thun lá.
Tôi đã hoàn toàn sai lầm. A-lanh không già khẳng cũng không là đàn ông trung niên. Đứng trước mặt tôi là một gã đàn ông trẻ măng. Tôi dùng chữ "trẻ măng" vì hắn chỉ trạc 25, 26 tuổi là cùng. Tuổi này là tuổi mới tốt nghiệp, khó ai 25, 26 tuổi được chọn làm ty trưởng Phản gián, trừ phi là tinh hoa nghề nghiệp hoặc là con ông, cháu cha trong ngành.
A-lanh hội đủ điều kiện chinh phục những bông hoa biết nói khó tính nhất : hắn có đôi vai thuôn tròn bụng nhỏ và mỏng, cặp mắt đa tình, miệng cười quyến rũ và mớ tóc bờm sờm một cách mỹ thuật, tuy rối beng và ăn sâu xuống cổ và má như tóc híp-py mà vẫn có vẻ ngăn nắp và tỉa xén đàng hoàng. Tôi thuộc hạng cao Á-đông, dạo chơi giữa đám đông Tây-phương tôi cũng không đến nỗi mang mặc cảm tự ti, vậy mà sánh đôi với A-lanh tôi đã thua lút rõ ràng. Hắn cao gần lm90 vai thuôn tròn tạo ra ấn tượng cao thêm. Không những đè bẹp tôi bằng chiều cao, A-lanh vượt xa tôi về chiều ngang nữa.
Thoạt nhìn ai cũng biết hắn là đệ tử trung thành của sân vận động và võ đường. Đàn bà mê hắn vì hắn đẹp nhưng cũng vì hắn có tấm thân cân đối và đồ sộ khiến đàn bà núp trong vòng tay của hắn cảm thấy an toàn như được bảo vệ bằng công sự xi-măng cốt sắt.
Mối thiện cảm đối với hắn vụt tan biến. Tôi biết hắn sẽ không tha tôi. Loại đàn ông khôi ngô, đa tình thường là khối kim khí vô tri vô giác trong nghề điệp báo, đừng tưởng họ cười hiền lành mà sợ dúng tay vào máu ; khi cần đàn ông đẹp trai còn tàn nhẫn hơn cả đồ tể trong lò sát sinh nữa...
Tôi hỏi hắn :
- Anh là A-lanh ?
Hắn gật đầu :
- Phải. Tôi không hỏi tên anh vì biết trước anh sẽ không nói thật. Nhưng tôi chẳng cần biết tên anh. Vì trong giây phút nữa anh sẽ chết.
- Vậy anh còn chờ đợi gì nữa ?
- Chờ anh thương lưọng.
- Hừ, anh là trưởng ty Phản gián một thị trấn lớn ở Đức mà ngu quá, ngu đến nỗi tôi ngờ anh là A-lanh giả.
-Tôi không ngu đâu. Sở dĩ tôi chờ anh thương lượng vì tôi đã khám phá ra anh không phải là nhân viên thường trực của bà Cô-rin.
- Thì đã sao chưa ?
- Quan trọng lắm chứ ! Cánh tay phải của phó giám đốc Cô-rin là bà Năm, mọi công việc tối mật Cô-rin đều giao cho bà Năm, và bà Năm có hàng tá nhân viên giỏi võ, giỏi mưu lược, nhưng lại chỉ tin cậy được ba, bốn tên là cùng. Những người này, tôi đã có sẵn hồ sơ và hình ảnh trong tay, và trong số ấy, nhất định không có anh.
- Tôi là nhân viên tân tuyển.
- Đừng ỡm ờ nữa, anh là người ngoài, cho dẫu bà Năm hứa trả anh một món tiền khổng lồ anh cũng không thể đổi lấy tính mạng. Đúng không anh ?
- Không đúng.
- Họ thuê anh bao nhiêu ?
- Ơ kìa, anh vừa dọa giết, giờ đây anh lại hỏi giá tiền để mua tôi.
- Vì tôi đoán chắc anh sẽ hợp tác với tôi nếu tôi trả giá cao hơn. Thế nào, họ thuê anh bao nhiêu, 5 chục ngàn đô-la ? Một trăm ngàn đô-la.
- Mới có 3 con dê-rô, còn ít quá, anh ạ. Phiền anh tăng thêm nữa.
- Trăm ngàn là 4 con dê-rô. Trăm ngàn đô-la, với số tiền này anh xài chục năm chưa hết.
- Phải, hà tiện vắt cổ chày ra nước thì xài chục năm chưa hết, khốn nỗi tôi lại biết tiêu tiền nên 4 con dê-rô chưa thấm vào đâu.
- Ừ thì 5 con dê-rô.
- 6 được không ?
- Chu choa, những 6 con dê-rô, nghĩa là cả triệu mỹ-kim... Bộ anh tưởng tôi in được đô-la hả ?
- Chuyện đó không ăn nhập đến tôi. Miễn hồ anh đừng trả của giả là được. Cô-rin không in được đô-la mà vẫn sẵn sàng thuê tôi bằng chi phiếu gồm 6 con dê-rô.
- Xạo. Đem cả sắc đẹp thân thể của Cô-rin bán đứt cho vua dầu hỏa Ả-rập cũng vị tất kiếm được bạc triệu. Tôi không có thời giờ mặc cả ngơ ngẩn với anh. Bao nhiêu ?
- Tôi cũng không có thời giờ tính toán từng đô-la.
- Khổ quá, tôi đã biểu dương thiện chí tối đa mà anh vẫn tiếp tục ngoan cố, ngoan cố một cách dại dột. Lần này là lần chót, anh muốn chết hay muốn sống?
- Theo anh thì nên chết hay nên sống ?
- Con kiến cũng thích sống huống hồ con người. Vả lại, thích chết anh đã không lẻo hánh đến Hăm-bua.
- Ha, ha... tôi đến Hăm-bua là để tìm cái chết, anh hiểu chưa. Đàn bà con gái xứ anh xấu như ma mút...
A-lanh đập mặt bàn kêu rầm một tiếng lớn, đĩa hát đang chạy bỗng nhảy ra ngoài, cái máy hát quý giá trong nháy mắt trở thành đống sắt vụn. Tôi có ý nghĩ hắn vận dụng công lực để gây cho tôi sự sợ hãi, chứ chẳng phải vì hắn nóng nẩy. Tôi bèn cười ruồi :
- Bàn tay anh cứng ghê, Đây này, anh hãy coi bàn tay tôi.
Tôi chém sống bàn tay vào hộp loa S8R. Cái loa trị giá ngàn đô-la bị chẻ làm đôi, mỗi nửa văng một nơi. A-lanh lẳng lặng quan sát tôi từ đầu xuống chân rồi nói :
- Nghĩa là anh cứng đầu, nhất định không chịu thương lượng? Được, tôi đã có cách.
Cửa phòng được mở rộng.
Bốn gã hộ pháp hồi nãy lần lượt hiện ra. A-lanh sẵng giọng ra lệnh :
- Giam nó xuống hầm.
Tôi chờ tên khổng lồ thứ nhất xán lại gần mới hoành tay, gạt hắn ngã nhào. Tên thứ hai chưa kịp tìm hiểu nếp tẻ thì tôi đã khoèo chân, hắn theo gương bạn hắn đo ván thẳng cẳng trên nền nhà. Tên thứ ba khôn ngoan hơn, rút súng lục ra khỏi vỏ, giọng chát chúa :
- Ông nội giỏi võ nhỉ ? Để rồi giao đấu với Diêm vương. Giơ tay lên !
Tôi không thèm giơ tay. Hắn ria họng súng, mặt đỏ hoét như vừa uống một két la-ve :
- Bướng hả ? Ông nội có chịu giơ tay lên hay là muốn ăn kẹo đồng 9 li vào sọ dừa ?
Tôi cười ha hả :
- Chú em đừng lộn xộn, cao cấp như trưởng ty A-lanh mà còn chưa dám mó đến lông chân của anh huổng hồ chú em chỉ là rơm rác. Khôn hồn thì cất súng vào túi rồi mời đàn anh xuống hầm.
Lối nói khinh bạc của tôi làm hắn thộn mặt. Có lẽ từ ngày bước chân vào nghề, hắn chưa gặp ai ngang ngược như tôi. Phần khác, hắn ngẩn tò te vì tôi đã đi guốc vào tim đen hắn. Cho hắn một triệu đô-la, hắn cũng không dám lảy cò. Vì A-lanh cần tôi sống để khai thác. Hắn còn dùng dằng thì tôi tiếp tục lên giọng thày đời :
- Cất súng đi, táy máy vào cò nó nổ trúng người đàn anh thì chú em ốm đòn.
A-lanh trừng mắt :
- Ai bảo mày cất súng ? Mày cất súng để nó làm thịt tất cả thì sao ? Nó là thằng tù, mày không thể tuân lệnh nó. Cứ chĩa súng bắt nó xuống hầm, nếu nó dở trò tao cho phép mày bắn. Miễn không bắn nó chết là được, kỳ dư mày được tha hồ dùng chân tay nó làm bia. Nó què chân, què cũng không sao, mày nghe rõ chưa ?
- Thưa ông, nghe rõ.
A-lanh khệnh khạng quay đi chỗ khác. Gã trưởng ty Phản gián cố tình nện gót giày mạnh để khiêu khích tôi. Bốn tên thuộc viên hắn đã rút súng lăm lăm. Tuy nhiên, không tên nào dám tới gần tôi, trận đòn chớp nhoáng vừa xảy ra đã làm chúng tởn.
Ra đến hành lang, tôi bỗng ngửi thấy mùi nước hoa thoang thoảng. Đúng là đàn bà đẹp. Vì đàn bà xấu, da mốc thếch, bồ hôi dầu khen khét có xức nước hoa một ngàn đô-la một ve cũng chẳng thơm chút nào. Tôi hít hà :
- Thơm quá, các chú !
Cả bọn lặng thinh, không đáp. Tôi nhìn quanh quất song không nhìn thấy bậc nữ lưu kiều diễm. Chắc nàng vừa đi qua, vì trong mùi thơm nước hoa còn nguyên mùi thơm da thịt và mùi tóc mới gội chải.
Tôi được dẫn qua một hành lang dài thăm thẳm. Vì không có cửa sổ nào mở nên tôi không quan sát được bên ngoài. Sau đó, tôi được ấn vào thang máy. Liếc sơ cái nút bấm bên trong thang máy, tôi biết là căn phòng A-lanh gặp tôi tọa lạc ở lầu ba. Bin-đinh này khá cao vì có nút bấm mang 9.
Nhưng sau khi thang máy đóng chặt và tụt xuống tôi đã mỉm cười. Một tên nhe răng hỏi, giọng nham nhở :
- Cười gì vậy, ông nội ?
Tôi nhún vai :
- A, cười cái ngu của các anh. Cái ngu của A-lanh.
- Không được hỗn với ông trưởng ty. Căn cứ vào đâu mà anh dám phê bình ông A-lanh ngu.
Hừ.... tòa nhà này không cao 9 tầng như được ghi trên nút bấm thang mảy. Mà là 15 tầng trở lên. Các anh đã bịt mắt tôi một cách vô ích. Thành phố Hăm-bua có hàng trăm bin-đinh, nhưng tỉm kiếm bin-đinh cao 15 tầng chẳng phải là chuyện khó.
- Tốp cái miệng lại.
- Ừ thì không nói nữa. Nhưng chú em ơi, tại sao da mặt chú em lại bỗng nhiên xanh tái, giọng chú em lại bỗng nhiên run run như vậy ?
Hắn toan cãi song bạn hắn đa vỗ vai bảo im. Cả bọn lầm lì tống tôi vào một căn phòng dưới hầm. Đường xuổng hầm phải qua một khung cửa tròn, lớn gấp đôi cửa tròn tàu ngầm từ ca-bin lên boong, ấn nút điện nó mở dựng lên nhẹ nhàng. Hầm được thiết trí gọn ghẽ và sạch sẽ, và đặc biệt là được điều hòa khí hậu.
Nói là tôi bị giam trong căn phòng nhỏ, thật ra đó là xà-lim hẳn hoi, ba phía là tường bê-tông dày kiên cố, gõ vào không nghe âm thanh cồm cộp thường lệ, còn phía ngoảnh ra hành lang là một hàng chấn song sắt, loại sắt tròn lớn bằng ngón chân cái. Hai bên hành lang, tồi đếm nhẩm cả thảy được 10 xà-lim. Tôi hy vọng A-lanh cho tôi nằm trong căn phòng có giường nệm êm lưng, có tủ lạnh đựng thức ăn tươi ngon, có vô tuyến truyền hình và nhạc FM để thỉnh thoảng vặn mở cho đỡ buồn, và nhất là có đầy đủ tiện nghi nước điện. A-lanh phải o-bế tôi để hy vọng tôi giúp đỡ. Té ra hắn nhốt tôi trong chuồng cọp ; giường chẳng thấy đâu, chỉ thấy tấm chăn dạ rách bươm như tổ đỉa nằm tênh hênh trên sàn xi-măng lạnh lẽo, dụng cụ vệ sinh cũng không có, ở góc lù lù cái thùng sắt tây tròn, cáu bẩn, méo mó vả hôi nồng nặc.
Tôi thở phào khi bị đẩy vào xà-lim. Thế là tôi vỡ mộng, A-lanh điều hòa khí hậu nhà hầm là để tù nhân khỏi bị ngạt thở, chứ thật ra hắn có thương xót gì đâu. Sài gòn là xứ chậm tiến mà xà-lim công an còn thơm hơn phòng ngủ A-lanh giành cho tôi nhiều. Tôi muốn tống cho bọn thuộc viên của A- lanh một loạt atêmi nhưrg đã quá muộn.
Cửa đóng kêu sầm.
Giờ đây tôi mới nhận thấy có một tiện nghi tân tiến trong xà-lim. Cửa xà-lim
được gắn ổ khóa tự động, xập vào là nó đóng chặt, không phải bưng xâu chìa khóa lách cách dài ngoằng và rỉ sét đến loay hoay đóng. Và ổ khóa của xà-lim cũng không được đóng mở bằng chìa đàng hoàng với những răng cưa lồi lõm. Mà là đóng mở bằng điện
Mọi cánh cửa xà-lim đều mở toác hoác. Riêng xà-lim giam tôi được đóng lại. Thì ra nút điện mở cửa xà-lim được gắn trên tường ở đầu hành lang. Hồi nãy, khi mới xuống hầm, tôi đã nhận thấy một tấm bảng lớn hình chữ nhật, lớn gần bằng bảng đen ở nhà trường. Tấm bảng được sơn đen sì, bên trên có một đống nút đỏ và trắng. Với kỹ thuật giam cầm khoa học này, tôi sẽ hết hy vọng xổ lồng.
Vả lại, tôi cũng chưa cần trốn thoát. Tôi phai ở lại xà-lim để theo dõi những màn kịch mà tôi đoán sẽ xảy ra.
Không có giường nệm tôi đành ngả lưng xuống nền xi-măng. Hồi ở bên nhà nằm trên cao-su mút thượng hạng tôi lại mắc bệnh mất ngủ, vậy mà ở đây tôi ngủ rất dễ dàng. Giấc ngủ gần sáng thường có nhiều mộng, đêm ấy, tôi có nhiều mộng đẹp, nhưng không hiểu sao tuyệt nhiên không dính dáng đến đàn bà mặc dầu Hăm-bua là thiên đường đàn bà.
Tiếng ồn ào đập xuyên nhĩ tai làm tôi bừng tỉnh. Tôi vốn thận trọng ngôn ngữ song đêm ấy tôi không ngăn nổi một câu rủa tục tằn. Bạn đọc miễn cho tôi nhắc lại vì đến nay, nhớ lại "sáng tác văn chương" của mình trong xà-lim của A-lanh, tôi vẫn sượng mặt như thể thầy giáo gạ gẫm nữ sinh trong lớp bị nhổ đầy má nước bọt.
Sở dĩ tôi buột miệng thô lỗ là vì A-lanh cố tình phá giấc ngủ của tôi. Đàn em của hắn đã truyền điện vào người tôi. Thật ra nền xi-măng xà-lim có chất dẫn điện đặc biệt, người bên ngoài bấm nút là tôi đang ngủ say như chết cũng phải chồm dậy.
Toàn thân tôi đau ê ẩm. Hồi còn nhỏ ở nhà, mẹ tôi thường không cho phép tôi nằm ngủ trên nền phòng, nói là hơi đất xông lên rất độc, nhất là trong mùa mưa. Thoạt đầu, tôi bướng không nghe nhưng đến khi tay chân mỏi rừ như thể các khớp xương bị tra tấn tôi mới biết mẹ tôi nói đúng. Ngày xưa, nằm sàn xi-măng bị ê ẩm một thì trong xà-lim của ty Phản Gián Hăm-bua, tôi bị ê ẩm mười, đến nỗi tôi nhấc cánh tay lên không được, hai chân thường ngày dẻo như kẹo kéo đã trở lên cứng nhắc và dính chặt lấy nền phòng.
Té ra A-lanh vừa tra tấn tôi. Ông Hoàng cho biết tình báo liên bang Tây Đứcmới phát minh một phương pháp tra tấn tân kỳ, không cần đánh đập nạn nhân, hoặc bắt nạn nhân nhịn đói nhịn khát, nửa đêm lôi lên phòng thẩm vấn trước ngọn đèn bật chói lòa. Phương pháp thông dụng tại Tây-phương là chích huyết thanh sự thật cho nạn nhân, cũng bị phương pháp tân kỳ này liệt vào hạng...cù lần. Vì nó còn để lại dấu vết. Nó có thể làm nạn nhân bị thương tổn thần kinh hệ. Nhiều khi nạn nhân đã được chích quen hóa chất thì nó trở thành vô ích.
Phương pháp truyền điện của Tây Bức rất giản dị, nạn nhân bị đau ê ẩm
khắp mình, nghị lực mất hẳn, sự phòng vệ của thần kinh hệ không còn nữa, sau đó người ta chỉ cần tiêm cho nạn nhân một phát thuốc bí mật là nạn nhân mở miệng nói thao thao bất tuyệt, nói hết những điều cần giấu diếm.
Tôi không sợ bị tra tấn bằng điện và thuốc chích ; Vì lẽ dễ hiểu là tôi chẳng có gì phải nói dối với A-lanh. Nếu hắn muốn, tôi sẵn sàng nói toạc vào mặt hắn. Tôi có cảm tưởng là hắn đang đòn phép. Giữa hắn và tôi, ai là phù thủy cao tay ẩn thì người ấy thắng.
Tôi đang bâng khuâng với những ý nghĩ trong óc và những khớp xương méo xẹo thì có tiếng kêu la từ xa vọng lại. Tiếng kêu la này rất quen, mới nghe tôi nhận ra liền.
- Đau quá, đau quá, đồ khốn nạn !
- Đau quá, đau quá, đồ khốn nạn !
Đó là tiếng kêu la của người đàn ông bị tra tấn ở xà-lim cuối hành lang.
Tôi đã biết nạn nhân là ai. Song tôi vẫn lặng thing, ngồi bó gối sau chấn song sắt. Nạn nhân lại liên tiếp kêu la :
- Đau quá, đau quá, chúng mày quên cả luật pháp rồi hả ? Tra tấn tao rồi chúng mày coi chừng....
- Ha ha, đã thế bọn ông nặng tay thêm nữa.
Nạn nhân không cất tiếng oang oang nữa. Có lẽ hắn bị đấm vào miệng. Tôi nghe tiếng ẳng ặc rồi tiếng khối thịt ngã vùi, không khí hầm giam chìm trong im lặng. Lát sau, tiếng giầy đế cao su kêu lệt sệt, bọn nhân viên của A-lanh tống nạn nhân vào xà-lim xế cửa xà-lim giam tôi.
Tôi chờ cho nạn nhân nghỉ ngơi một lát lại sức rồi mới gõ ngón tay tạch tè, cộp cộp vào tường cát-sô. Tôi nghe rõ tiếng nạn nhân cựa mình, song hắn không trả lời. Chắc hắn còn mệt. Hoặc giả vờ điếc. Giả vờ không nghe, không thấy, không biết là đức tính mà các điệp viên cần tập luyện áp dụng mỗi khi bị sa vào tay địch.
Tôi lại gõ ngón tay. Hắn vẫn tiếp tục điếc. Tôi bèn cáu tiết, ghé miệng sát cửa :
- Điếc hả, ông già ?
Hắn vẫn tiếp tục điếc. Tuy nhiên, hơi thở rồn rập của hắn lọt vào tai tôi rõ mồn một. Hắn cũng đang dựa sát tường xà-lim tập trung thần kinh để nghe ngóng động tĩnh như tôi.
Tôi lặp lại :
- Ông già, tôi đây mà...
Hắn bắt đầu mở miệng, nhưng giọng hắn lí nha lí nhí như ngậm hột thị :
- Ai đó ?
Tôi đáp :
- Bạn.
- Bị nhốt trong này thì bạn với nhau là chuyện dĩ nhiên. Nhưng tôi chưa được hân hạnh gặp anh ngoài
đời. Tên anh là gì ?
- Ông già ơi ?
- Chết tôi rồi. Tưởng ai té ra là anh.
Rồi hắn thở dài sườn sượt :
- Tôi đã cảnh cáo năm lần bảy lượt mà anh khăng khăng một mực không nghe. Kết quả của thái độ bất cẩn ngu xuẩn này là...
- Ông bị tóm ?
- Phải, tôi đã bị bắt một cách phi lý.
- Còn phi lý gì nữa ?
- Yêu cầu anh ngậm miệng. Cái máy hát bô bô của anh đã làm tôi liên lụy. Giá anh kín đáo chút nữa thì tôi đâu đến nỗi.
- Xin lỗi ông già, tôi không ngờ là bọn chó chết lại rình rập ngoài hành lang.
- Không những thế, chúng còn chực sẵn trong thang máy nữa. Anh vừa ra khỏi là chúng ập vào.
- Rồi bắt ông đi.
- Hứ, nếu chúng chỉ đến để tán gẫu hoặc nhờ tôi kiếm gái tơ thì tôi đã không gặp anh tại đây.
- Bắt về tội gì ?
- Thiếu gì tội. Thằng A-lanh khét tiếng về thủ đoạn lươn lẹo. Hắn bịa ra tội nào mà chẳng được. Mỗi lần thấy mặt hắn tôi phát lợm mửa.
- Ông quen hắn ?
- Còn hơn là quen nữa kia. Hắn cũng chẳng lạ gì tôi. Từ lâu hắn đã biết tôi có hai nghề, Nghề làm ma-cô cho phụ nữ ban ngày, và chập tối. Và nghề "hộp thư" cho ông Hoàng ban đêm.
- Vách tường có tai, ông già...
- Dĩ nhiên, anh và tôi trò truyện với nhau, nhân viên của hắn đã ghé tai nghe trộm từ nãy đến giờ, vả lại, tôi cũng mong hắn nghe trộm để lát nữa dễ cư xử. Chẳng qua là lỗi tại anh, nếu anh không vác mặt đến trụ sở của tôi một cách
ngây thơ như con gái còn trinh thì hắn đã không phăng ra...
-Hắn đã phăng ra ông làm "hộp thư" cho Sài gòn..
- Ồ, đó là chuyện xưa. Không riêng tôi, hầu hết "hộp thư" của tình báo tây phương ở Hăm-bua đều bị A-lanh biết rõ ngọn ngành. Hắn cbỉ biết để bụng, chứ không phá, vì như anh đã hiểu, nếu hắn dở ngón lưu manh thì các "hộp thư" của Tây Đức ở Sài gòn cũng sẽ bị ông Hoàng phá... có đi, có lại, phải không anh ?
- Vậy thì sợ gì, hắn chơi xỏ anh, mai kia về Sài gòn tôi sẽ tìm cách chơi xỏ lại hắn.
- Không được đâu. Vì hắn đã nắm được tẩy tôi.
- Nắm được tẩy ?
- Phải. Chẳng giấu gì anh, lương ông Hoàng trả cũng khá, nhưng tôi phải cái tật ham đánh bạc, nên..
- Làm bậy ?
- Cũng gần như vậy. Tôi dính líu với bọn cung cấp ma túy cho các hộp đêm ở Hăm-bua.
- Ái chà, ông để tiền ở đâu cho hết ?
- Nướng vào sòng bạc nên kiếm tiền thật nhiều cũng như không. Thằng A-lanh bắt tôi đặt điều kiện với anh. Anh từ chối thì hắn sẽ tống tôi vào khám, ra tòa sơ sơ tôi cũng lãnh chục năm khổ sai. Tôi đã lớn tuồi lại ốm o so bại, chỉ ngồi tù một vài năm cũng mất mạng, huống hồ lại làm tù khổ sai ở miền Bắc lạnh buốt xương...
- Điều kiện ra sao ?
- Tôi chưa rõ. Hắn chỉ mới nói có thế, tôi chưa kịp há miệng hỏi thì hắn ra lệnh cho bọn đàn em dẫn tôi xuống đây.
- Bọn đàn em tra tấn ông đau lắm phải không?
- Tra tấn hả ? Tôi bị tra tấn hả ? Ai nói với anh là tôi bị bọn đàn em của hắn tra tấn ?
- Ông kêu la muốn xụp hầm, người mang bệnh điếc lòi điếc đặc cũng nghe thấy tiếng nữa là....
- Tôi kêu la muốn xụp hầm hồi nào ?
Lão giám đốc du lịch vươn cổ và nhìn tôi qua song sắt bằng cặp mắt sửng sốt. Sửng sốt thật sự không phải giả vờ. Tôi cũng sửng sốt không kém hắn. Tôi vốn thính tai, một tiếng động nhẹ như ngòi bút chạy trên giấy cũng nghe rõ, lại có khả năng phân biệt và nhớ lâu, âm thanh nào đã lọt vào tai là hàng chục năm sau tôi cũng không quên. Hồi nãy, lão già giám đốc đã kêu oang oang nhiều lần " đau quá, đau quá, đồ khốn nạn... "
Tôi đáp :
- Cách đây 15 phút.
Im lặng một lát. Rồi tiếng lão già ma-cô ong ỏng :
-Lạ quá, đồng hồ tay tôi vẫn chạy, và từ mấy chục năm nay nó chỉ giờ, chỉ phút rất đúng, tôi lại vừa mang đi lau dầu chu đáo. Trước khi bị nhốt vào xà-lim này, tôi đã coi giờ đàng hoàng. Nghĩa là tôi mới có mặt tại đây được 10 phút.
- Trước đó, ông ở đâu ?
- Trong phòng ráp phim và thâu âm.
- Cua ty Phản Gián.
- Ty Phản Gián nào ? Đấy !à phim trường.
- Phim trường quay phim xi-nê ấy à ?
- Thưa ông nhà quê, vâng. Chẳng lẽ phim trường được dựng nên để ngắm cho sướng mắt. Vâng, đây là phim trường của A-lanh. Cơ sở làm ăn này không liên quan đến ty Phản Gián.
- Ông đã đến đây lần nào chưa ?
- Nhiều lần. Nhắm mắt lại, tôi có thể đi qua các phòng không đụng đồ đạc và máy móc. Chẳng giấu gì anh, hầu hết những tài tử đóng phim do A-lanh sản xuất đều do văn phòng du lịch của tôi cung cấp. Vì vậy, tôi mới nói là tôi với hắn không lạ gì nhau. Và cũng vì vậy tôi mới ngạc nhiên khi nghe anh hỏi về vụ tra tấn. ChoA-lanh ăn kẹo, hắn cũng không dám sai đàn em mó vào thân thể tôi. Hắn cỏ thể phịa tội, lôi tôi ra tòa, phết cho mấy năm tù đập đá thì được, chứ bố bảo hắn...
Tôi ngắt lời lão già ma-cô. Câu chuyện mỗi lúc một thêm lý thú. Phim trinh thám cũng vị tất sôi nổi bằng những tình tiết vừa xảy ra trong hầm giam của "phim trường". Sở dĩ tôi không cho hắn nói hết câu vì ruột gan tôi bỗng sôi sùng sục như bị ngâm trong vạc dầu lửa đỏ. Tôi muốn biết tại sao A-lanh là ty trưởng Phản Gián Hăm-bua, kình địch nguy hiểm của phó giám đốc phụ trách Hải ngoại Cô-rin, lại có phim trường? Phải chăng hắn kiêm luôn nghề sản xuất và đạo diễn màn bạc ?
- A-lanh quay phim gì mà lấy tài tử của ông ?
- Ồ, dễ hiểu như vậy mà anh cũng băn khoăn... Tôi là kho hàng cung cấp thịt tươi cho đàn ông, và đàn bà khỏe mạnh, giầu có. Nếu A-lanh sản xuất phim ảnh cừ khôi để chiếu trong các rạp lớn trên thế giới, hắn đã nhờ đến những Sô-phia Lô-ren, Bi-gít Bạt-đô, chẳng phải cầu cạnh đến tôi.
- Hắn quay phim con heo ?
- Đích thị. Hắn là nhà sản xuất phim con heo lớn nhất Hăm-bua. Chiếu trong nước xong, hắn còn xuất cảng nữa. Mỗi năm hắn kiếm được cả chục triệu đô-Ia tiền lời, anh sợ chưa ?
Thiếu niên 15, 16 tuổi còn không sợ phim con heo, huống hồ tôi. Không biết ai đặt ra danh từ "phim con heo" trong Việt ngữ, có lẽ để miêu tả sự khiêu động con heo lòng, nếu tôi biết tôi sẽ làm thỉnh nguyện thư trình lên chính phủ xin gắn mề-đay. Vì danh từ "phim con heo" rất xác đáng. Nghệ thuật lôi cuốn dục tình đã đươcj tinh vi hóa, những người chưa hề rung cảm trước đàn bà cũng phải rung cảm ầm ầm khi được xem phim con heo, những phim đen trắng hoặc màu, chiếu trên màn ảnh nhỏ, hoặc màn ảnh đại vĩ tuyến, chiếu lén lút trong căn phòng trọ tiêu điều hoặc trong rạp hát sang trọng gắn máy điều hòa khí hậu. Trong những năm gần đây, kỹ nghệ làm phim con heo đã tiến bộ vượt bực, và lan rộng khắp nơi trên thế giới. Sài gòn cũng có phim trường có hãng phim hẳn hòi (dĩ nhiên hẳn hòi ở đây không có nghĩa là có tên chủ nhân, có nộp môn bài cho Nhà Nước, nhưng là có địa chỉ đàng hoàng...) nhưng nếu so sánh với Đông Kinh thì mới một vực một trời. Đông kinh so sánh với Hăm-bua còn kém xa lăng lắc. Vì Hăm-bua là anh cả trong làng sản xuất phim con heo quốc tế.
Các sở điệp báo ngày nay từ đông sang tây phải tiêu tiền như nước nên cũng phải tìm cách kiếm tiền như nước. Phương pháp làm giàu nhanh chóng và ngon lành nhất là buôn lậu. Buôn thuốc phiện lậu, buôn súng lậu, buôn đủ thứ hàng lậu.
Gần đây, họ chuyển sang nghề làm phim ảnh khích gợi dục tình, ông Hoàng là vị tổng giám đốc mật vụ có lương tâm và đạo đức vào bậc nhất nhì trên thế giới, song lương tâm con người và đạo đức của nhà lãnh đạo vẫn không ngăn cấm ông bí mật điều khiển một số cơ sở kinh tài quái gở. Tôi xin thú nhân với bạn đọc rằng ông Hoàng cũng làm chủ một hãng phim... con heo, song không chiếu ở trong nước (điều này tôi xin bảo đảm trăm phần trăm) mà chỉ được giành cho xuất cảng, và phim ảnh do ông sản xuất đang phải cạnh tranh đổ bồ hôi hột với phim ảnh của Trung ương Cục (Bắc Việt) và Quốc tế Tình báo Sở (Hoa lục).
Làm phim con heo là một trong các đòn phép làm ăn của giới điệp báo cho nên tôi không ngạc nhiên khi nghe lão già ma-cô đả động đến nghe tay trái của A-lanh. Điều làm tôi ngạc nhiên là tại sao A-lanh kiếm tiền quá dễ dàng như vậy mà còn phải làm tay sai cho địch để lấy tiền ?
Thoạt tiên, tôi tưởng câu chuyện Hăm-bua chẳng có gì bí hiểm. Dần dà, tôi mới thấy nó hóc búa. Tôi đang thừ người suy nghĩ, lão giám đốc ma-cô lại đoán là tôi bị mệt nên hắn nheo nhéo :
- Anh còn đau hả? Thằng A-lanh láo thật, hắn dám cam đoan với tôi là không cho đàn em mó lông chân anh.
Tôi đáp :
- Không, tôi không đau. Đàn em của A-Ianh cũng không xử tệ với tôi. Tôi xử
tệ với chúng nó thì có.
Tôi toan nói tiếp thì một tiếng kêu lớn làm tôi ngậm miệng, vẫn giọng nói quen thuộc của lão giám đốc ma-cô hồi nãy :
- Đau quá, đau quá, đồ khốn nạn !.....
CHƯƠNG VIIITRÊN ĐƯỜNG ĐÀO TẨU
Tôi phá lên cười, lão giám đốc ma-cô cũng phá lên cười theo. Thì ra tôi không nghe lầm, tôi chỉ đoán lầm mà thôi. Quả là giọng nói của lão giám đốc nhưng là giọng nói giả tạo. Không riêng gì tình báo Tây Đức lừng danh trên thế giới về kỹ thuật điện tử, ban Chuyên Môn của ông Hoàng đã có thể giả giọng nói mọi người như thật, có lần ông Hoàng phát cho tôi nghe một cuộn băng, tôi nghe rô ràng là giọng của tôi, song tôi cố moi trong óc mà không nhớ nổi tôi đã tuyên bố nhăng nhít như vậy khi nào. Té ra đó là tiếng nói giả do ban Chuyên Môn chế tạo...
Lão giám đốc ho khẹt khẹt rồi nối :
- Mấy thằng trời đánh thánh đâm đã giả tạo giọng nói của tôi. Bọn A-lanh dọa tôi đấy, anh hiểu chưa ?
Một giọng nói lạ hoắc đã trả lời giùm tôi. Giọng nói này từ cuối hành lang vọng lại.
- Hiểu rồi.
Đó không phải là tiếng nói của người. Mà là tiếng nói của rô-bô điện tử từ loa vi-âm phát ra. Thằng người máy cao to gấp đôi người thường khệnh khạng bước qua chấn song sắt. Loại rô-bô này tôi đã gặp một lần tại Luân đôn khi tôi đến trình diện ông M. Tổng giám đốc điệp báo Anh chí lợi (1). Tôi nghe nói rô-bô Đức còn tối tân hơn rô-bô Anh một bậc, giờ đây tôi mới có dịp chứng kiến tận mắt.
Nếu tôi không lầm thì A-lanh cũng rình dịp này để khoe khoang những phát minh mới của phản gián Tây Đức. Nghĩ đến đó, tôi bỗng giật mìnhTại sao A-lanh cần khoe khoang với tôi ?
Chết rồi... Hắn cần khoe khoang những phát minh mới của phản gián Tây Đức vì hắn đã biết hết ngọn ngành về tôi. Hắn đã biết thẳng tôi không phải là cộng sự viên tầm thường của người đẹp Cô-rin. Hắn đã biết tôi là dân anh chị trong làng điệp báo năm châu. Không khéo hắn đã biết tôi là Z.28, đại diện cho ông Hoàng, cũng nên.
Tôi không cần suy luận thêm nữa. Hắn đã biết tôi là Z.28. Vì trước đó hắn đã biết tung tích của lão giám đốc ma-cô. Những câu hỏi bí hiểm chồng chất trong óc tôi đột nhiên không còn bí hiểm nữa. Tôi bắt đầu hiểu. Trong khi ấy người máy rô-bô cho miệng vào xà-lim của tôi, giọng kêu to như lệnh vỡ :
- Hiểu rồi.
Người máy cũng mặc y phục đàng hoàng. Đàng hoàng, nghĩa là cắt theo thời trang trong năm, vét- tông ba khuy lớn, may thật chật, xẻ hai miếng sau lưng, quần ống rộng, cổ sơ-mi to tướng trông như cổ áo lính thủy. Nghĩa là đàn bà có thể yêu hắn được lắm. Nếu hắn không phải là người máy thì vô khối con gái nộp đơn. Mặt hắn cũng khôi ngô ra phết, lớp cao-su bằng nhựa dẻo porotherme che kín cổ và mặt với những bộ phận mắt, mũi, miệng, tai, má, cằm cân đối, dễ bị tưởng là là mặt thật. Hắn lại đeo kiếng mát nên không ai biết được là mắt hắn bằng thủy tinh, bên trong chứa đầy tăng-di-to.
Tôi tưởng người máy mở cửa xà-lim nên tôi vận khí chờ đợi. Rô-bô điện tử có sức mạnh ghê gớm, phải dùng xe cần trục hạng nặng mới lôi đi nổi, tuy nhiên tôi hy vọng đánh được nó ngã gục bằng cách tấn công các yếu điểm ở sau lưng, nơi có nhiều đầu dây nhất.
Nhưng thằng người máy lại không ghé vào xà-lim tôi. Nó chỉ ngoảnh mặt ngó tôi qua cặp kiếng đen sì to tướng, miệng cười hềnh hệch. Chao ôi, nó cười giống người không sai một li. Dưòng như cuộn băng kim khí trong óc nó ghi âm sẵn 300 lối cười khác nhau chờ trường hợp để xử dụng. Tôi xin nhắc lại : 300 lối cười. Trong ngôn ngữ ta chỉ thấy 10 lối cười là cùng, như cười mỉm, cười hềnh hệch, cười ha hả, cười hô hố.... nhưng theo sự kiểm kê khoa học thì có hơn 300 lối cười cả thẩy. Cái cười hềnh hệch pha đầy vẻ đểu cáng của thằng người máy làm tôi điên tiết. Nếu được tự do, tôi đã nhảy lại, nện một cái phá vỡ tan bộ máy điều khiển.
Thằng rô-bô dừng trước xà-lim giam lão già ma-cô. Tôi nghe tiếng cửa sắt nhẹ nhàng mở ra. Và tiếng nói của lão giám đốc :
- Tôi lên gặp A-lanh đây. Chờ tôi một lát nhé.
Thằng người máy dậm chân ầm ầm.
- Nhanh lên, ông cụ, đừng lộn xộn.
Lão giám đốc được giải đi đường khác nên tôi không nhìn thấy. Tôi ngồi bó gối một mình trong xà-lim giữa hầm giam rộng rãi, nhẩn nha nghĩ đến thành phố
Hăm-bua đầy mộng đẹp và đàn bà đẹp.
Tôi đang lơ mơ thì có tiếng chân người. Tiếng chân người có xương có thịt chính hiệu chứ không phải là rô-bô cơ khí. Rồi đến tiếng nói nheo nhéo của lão giám đốc ma cô :
- Các chú đừng làm phách. Để tôi đi từ từ. Tôi bị đau tê thấp từ mấy tuần nay, các chú chưa biết ư ?
Tiếng đáp ;
- Chưa biết. Biết nữa thì cũng chẳng coi vào đâu. Hơn 90% đàn ông ở Hăm-bua đều mắc bệnh mỏi chân và long đầu gối. Thanh niên hai ba chục tuổi còn đau, ông già khọm khẹm chưa phải chống nạng như vậy là phước lắm đấy, còn than thơ gì nữa.
- Mày không được hỗn xược. Dầu sao tao cũng là bạn của ông ty trưởng A-lanh.
- Xin lỗi ông già nhé, chúng cháu vui miệng nên quá lời. Nghe nói ông già co cô con gái ruột ngon và ngoan tuyệt trần, ông già cho chúng cháu làm rể hờ nhá.
- Xỏ lá, đồ đểu, đồ mất dậy.
Lão già ma-cô còn tiếp tục chửi rủa nhiều nữa, song tôi không dám nhắc lại hết. Cửa xà-lim tôi bỗng mở ra. Mở bằng điện có khác, nó mở lúc nào tôi không hề biết.
Hai thuộc viên hộ pháp của A-lanh đứng án ngữ ngoài hành lang, lão giám đốc ma-cô bước vào xà-lim bắt tay tôi. Vẻ mặt hắn không lấy gì làm vui nên tôi đoán được ngay A-lanh đã nói với hắn những gì.
Tôi hơi ngạc nhiên khi thấy hắn nháy mắt ra hiệu. Nhưng chỉ một tích-tắc đồng hồ sau tôi khám phá ra ý định của hắn. Nhanh như tên bắn, tôi bước tréo sang bên, cùi tay trái của tôi thọc vào hông tên khổng lồ đang loay hoay với cái dây lưng da to bản bị trễ xuổng gần háng, vì đeo khẩu súng lục và túi đạn hơi nặng.
Tên khổng lồ này ở sau lưng tôi trong lúc ấy nên đòn "Diêm vương đoạt ấn" của tôi đã trúng đích ngon lành. Thế võ Thiếu lâm vừa kể gồm hai động tác, thoạt đầu đánh bằng cùi trỏ trái, sau đó xoay mặt đánh tạt tay phải vào yết hầu đối phương. Nhưng nạn nhân đã xiểng liểng ngay sau miếng đòn cùi trỏ và tôi khỏi cần phí sức thêm nữa vì hắn đã lăn kềnh trên sàn xi-măng. Đòn thụt hậu của tôi trúng giữa huyệt khí môn huyết uyển nằm dưới vú trái. Nó là một trong những huyệt hiểm nghèo ở thượng bộ, nhẹ thì bị trọng thương, còn nặng thì về chầu Tổ ngay tức khắc. Tôi không nỡ đánh chết nên chỉ vận dụng một phần ba kình lực. Tuy vậy hắn vẫn thở hồng hộc trước khi phải duỗi chân, duỗi tay rồi nằm thẳng đơ.
Lão giám đổc ma-cô không phải là cây sậy khẳng khiu và ốm o như tôi lầm tưởng. Quan sát kỹ thuật tung đòn của hắn, tôi là võ sĩ khó tính nhất cũng phải trầm trồ khen ngợi. Đòn hắn đánh dài mà gọn đánh chậm mà nhanh, đánh nhẹ mà nặng, luyện tập 5, 7 năm siêng năng cũng vị tất đạt được trình độ biến hóa diễm ảo như vậy. Hắn chỉ vươn nhẹ hai ngón tay là tên khổng lồ thứ bai, tên này cân nặng 80 đến 90 kí thịt chắc nịch, kêu hự một tiếng ngắn rồi ôm bụng chúi đầu vào chân tường.
Ngón atêmi độc địa của lão già giám đốc gày nhom đã chạm huyệt quải-bảng gần bọng đái. Tôi đinh ninh hắn hiền như cục đất, giá ai nhổ nước bọt vào mặt giữa đám đông hắn cũng phớt tỉnh như không, không những không giận hờn, lại còn sẵn sàng tha thứ nữa. Trông mặt mà bắt hình dong quả là sai lầm, vì đòn đánh vào dây thần kinh của huyệt quải bảng đã được các cao thủ võ lâm coi là đòn táng tận. Nghĩa là con nhà võ chỉ đem ra sử dụng trong những trường hợp bất khả kháng.
Trong trường hợp này hắn chỉ đánh nạn nhân mê man cũng đủ. Hắn lại xử dụng đòn chết, sự kiện này chứng tỏ hắn coi mạng người như cỏ rác. Hắn là đối thủ lợi hại, nếu mai kia tôi phải giao đấu với hắn, tôi vẫn có thể bị hắn làm thịt nếu không thận trọng.
Tôi vộì la lên :
- Ơ kìa, tại sao ông giết hắn ?
Lão giám đốc ma-cô suýt soa :
- Xin lỗi, tôi lỡ tay. Nhưng cũng chẳng sao !
Tôi không có thời giờ hài tội hắn nữa vì từ đầu hành lang gã rô-bô điện tử đã khệnh khạng tiến tới. Lão giám đốc nhìn thằng người máy bằng cặp mắt tỉnh bơ. Tôi vận chân khí lên cánh tay chuẩn bị phang một đòn ác liệt vào hộp điện trên lưng gã rô-bô, nhưng lão giám đốc ma-cô đã hành động trước. Hắn không tấn công hộp điện mà luồn tay dưới nách thằng người máy, giật nhẹ. Té ra dưới nách rô-bô có một đầu dây nhỏ li ti mà tôi không biết. Đầu dây này ấn thông với bộ phận điện tử chỉ huy. Gã rô-bô đang hùng hổ bỗng đứng khựng. Rồi ngã vập xuống nền nhà. Gã rô-bô nặng đến mấy trăm kí, bằng chứng là mặt hắn đập sàn xi-măng vỡ nát và lún sâu xuống gần đốt ngón tay. May phước cho tôi chưa giao đấu với thằng người máy vì với sức nặng kinh khủng và giáp trụ kiên cố như vậy, tôi bị trọng thương là cái chắc.
Những trở ngại trên đường đào tẩu vừa được loại bỏ trong chớp mắt. Thấy tôi rềnh rang, lão giám đốc giục :
- Mau lên, bọn vệ sĩ ở tầng trên sắp xuống.
Tôi co giò chạy thẳng song lão giám đốc đã khoát tay ra hiệu cho tôi trở lui.
- Không được. Lối này an toàn hơn.
Tôi theo lão giám đốc ma-cô đặt chân lên cầu thang bê-tông. Đến bậc cuối cùng, tôi hỏi hắn :
- Ông quen thuộc địa thế căn nhà này không?
Lão giám đốc ma-cô gật đầu :
- Hừ... còn quen hơn cả chồng quen vợ nữa. Nếu chạy thẳng, anh sẽ mắc kẹt trong phòng ráp phim và thu thanh, nơi đó được canh phòng cẩn mật, mình khó có hy vọng thoát hiểm. Cầu thang này dẫn lên nhà kho. Anh yên tâm, còn khuya bọn đàn em của A-lanh mới làm thịt tôi được.
- A-lanh đặt điều kiện gì với ông ?
- À, hắn bắt buộc anh phải từ giã Hăm-bua ngay lập tức.
- Chỉ có thế thôi ư ?
- Nếu chỉ có thế thì tôi đã yêu cầu anh chấp thuận gấp. Hắn nói là hai cái vé máy bay đã được mua sẵn cho anh và tôi, xe hơi cũng đã chờ sẵn đưa ra phi trường. Nhưng trước khi phi cơ cất cánh anh phải nộp hoàn cái ấy cho A-lanh.
- Cái ấy ?
- Phải, hắn chỉ nói bóng gió là "cái ấy", tôi hỏi gặng "cái ấy" là "cái gì" thì hắn đáp là tôi không được quyền biết.
- Thú thật với ông, ngay bản thân tôi cũng chưa rõ "cái ấy" mà A-lanh nhắc đển là cái gì ?
- Nó chẳng liên quan đến tôi nên tôi cũng chẳng cần hỏi anh. Tôi chỉ có bổn phận cứu anh ra khỏi cạm bẫy của thằng quỷ A-lanh, thế thôi. Ông Hoàng trả lương cho tôi khá hậu hĩ mà tôi chưa giúp được công việc nào xứng đáng, đây là cơ hội đầu tiên. Chỉ tiếc cơ hội đầu tiên này cũng là cơ hội cuối cùng, vì tôi phải bỏ nước Đức mà đi...
- Theo tôi nghi, ông vẫn có thể ở lại.
- Dĩ nhiên, nếu tôi bằng lòng ở lại trong nghĩa địa. Thằng A-lanh sẽ giết tôi về tội bội ước.
- Ông đã hứa với hắn ?
- Không những hứa, tôi còn đặt bàn tay lên tim thề lấy, thề để, hắn mới tin. Tôi mang đầu vợ tôi và mấy đứa con tôi ra thề, nghe lâm ly quá, thằng A-lanh mời bằng lòng cho tôi thảnh thơi trở xuống hầm giam để thuyết phục anh. Chứ nếu hệ thống phòng thủ điện tử chưa được khóa lại thì dù cho phi cơ dội bom xuống cũng vị tất phá vỡ được nhà hầm bê-tông cốt sắt.
- Tội nghiệp cho vợ ông và mấy đứa con của ông. Người Việt chúng tôi kiêng ghê lắm.
- Anh tưởng người phương Tây chúng tôi không kiêng hả. Cũng kiêng cữ một cây. Tỏi biết A-lanh là một cây dị đoan, tuy hắn có trái tim bằng thép nguội nhưng hắn lại tin vào lời thề thốt, tôi vươn cổ thề nếu tôi bội ước thi trời tru đất diệt vợ hiền của tôi và ba thằng con trai béo tốt của tôi. Nhưng anh ơi, anh cũng ngu như thằng A-lanh vậy, tôi làm đếch gì có vợ và có con, con vợ đầu gối tay ấp đã bỏ tôi đi với thằng khác từ thuở hàn vi, giá nó chết vì lời thề tôi thì tôi càng khoái. Về khoản con cái thì ngoại trừ con vương con vãi, còn con được khai sinh theo họ tôi thì chẳng có mống nào.
- Chà, ông khôn dóc tổ.
- Gọi tôi bằng "ông" không thân mật tí nào. Tôi lớn tuổi thật đấy nhưng không quá già như anh nghĩ đâu. Chẳng qua tôi cố tình hóa trang cho già thêm. Anh cứ dùng tiếng "anh" cho tiện.
Tôi há miệng thì lão già ma-cô giơ bàn chặn lại. Hắn thính tai thật. Từ xa vẳng lại tiếng chân người. Chúng tôi đã lên khỏi hầm. Tầng trên tối om. Đúng là nhà kho vì mùi ẩm mốc, và mùi đồ đạc để lâu ở nơi thiếu ánh sảng, xông lên.
Lão giám đốc rón rén bước lại gần cửa. Nhà kho chỉ có một cánh cửa ra vào độc nhất. Cửa được khóa bên ngoài, nhưng từ bên trong mở ra rất dễ dàng.
Tôi ló đầu qua khe cửa mở hé để quan sát bên ngoài. Tôi thấy một cái sân rộng, rộng gần bằng sân bóng tròn, đèn ống sáng hoắc, tưởng chừng đánh rớt cây kim gút cũng tìm thấy ngay. Giữa sân là một hồ tắm cẩn gạch men nhiều mầu sặc sỡ, những giãy ghế vải kê dọc theo bờ hồ tắm cũng sơn nhiều mầu sặc sỡ.
Chỉ ngó mấy cái ghế õng ẹo tôi cũng đã phát thèm. Trời gần sáng, nhảy xuống bể tắm dầm chân một lát thì tuyệt. Tôi còn thèm hơn vì hồ tắm được trang trí theo kiểu mới trong năm. Trang trí bằng cách thuê họa sĩ vẽ bằng sơn trên đáy, tùy theo sở thích của chủ nhân có thể là hình long ly quy phượng hình núi non, nhưng phần lớn là hình người đẹp khỏa thân.
Tôi không thấy rõ hình cô gái khỏa thân từ đầu xuống chân nhưng cũng rung động mãnh liệt. Họa sĩ dùng thật nhiều mầu hồng, mầu da thịt đàn bà, nên cảnh vật có vẻ dịu dàng mà hấp dẫn đặc biệt.
Một toán người đang lộp cộp bước tới.
Bọn này là nhân viên thân tín của A-Ianh, tên nào cũng to mập, bụng thon, tay chân kếch xù. Tuy vậy, không tên nào mang súng. Tôi nhận thấy hai tên đi đầu đeo dao quắm trong bao da.
Cả thẩy có 8 tên. Đối với con nhà võ thì đấu với một cũng như đấu với nhiều đối thủ, nếu thắng được một thì thắng nhiều không mấy khó khăn. Trừ khi đám đông được võ trang bằng súng hoặc khí giới sắc nhọn. Nguyên tắc căn bản mà môn võ nào cũng áp dụng để khống chế đám đông là đánh tỉa, chọn kẻ địch có nhiều khí lực nhất mà trấn áp.
Tên đầu đàn bị đánh bại thì cả bọn trở nên vô hại như rắn mất đầu.
Bọn nhân viên của A-Ianh dận giầy đế cờ-rếp nghĩa là loại đế êm ru, thông dụng của giới đi khuya về tối, nhưng vì thân thể chúng nặng quá khổ nên gây ra âm thanh lộp cộp. Lão giám đốc ma-cô kéo vạt áo tôi làm hiệu, tôi vội khép cửa nhà kho. Hắn ghé vào tai tôi, thì thầm :
- Đừng ra ngoài. Chờ bọn chúng vào đây, mình hành động tiện hơn.
Lẽ ra tôi đã hỏi chặn họng lão giám đốc "tại sao ông già lại biết trước bọn chúng vác xác vào đây", song tôi chẳng nói gì hết. Tôi lùi vào bóng tối của đống thùng gỗ mốc thếch. Chẳng biết đống thùng gỗ đồ sộ này chứa đựng gì ở trong, nhưng chắc là đồ máy móc vì xen lẫn mùi mốc meo, tôi còn ngửi được một mùi dễ chịu, mùi của gỗ đánh vẹt-ni và dây điện. Có lẽ A-lanh dùng nhà kho này để trữ máy móc và vật dụng làm phim.
Bọn nhân viên của A-lanh còn rềnh rang bên ngoài, chưa chịu vào, lão giám đốc ma-cô lại nép sát tường, miệng câm như hến, tôi không biết trò truyện với ai, đâm ra tay máy, khẽ lách mấy ngón tay vào góc một cái thùng gỗ đối diện. Thùng này được đóng kín mít, không những nắp bằng gỗ dầy, đóng đinh dài, lại còn được quấn đai sắt mỏng chung quanh nữa. Nhưng dẫu cẩn thận đến đâu cũng có một kẽ hở nhỏ, và ngón tay tôi đã luồn gọn qua kẽ hở này, nhè nhẹ tách rộng ra, rồi tiến sâu, tiến thêm nữa, tiến sâu thêm nữa cho đến khi xuyên thủng một lớp cạt-tông và ba lớp giấy dầu khá dầy.
Hơi lạnh của kim khí trong thùng truyền vào đầu ngón tay tôi. Không cần khui thùng tôi đã biết dung tích của nó. Nó không phải là dụng cụ điện ảnh như tôi đoán tưởng.
Mà là súng.
Vâng, toàn là súng tiểu liên. Tôi lách kẽ hở dài ra để ngón tay có thể thảm sát tường tận hình thù của khẩu súng. Tỏi không thể lầm lẫn, đây là tiểu liên UZI do Do Thái chế tạo. Đúng hơn, súng này do nước Do Thái phát minh, nhưng từ ít lâu nay một số quốc gia trên thế giới đã lén lút sản xuất súng UZI. Nguyên nhân : súng UZI rất nhẹ, bắn rất trúng, rất lợi hại, xử dụng lại giản dị, dễ dùng. Nó được liệt vào hạng tiểu liên đàn anh trên thế giới ; súng AK cũng nhẹ, và chính xác song sức công phá lại thua xa, súng M.16 có thể cạnh tranh với nó về phương diện lợi hại nhưng lại.. quá nặng.
Tôi vội rút bàn tay để mở một thùng khác. Thùng nào được kê ở góc, ở dưới cùng, và cách thùng trước mấy thước. Tôi làm như vậy để kiểm soát xem có phải toàn thể những thùng gỗ trong nhà kho đều chứa đựng võ khí hay không.
Tôi không đến nỗi phải thất vọng. Vì cũng như thùng thứ nhất, thùng này cũng đầy ắp súng tiểu liên UZI, còn nguyên mùi thơm dầu mỡ và mùi thơm của giấy bọc ngoài. Tại sao súng còn thơm mà nhà kho sực nức mùi mốc meo.
Tự hỏi rồi, tôi giải đáp được ngay. Kỹ nghệ quốc phòng tân tiến đã chế rạo nhiều loại thuốc pháo kỳ lạ. Chỉ cần một một lít thuốc nước là nhà kho rộng thênh thang có thể mang những mùi vị khác nhau, mùi thơm, mùi thối, mùi khai nồng, mùi khét lẹt, mùi cóc chết, mùi mốc meo... A-Ianh cho phun thuốc mốc meo cố đánh lừa những kẻ tò mò rằng đây là hàng hóa cũ mèm. Kỳ thật đây là võ khí chưa cắt chỉ, A-lanh phun thuốc mốc meo vào đống tiểu liên UZI mới toanh này làm gì ?
Tôi không có thời giờ đào bới trong óc để tìm đáp số nữa vì bọn đàn em thiêu thân đáng thương của A-lanh đã xô cửa nhà kho. Trước khi lũ lượt kéo vào cả bọn đứng lại một phút vì một tên (tên này xứng đáng với tiền lương của ty Phản gián) bật thốt lên :
- Quái lạ, cửa này luôn luôn khóa chặt lại sao bây giờ lại mở toang hoác?
Một tên khác nói :
- Mày run hả ? Run thì thôi, cho mày đứng gác cửa, để bọn tao vào cũng được.
Cả bọn phá lên cười. Tên dẫn đầu chiếu đèn bấm sáng rực. Chúng đi xuyên qua nhà kho để xuống hầm. Theo đúng nguyên tắc, lão già ma-cô phải nhắm mắt làm ngơ cho bọn chúng đi khuất. Sau đó sẽ tim cách thoát khỏi phim trường.
Nhưng lão giám đốc lại thích gây sự. Tôi nghe huỵch một tiếng lớn, tên chiếu đèn bấm bị đánh ngã vào đống thùng đựng võ khí. Tên thứ hai chưa kịp nhận định phương hướng vì nhà kho đã chìm vào cảnh tối om thì lão già ma-cô ra tay tiếp, và nạn nhân dập mặt xuống nền xi-măng cứng đét, miệng phát ra tiếng kêu ối thảm thiết.
Trong loáng mắt, hai tên mang dao quắm, và cũng là hai tên chỉ huy đã bị đo ván. Số còn lại thì chỉ là giặc cỏ không đáng đếm xỉa, Vì vậy, tôi vẫn phớt tỉnh, dựa lưng vào thùng gỗ ; tiếc là tôi không có thuốc lá Salem để phì phèo, và nhất là không có rượu huýt-ky để tu ừng ực. thưởng thức trận đấu quyền Anh khá lý thú...
Huỵch... huỵch... hai tiếng khác tiếp theo, nhũng cây thịt ngờ nghệch còn lại dựa vào nhau mà té ngã. Lão giám đốc rna-cô đánh đòn ngon lành, ngon lành đến nỗi tôi tưởng như tất cả sự việc xảy ra chỉ là một cảnh xi-nê được tập rượt đúng ngắc từng giây đồng hồ. Kể ra, võ công của hắn cũng khá cao siêu, một trái đấm có thể tống ngã hai ba tên cùng một lúc ; nhưng dầu sao tôi cũng nhận thấy bọn thuộc viên của ty trưởng Phản gián A-lanh quá bết bát..
Lão giám đốc cất tiếng gọi tôi :
- Trốn đâu rồi ?
Tôi cười đáp :
- Trốn ở đây !
Hắn gắt :
- Anh tệ thật. Nhường xương xẩu cho thằng già hom hem này. May mà tôi đã học được vài ba món nghề, chứ không đã bị xụm xương. Bây giờ chúng mình có thể tự do rút ra khỏi phim trường được rồi, chẳng còn sợ ai nữa.
- Đi lối nào ?
- Qua hồ tắm. Sau cánh cửa sắt sơn xám có con đường nhỏ ra cổng hậu. Trèo lên xe là xong.
- Xe của ai ?
- Của ty Phản gián và của xưởng phim. Ôi chào, họ thiếu gì xe Mẹt-xê-đét, cây nhà lá vườn mà lị...
Tôi ngang nhiên mở cửa ra ngoài. Tôi chẳng cần lẩn trốn nữa, vì tôi biết giờ phút này A-lanh vẫn chưa đụng đến da thịt tôi. Có chăng thì cũng lát nữa.
Nhưng đến khi ấy...
Tôi mỉm cười một mình. Đến khi ấy, người ta mới có thể biết ai là vỏ quýt dầy, và ai là móng tay nhọn.
Tôi chắt lưỡi ra vẻ thèm muốn khi bước qua hồ tắm. Nước xanh ngắt, thiết tưởng nước hồ thu trong thơ xưa cũng chỉ dám xanh ngắt đến thế là cùng. Trên đáy hồ cẩn gạch men trắng như làn da cô gái Tây phương, nổi bật hình vẽ bốc lửa một giai nhân lớn gấp 5, gấp 6 lần người thật. Giai nhân trong hình vẽ không mặc quần áo, họa sĩ thuộc trường phái hiện thực nên không rụt rè trong cách dùng màu sắc và vẽ đúng những chi tiết thiên nhiên. Làn nước dật dờ, hình vẽ vệ-nữ khỏa thân cũng dật dờ theo, đố ai ở vào hoàn cảnh giật gân này mà gân lại không giật.
Thành thật mà nói, gân tay tôi cũng giật, nhưng phần nào tôi là do giả vờ. Tôi giả vờ si mê người đẹp khỏa thân dưới hồ để có thể đứng lại quan sát địa thế phim trường. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi tôi đã chụp hết chi tiết vào trong trí nhớ.
Lão giám đốc ma-cô tưởng tôi trồng cây si với người đẹp xanh đỏ vô tri vô giác nên xấn đến, vỗ vai tôi bành bạch :
- Còn khệnh khạng gì nữa, anh bạn đa tình.
Tôi suýt soa :
- Đẹp quá, anh già nhỉ ?
Còn phải nói. Người thật, không phải người giả đâu Cô gái làm mẫu là hoa khôi Hăm-bua đấy. Riêng tiền công của họa sĩ đã hơn ngàn đô-la. Cái hồ tắm này trị giá 50 ngàn đô-la, nghĩa là bằng cả gia sản một ông nhà giầu. Nhưng thôi, chuồn ngay mới kịp.
Quả như hắn nói, đi hết hồ tắm và cái bồn trồng cỏ non cắt xén tuyệt vời, tôi đến một mái hiên bê-tông, và dưới mái hiên là cánh cửa sắt sơn xám, trên cũng vẽ hình sặc sỡ. Cũng hình đàn bà hà tiện quần áo, nhưng ở đây toàn là hình híp-py nghiện ma túy, nên bút pháp xiên vẹo, mầu sắc cũng quấn quít lấy nhau loạn xà ngầu.
Lão giám đốc tiến lên mở cửa giùm tôi, phía sau cửa là một hành lang nhỏ hai bên tường trắng chạy thẳng. Hành lang dài gần trăm mét. Lại một cánh cửa khác. Không khí lành lạnh nhưng dễ chịu ở bên ngoài ùa vào buồng phổi. Tôi đã ra đến sân sau.
Bên trái tôi thoáng thấy một đoàn xe Mẹt-xê-đét. Đoàn xe đậu ngoan ngoãn trong ga-ra lợp mái nhưng không có tường và dĩ nhiên là không có cửa. Tôi dạo qua một lượt, xe nào cũng có sẵn chìa khóa công-tắc.
Đọc tới đây chắc chắn dân chơi xe Sài gòn toát bồ hôi lạnh. Vì ở xứ "hòn ngọc Viễn đông" thần tiên này, xe hơi được khóa cửa đàng hoàng, rút chìa khóa công-tắc đàng hoàng, đôi khi còn cúp bình điện đàng hoàng nữa mà trong nháy mắt đã không cánh mà bay vụt, khổ chủ chỉ còn biết bỏ tiền đăng báo, cam kết "tôn trọng luật giang hồ"...
Tôi chọn chiếc Mẹt-xê-đét sang nhất, trèo lên. Rrrr..... động cơ nổ ròn tan, tôi lái ra cổng. Cửa cổng đồ sộ đang đóng kín bỗng mở ra nhanh như có phép quỷ thuật. Qua kiếng chếu hậu, tôi liếc nhìn về phía sau. Hồi nãy, trong khi bị bịt mắt kín, tôi đã đoán đúng. Đó là một bin-đinh gồm nhiều tầng cao ngất ngưởng được xây trên thửa đất rộng chừng hai mẫu tây. Một mét vuông đất ở khu thị dân Hăm-bua nổi tiếng là đắt, bảo là đắt như vàng cũng không ngoa, đằng này bin-đinh của A-lanh choán những hai mẫu đất, điều này chứng tỏ hắn đang ngồi xổm trên đống bạc. Hắn làm chủ hàng núi tiền, tại sao hắn lại ngửa tay lãnh tiền của "địch" ?
Bài toán hóc búa mỗi lúc một hóc búa thêm. Tuy nhiên lão giám đốc ma-cô lại phá rối, không cho tôi tập trung tư tưởng để tìm đáp số. Hắn thúc cùi trỏ vào ngực tôi :
- Lái thẳng ra bến tàu được không ?
Tôi hỏi :
- Tại sao không đến phi trường ?
- Tại đó, nhân viên của A-lanh túc trực 24 giờ trên 24 đông như kiến cỏ, chúng mình chường mặt ra là bị nhón liền. Chắc giờ phút này A-lanh đã được báo động, hắn nhấc điện thoại lên là một con chim không ra khỏi phi trường. Nhưng bến tàu rộng mênh mông, tàu lớn, tàu nhỏ đậu cả trăm, lại có hàng chục lối lên xuống, chúng mình có thể tẩu thoát dễ dàng.
- Đồng ý, chúng mình sẽ ra bến tàu. Còn anh, anh không tạt qua nhà lấy hành lý ư ?
- Muốn lắm nhưng không dám. Dụng cụ truyền tin được cất giấu ở rhột nơi kín đáo, trong văn phòng của tôi chỉ toàn là hồ sơ du lịch kiếm gái. Kể ra cũng khá uổng, sau bao năm kí ca kí cóp, thu nhặt từng tấm ảnh nhỏ, từng chi tiết cỏn con, đến khi lập được một cơ sở vững vàng, đồng ra đồng vào bắt đầu rả rích thì...
Hắn hắt ra tiếng thở dài chua chát :
- Thì phải chuồn...
Tôi chép miệng để tỏ sự ái ngại. Xe Mẹt-xê-đét vẫn chạy bon bon. Đường nhựa ở Đức tốt ghê, tôi muốn bánh xe xập xuống ổ gà thật sâu để có cơ hội thử xem loại ống nhún mới của hãng Mẹt-xê-đét có tốt như họ từng quảng cáo rùm beng hay không, nhưng tôi lái cả chục cây số mà đệm vẫn êm như đang ngồi trên ghế xa-lông của phu nhân Tổng thống Mỹ trong tòa Bạch Cung.
Tôi ngoảnh lại và bắt gặp tia mắt sáng rực của hắn. Tôi hỏi :
- Bị theo hả ?......
Hắn lắc đầu :
- Không. Còn khuya bọn nhãi của A-lanh mới biết nổi !
Số xe ? Cảnh sát công lộ nhận ra số xe thì nguy !
- Ha..Ha.. xe Mẹt-xê-đét ở Hăm-bua cũng như xe xích-lô đạp ở Hồng-kông, thánh sống cũng không thể tìm ra huống hồ bọn cảnh sát lười biếng quen nhậu la-ve và chơi gái. Vả lại, tôi đã đổi số xe từ nãy.
Đổi số xe ? Lời nói của lão giám đốc làm tôi ngạc nhiên. Đổi bảng số xe
đâu phải là chuyện dễ, ít ra hắn phải tháo đinh-vít, và thay bảng mới. Hì hà hì hục 5 đến 10 phút chưa chắc đã xong, đằng này tôi không hề thấy hắn mở bảng số, và hắn cũng không cầm trong tay bảng số nữa. Trừ phi....
Trừ phi xe hơi được gắn trên táp-lô một dụng cụ điện tử mà giới điệp báo quốc tế gọi lóng là "múa quạt". Dụng cụ này gồm hai cái nút nhỏ có chất từ thạch, hễ đặt gần kim khí là dính chặt nên có thể gắn vào bất cứ chỗ nào trong xe hơi, bấm nút trắng thì bảng số ở phía trước và phía sau xe lật ngược ; bấm nút đen thì bảng số vẫn y nguyên nhưng một làn khói nhiều màu tỏa rộng, và trong nháy mắt gây ra tác động đặc biệt thay đổi các con số. Thật ra, các con số không hề thay đổi, chẳng qua làn khói này làm quáng mắt.
Như thường lệ, Tây Đức là quốc gia đàn anh về kỹ thuật tân tiến nên phần lớn những phát minh kỳ lạ đều xuất xứ từ Tây Đức. Dụng cụ "múa quạt" được chế tạo một cách giản dị, tuy nhiên giới bác học đã mất khá nhiều kinh phi và thời giờ,và nó đã giúp một phần đắc lực vào việc bảo toàn hoạt động của nhân viên điệp báo.
Lão giám đốc nhe răng cười "cầu tài" với tôi :
- Tôi vừa bấm nút máy "múa quạt". Tháng trước, tôi đã gửi về Sài-gòn mội cái làm mẫu để ông Hoàng chế tạo. Anh đã có dịp dùng chưa ?
Dĩ nhiên là chưa vì lâu lắm tôi không hoạt động ở nhà. Chuyến vừa rồi, tôi ở Sài gòn khá lâu nhưng lại mang bệnh mất ngủ nên chẳng làm gì hết. Tôi chỉ nghe mang máng ông Hoàng dặn Nguyên Hương trình ông họa đồ của máy "múa quạt". Từ lâu Sở Mật vụ của ông Hoàng đã nghiên cứu phương pháp thay đổi bảng số xe nhanh chóng, song chưa phương pháp nào sánh ngang dụng cụ "múa quạt" của ty Phản gián Liên bang Tây Đức.
Tôi vòng xe quanh một công trường rộng mênh mông rồi quẹo bên phải, tay lái ôm cua thật sát, tốc độ 90 cây số-giờ, khiến cho lốp xe nghiến trên mặt đường nhựa kêu rèn rẹt ghê răng.
Lão giám đốc la oai oái :
- Ra bến tầu sao lại quẹo ngả này ?
Tôi nhún vai :
- Xin lỗi anh một phút. Tôi rẽ vào đây trông chốc lát để lấy đồ.
- Quần áo, va-li thì cần gì? Tôi có sẵn chiếc du thuyền dưới bến, trong đó có đầy đủ quần áo, anh đừng lo mặc không vừa, vì quần áo của tôi gồm đủ kiểu, đủ cỡ, và đủ mầu. Nếu chúng mình lần khần, bọn đàn em của A-lanh sẽ tìm thấy. Tôi đề nghị anh chạy thẳng ra bến.
- Không được đâu. Vì...
- Vì công việc quan trọng hả ?
Tôi trả lời bằng cái chắt lưỡi. Thái độ im lặng một phần của tôi làm hắn cau mặt. Nhưng sau đó hắn tươi lại ngay. Hắn xoa bàn tay.
- Thôi cũng được. Còn xa không ?
- Không xa mấy. Trong 5 phút nữa sẽ đến nơi.
Nếu có người Việt nào (nhất là phụ nữ Việt đẹp tuyệt vời) ngồi ở băng sau xem tôi lái xe tất phải vô cùng khâm phục. Khâm phục vì tôi mới đến Hăm-bua mà quen thuộc đường phố như thể quen thuộc đường phố Sài-gòn. Tôi lái vèo vèo, không thèm nhìn bảng tên đường, cũng không thỉnh thoảng bớt giảm tốc độ để kiểm điểm lại lộ trình.
Nhưng sự thật lại không thơ mộng như vậy. Sở dĩ tôi lái vèo vèo là vì trong thâm tâm tôi không định đi đâu, hễ nơi nào có đường thẳng là phóng bạt mạng, nơi nào có khúc quẹo là bẻ hết vô-lăng. Tôi trả lời lão giám đốc ma-cô là "trong 5 phút nữa sẽ đến nơi " nhưng nếu chạy cả đêm cũng chẳng bao giờ đến nơi. Tôi lái lòng dòng là để tìm một địa điểm tốt.
Trước mặt tôi, đèn nê-ông bỗng sáng rực như ban ngày. Té ra tôi vừa tạt qua một xóm ăn chơi. Hình một cô gái phục sức diêm dúa nổi bật trong đêm. Khuôn mặt và đường cong trên thân thể được làm toàn bằng đèn ống mầu hồng. Kỹ thuật kết đèn đã lên tới trình dộ cao siêu vì tuy biết là giả trăm phần trăm, người nhìn thấy vẫn có ấn tượng là thật, và máu trong huyết quản bỗng sôi lên.
Thành phố Hăm-bua ban đêm có rất nhiều bảng hiệu nê-ông uốn thành hình mỹ nhân. Bảng hiệu đẹp nhất là của nhà hàng Keese, tọa lạc trên một con đường sầm uất, có nhiều ổ nhền nhện nhất. Tôi thích tiệm Keese vì ở đó bầu không khí dễ thở hơn, mặc dầu đàn ông đàn bà đến tìm thú vui.
Nhưng trong sự trao đổi xác thịt vẫn có mùi vị tài tử. Ở một thị trấn dạ lạc thì kiếm tình yêu... tài tử cũng khó như kiếm phụ nữ răng trắng không ăn trầu cách đây nửa thẽ kỷ ỏ Miền Bắc, giữa triều đại cực thịnh của răng đen nhai trầu bỏm bẻm. Đàn ông cô đơn đến hộp đêm Keese để kiếm đàn bà cô đơn là chuyện dĩ nhiên, không cần ở Keese, mà ở bất cứ hộp đêm nào, bất cứ thủ phủ nào đều cũng có nhan nhản.
Song lẽ tôi đâ lê mòn gót giầy trên năm đại châu mà thỉnh thoảng mới được gặp một thiên đường nam giới như hộp đêm Keese.
Vì, thưa các bạn, đặc điểm của hộp đêm này là gái tìm trai, đàn bà gạ gẫm đàn ông.
Sàn nhảy bóng có thể soi thấy cả sợi tóc bạc vì đèn thắp sáng choang ; bàn ghế được kê sát tường trong những ngăn riêng, mỗi ngăn đủ chỗ cho từ 6 đến 8 người ngồi. Từ 9 giờ đêm trở đi, hộp đêm đông như hội với những cô gái đến tìm con trai, và những cậu con trai mong được con gái lôi đi. Lối gạ gẫm của phụ nữ rất giản dị, người đẹp chỉ cần tiến lại, đập nhẹ vào vai, và chàng trai nào được người đẹp lựa chọn không được quyền từ chối... nhảy một bài. Và sau khi khiêu vũ là choàng vai, bá cổ đưa nhau...đi tìm tổ ấm.
Cô gái bằng đèn nê-ông bắt tôi nhớ lại hộp đêm Kesse và bắt tôi rút bàn chân
ra khỏi bàn đạp ga-lăng Chiẽc Mẹt-xê-đét lộng lẫy chạy chậm, lão giám đốc ma-cô hỏi:
- Anh xuống đây hả ?
Tôi gật bừa vì xe hơi đã chạy ra khỏi vùng sáng và đang lăn từ từ vào vùng tối. Bên tay phải, sừng sững một tòa cao ốc đang xây cất dở, bên ngoài che chắn kín mít, cửa cũng đóng kín mít. Ngoài ngọn đèn vàng treo lủng lẳng dưới khung cửa ra thì không còn ánh sáng soi mói nào nữa.
- Lão giám đốc lại hỏi :
- Đến nơi chưa ? Nhanh lên. Đến nơi chưa?
Hắn đã thúc giục tôi vô ích. Vì không cần được hắn nhắc nhở, tôi đã thắng lại. Xe Mẹt-xê-đét nổi tiếng trên thế giới về bộ phận thắng đĩa. Tôi vừa đạp nhẹ, bốn bánh đã cắn sát mặt đường, gần hai tấn kim khí nặng nề dừng lại một cách thật ngon lành và êm ái. Và trước khi xe hơi dừng lại, tôi đã xử dụng nghề mọn triệt hạ lão giám đốc ma-cô một cách cũng thật ngon lành và êm ái. Thật ra, nếu hắn có một ly ngờ vực trong lòng hắn đã giữ miếng và tôi phải nặng tay lắm mời ru được hắn ngủ. Tôi đã đóng kịch với hắn từ đầu đến cuối. Hồi ở nhà, Nguyên Hương thường chê tôi đóng kịch vụng về. Nếu nàng có mặt ở đây, nàng phải phục sát đất.
Cạnh bàn tay tôi chém xuống trũng gáy của lão giám đốc ma-cô. Tôi canh đòn vừa vặn, không làm hắn trọng thương, mà chỉ đánh ngất. Thân thể gầy nhom của hắn trở thành mềm nhũn, tôi xốc hắn lên vai, kéo tấm tôn che cửa rộng ra để chui vào.
Trong tòa nhà rộng mênh mông khi ấy chỉ có mỗi mình tôi. Và lão giám đốc ma-cô đang tòng teng bất tỉnh trên vai tôi. Tôi trèo cầu thang lên lầu. Nhờ ánh đèn đường chiếu sáng, tôi không vấp váp. Lầu nhất đã được xây cất xong, tường đã quét vôi lắp cửa, thậm chí các phòng cũng gắn điện đàng hoàng. Tôi khép các cửa sổ nhìn xuống đường — con đường vắng tanh, nửa tối nửa sáng, thỉnh thoảng mới thấy một bóng xe hơi chạy vụt qua như bị ma đuổi
xuống đường — con đương vắng tanh, nửa tổ sảng, thỉnh thoảng mới thấy bóng xe hơi chạy qua như bị ma đuổi — rồi ung dung đặt lão giám đốc ma-cô xuống nền phòng, dựa lưng vào tường. Tôi vận chân khí lên ngón tay, điểm huyệt cho hắn tỉnh dậy.
Hắn mở mắt thao láo nhìn chung quanh. Khi thấy tôi, hắn run bắn châu thân như thể hắn là tử tội mà tòi là đao phủ thủ đang giải hắn lên máy chém.
Tuy vậy, hắn vẫn còn đủ minh mẫn và nhanh nhẹn luồn bàn tay vào trong áo.
Tôi lạnh lùng gạt tay hắn và nói :
- Đừng giở trò khỉ nữa, ông cụ..........
--------------------------------
1 | Xin đọc "Bắc Kinh, 72 giờ nghẹt thở" đã xuất bản |
CHƯƠNG IXTRÒ KHỈ
Danh từ "trò khỉ" này không có gì là quá đáng Trên thực tế, hắn đã biểu diễn trò khỉ với tôi (cũng như với ông Hoàng). Hắn đinh ninh ông Hoàng ngây thơ khôrg biết. Hắn không thể ngờ là ông Hoàng đã biết. Biết hết ngọn nguồn. Biết mà vẫn dùng hắn làm tai mắt của Sở tại cảng Hăm-bua. Ông yêu cầu tôi đến Hăm-bua là để tìm cơ hội thử lại đáp số bài toán.
Cô-rin, bà Năm, A-lanh và lão giám đốc ma-cô vô tình gián tiếp giúp tôi thành công.
Tôi xách tai hắn như thày giáo già xách tai thằng học trò lớp tiểu học ngỗ nghịch :
- Đã biết tội chưa ?
Hắn dụi mắt ngơ ngác :
- Tội gì ?
- Tội bép xép.
- Đôi khi muốn giữ mạng sống, người ta phải bép xép. Bép xép là điều cấm kị trong nghề điệp báo, nhưng đôi khi lại được coi là cần thiết. Hom hem, bệnh hoạn như tôi mà khư khư ngậm miệng thì chết uổng...Xin anh thông cảm cho hoàn cảnh khó khăn của tôi. Dầu sao tôi cũng là công dân Đức, các cơ quan an ninh có thể bỏ tù tôi rục xương nếu...
- Nghĩa là anh đã thú nhận...?
- Vâng, trong một phút đồng hồ mềm yếu sợ bị A-lanh tra tấn, tôi đã dại dột lỡ miệng.
- Hừ, anh giấu đầu hở đuôi một cách quá vụng về. Cách đây nửa giờ anh khoe khoang là bồ với A-lanh, và hắn không dám tra tấn anh. Nhưng thôi, tôi cứ tạm cho là anh dại dội lỡ miệng vậy. Anh đã dại dột lỡ miệng những gì với trưởng ty Phản gián A-lanh?
Nghe tôi hỏi, lão giám đốc ma-cô nuốt nước bọt, ngồi trơ trơ như phỗng đá.
Tôi thản nhiên lấy thuốc lá hút. Tôi không muốn vội vàng vì lão giám đốc ma-cô là người lớn tuổi, phải giành cho hắn đầy đủ thời giờ suy nghĩ. Hắn đã trưởng thành sau ngày Hít-le nắm quyền ở nước Đức, bành trướng thế lực của đảng Quốc Xã. Hắn đã hoạt động đắc lực trong hàng ngũ Quốc xã trong thế chiến thứ hai. Chế độ độc tài xụp đổ, hắn vẫn không bị liên lụy, sự kiện này chứng tỏ hắn khéo xoay sở. Nói đúng ra, chẳng riêng mình hắn có tài xoay sở, tướng Ghê-len, hỗn danh là "ông tướng không mặt" một cây tình báo xanh rờn của Đức dưới thời Hít-le, đã được Hoa kỳ và chính phủ Đức thời hậu chiến trọng dụng.
Ông Hoàng không lạ gì quá khứ của hắn. Ông cũng không lạ gì một trong các nguyên tắc cơ bản nghề gián diệp : nguyên tắc bảo vệ mạng sống bằng những hoạt động nhị trùng. Nhưng ông vẫn cứ dùng hắn. Vì ông nghĩ rằng dùng hắn lợi hơn dùng người khác. Hắn đòi ít tiền hơn. Hắn lại tháo vát và giàu kinh nghiệm hơn bọn thanh niên mới tốt nghiệp.
Và đặc biệt là hắn không thể phản bội Sở Mật vụ để chạy theo các cơ quan điệp báo sau bức màn sắt một cách dễ dàng.
Sau khi bị tôi đánh ngất và mang vào trong tòa nhà đang xây cất dở, hắn đang còn hy vọng là tôi chỉ mới ngờ vực. Nhưng sau khi tôi nêu ra những câu hỏi hóc búa, và sau khi theo dõi nét mặt của tôi, hắn biết là Sở Mật vụ của ông Hoàng không hề bị hắn cho vào xiếc như hắn đã tưởng lầm.
Hắn đành mở đầu cuộc thú tội bằng một tiếng thở dài dứt ruột :
- Anh tha lỗi cho tôi. Hầu hết những nhân viên tình báo Đức từng làm việc ngày xưa với Sở A-3 đều ở vào hoàn cảnh như tôi. Vâng, tôi thú nhận là có hoạt động nhị trùng. Trước khi làm việc cho ông Hoàng, tôi đã làm việc cho Phản gián Đức. Cũng như trước khi làm việc cho Phản gián Đức, tôi đã làm việc cho A-3 và cho nhiều tổ chức điệp báo khác nữa. Anh cần hỏi những gì, xin anh cho biết ? Tôi xin trả lời một cách thành thật...
Tôi cắm điếu thuốc mới đốt vào miệng hắn giọng ấm áp :
- Hút đi. Hút đi rồi chúng mình nói chuyện.
Qua làn khói xanh nhẹ, tôi thấy rõ mặt hắn đang chăm chú nhìn tôi. Hắn hóa trang thât khéo, phải quan sát kỹ lưỡng mới khám phá ra những lớp phấn hóa học ở trán, cổ, đuôi mắt và mép, cố tạo ra nhiều nếp răn cho già thêm. Hắn chỉ độ 50 là cùng, nếu tôi căn cứ vào tia sáng của cặp mắt. Nhưng nếu lấy nụ cười khinh bạc của hắn làm chuẩn thì tuổi hắn chỉ trên 40. Còn nếu đoán tuổi hắn bằng nếp răn, bằng tóc bạc, và dáng đi lọm khọm thì hắn phải thuộc vào đẳng cấp lục tuần trở lên.
Khuôn mặt hắn không có đặc điểm nào đáng nhớ mắt, mũi, miệng đều giống mọi người, nghĩa là hắn rất thích hợp với nghề chiến sĩ bóng tối "vô danh". Phảng phất hắn còn có những nét hiền lành của một ông thầy thuốc già tận tâm với con bệnh. Cho nên ai gặp hắn lần đầu cũng chan chứa cảm tình.
Thỉnh thoảng miệng hắn mím lại, cánh mũi hơi nở tròn, và nhất là cặp mắt
phát ra hai luồng sáng tinh anh người ta mới biết hắn là con nhà võ, am tường phép vận công và những thế đánh cực hiểm.
Tôi được ông Hoàng kêu vào văn phòng trước giờ tôi lên phi trường Tân sơn nhất để dặn dò như thường lệ mỗi lần xuất ngoại công tác hoặc du hí.
Tiền quỹ của Sở mỗi ngày một thiếu hụt nên ông Hoàng không thể cho phép tôi xài hàng ngàn đô-la ở Hăm-bua, cho dẫu là tôi cần du hí ở đó để chữa bệnh mất ngủ.
Bởi vậy, ông Hoàng thường nghĩ đến "một công, đôi ba việc", tôi xuất ngoại du hí nhưng cũng phải phục vụ cho Sở.
Một trong những việc tôi có bổn phận giải quyết là lão giám đốc ma-cô.
Ngày xửa, ngày xưa, hắn là nhân viên SD. (1) của Đức quốc xã. Hồi đó, nước Đức có ba cơ quan mật vụ cả thảy. Người la thường lầm lẫn là trong số 3 cơ quan mật vụ này Gestapo là tổ chức khát máu và rùng rợn nhất, có lẽ vì Gestapo đã tra tấn và giết hại khá nhiều người trong các quốc gia bị chiếm đóng trong thế chiến thứ hai. Thật ra, tổ chức rùng rợn nhất là SD. được thành lập trước thế chiến, độ 6,7 năm gì đó, thoạt đầu chỉ chuyên về công việc lập hồ sơ về các đảng viên Quốc Xã, sau dó, nó nghiễm nhiên biến thành cơ quan điệp báo.
A-3 là một bộ phận tối mật nằm trong trung ương SD. Ngoài mặt, nó chỉ điều tra, thiết lập hồ sơ đảng viên Quốc xã nhưng bên trong nó còn nhiều trách vụ quan trọng khác. Phải là đảng viên Quốc xã tin cậy mới lọt được vào bên trong. Và phải có quan thày hạng nặng nâng đỡ mới nhảy được lên ghế trưởng phòng A-3 như lão giám đốc ma-cô.
Ngày xửa, ngày xưa hắn là trưởng phòng A-3 có quyền tiền trảm hậu tấu. Hít-le chưa tự vận dưới hầm bê-tông của thủ đô Bá Linh tàn phá, hắn đã đánh hơi thấy sự thảm bại và nhanh chân chạy tọt sang Thụy sĩ, đầu quân cho tình báo Mỹ.
Một thời gian dài sau ngày chiến tranh chấm dứt, Đức quốc được sống trong bầu không khí dân chủ chánh trị và thịnh vượng, hắn mới lặng lẽ trở về Đức, rồi cũng như 7.000 cựu nhân viên mật vụ ác ôn Quốc xã khác (2), hắn lập nghiệp tại Liên bang Tây Đức. Nhờ giỏi chuyên môn, lại có sẵn những móc nối cũ đúng với truyền thổng "ngưu tầm ngưu, mã tầm mã", hắn lại làm nhân viên tình báo như trước; tuy nhiên hắn vẫn lo ngay ngáy vì có thể một ngày kia người ta sẽ khui ra mọi hoạt động trong dĩ vãng và lôi hắn ra trước vành móng ngựa như 70.000 cựu đồng liêu sắp bị xét xử và 40.000 cựu đồng liêu khác đang bị các cơ quan tư pháp điều tra về tội trạng trong thời chiến (3).
Ông Hoàng không cho tôi biết trong trường hợp nào lão giám đốc ma-cô đã ăn lương của Sài gòn. Ông chỉ yêu cầu tôi tìm hiểu tại sao hoạt động của Sở tại Hăm-bua lại được tiến hành một cách quá êm ái. Đành rằng Tây Đức không phải là đất nghịch, nhưng dầu là bạn, Tây Đức vẫn không thể bưng tai, bít mắt trước những hoạt động tình báo của ông Hoàng. Trên thực tế, ông Hoàng đã gặp nhiều trở ngại ở Anh hoặc Mỹ, nghĩa là ở những nơi được coi là lãnh thổ đồng minh. Ngoài ra, tình báo các nước Tây-phương nói là giúp đỡ tận tình, nhưng bên trong họ tìm trăm phương ngàn kế thọc gậy bánh xe. Không phải là ngoa, khi tôi nói rằng tình báo các nước Tây-phương còn muốn cho ông Hoàng chết nữa. Vì ông Hoàng còn sống ngày nào, bọn họ còn phải tốn bộn tiền. Mỗi lần thuê ông Hoàng, Ông M của MI.6 và ông Sì-mít của CIA lại méo mặt.
Tình báo Tây Đức được liệt vào danh sách đàn anh trên thế giới ; ở ngoài nước họ không hề bết bát, chả lẽ ở trong nước họ lại bết bát đến như vậy, phân cục của ông Hoàng ở Hăm-bua được nghênh ngang hoạt động như ở chỗ không người. Các phi vụ tài tình của lão giám đốc ma-cô đã khiến cho ông Hoàng nghi ngờ. Ông bèn âm thầm điều tra và sau một thời gian, ông khám phá ra lão giám đốc ma-cô là nhân viên nhị trùng của A-lanh.
Tôi chờ lão giám đốc thở khói thuốc lên trần nhà và liếm mép một cách khoan khoái rồi mới hỏi :
- Anh làm cho ông Hoàng theo lệnh của A-lanh phải không ?
Hắn gật đầu :
- Phải.
- Tại sao ?
Vì A-lanh đã nắm được tẩy của tôi. Không biết hắn xoay sở bằng cách nào mà có được hồ sơ đầy đủ của tôi trong A-3. Chẳng giấu gì anh, hồi đó tôi đã dúng tay vào một số vụ phá hoại và ám sát theo lệnh của SD. Nếu A-lanh khai ra tôi sẽ bị truy tố và khó tránh khỏi từ 10 đến 20 năm khổ sai. Tôi không còn trẻ nữa, nên tôi không còn lối nào khác ngoài việc nhắm mắt làm việc theo lệnh của A-lanh.
- Hừ, ông Hoàng biết anh làm nhị trùng cho A-lanh từ lâu, cho nên phái tôi giả vờ đến gặp anh tạo điều kiện cho anh báo cáo với A-lanh. Tôi còn vờ để cho đàn em A-lanh bắt, xem anh xử trí ra sao và rốt cuộc anh đã chui vào thòng lọng.
- Vâng, tôi chịu thua anh. Khi thấy anh nhảy vào vòng chiến tôi biết thua mà đành phải chịu. Tôi đã hết lời năn nỉ A-lanh loại tôi ra ngoài nhưng hắn một mực không nghe, hắn không dám tra tấn anh vì sợ động đến ông Hoàng nên hắn bắt tôi đóng trò khổ nhục kế, giả vờ bị bắt, triệt hạ bọn gác, rồi lái xe đưa anh ra bến tàu thoát khỏi Hăm-bua, A-lanh lý luận là trên đường đào tẩu, anh sẽ phải ghé lại nơi cất giấu tài liệu; bằng không chờ anh xuống tàu, lênh đênh trên biển thì tôi ra tay cũng chưa muộn. Nhưng đến khi trèo lên xe tôi mới thấy là A-lanh lý luận sai bét..
Tôi cười :
- Anh cũng khôn lắm.
Lão giám đốc ma-cô thở dài :
- Thưa anh, trong đời thằng khôn đi làm đầy tớ thằng dại là chuyện bình thường. Đến khi trèo lên xe, tôi mới thấy anh không có bản tài liệu M.14 nhưng đã quá muộn.
Thấy tôi đứng im, lão giám đốc ma-cô kéo tôi ngồi xuống và nói, giọng trầm trầm :
- Tôi từng trải nhiều, một nửa đầu đã bạc nên biết tiến thoái đúng lúc, anh đừng ngại. Tôi đã chịu thua anh thì tôi phải kể hết đầu cua tai nheo cho anh nghe. Những việc vừa xảy ra chỉ là kết quả của một cuộc tranh chấp, đúng hơn là kết quả của một cuộc săng-ta vô tiền khoáng hậu giữa một số nhân viên điều khiển ngành điệp báo liên bang.
Chắc anh đã biết Cô-rin, phó giám đốc kiêm trưởng ban hành động hải ngoại ; cô ta chưa đến ba mươi, nghĩa là trạc tuổi A-lanh, nhưng về kỹ thuật thì đến lục tuần, khộm lưng trong nghề cũng phải mở nón khâm phục. Cô ta hội đủ điều kiện để cầm đầu một cơ sở tình báo quan trọng : về nhan sắc thi hoa hậu vị tất ăn đứt, về võ nghệ thì võ sĩ nhu đạo đai đen cũng chưa thấm vào đâu, về học vấn thì đậu luôn hai bằng tiễn sĩ vật lý nguyên tử và luật khoa. Tuy vậy, tôi không tin là anh biết rõ về đời tư của Côrin..
Đối với tôi (Z.28), Cô-rin chẳng phải xa lạ. Tôi đã gần nàng, đã ôm nàng hôn say sưa trong thời gian ở Ấn Độ. Tôi đã bị chơi xỏ một vố suýt đứt mạch máu.
Nhưng về đời tư của nàng, nàng yêu những ai, nàng sinh trưởng ở đâu, thì thú thật là tôi chưa biết. Lòng tôi đang xao xuyến về nàng, kẻ nào giúp tôi hiểu rõ bề sâu của đời nàng sẽ được tôi tôn làm ân nhân, nên sự tiết lộ của lão giám đốc ma-cô làm tôi mừng rú.
Hắn ngửa cổ rít tiếp thuốc lá rồi chậm rãi :
- Cô-rin là cháu ruột của bà Năm, hiện chỉ huy các điệp vụ quan hệ trong ban hành động hải ngoại. Bà Năm từ Thụy sĩ hồi hương về Đức cách đây 2 năm, sau ngày Cô-rin được thăng chức phó giám đốc. Kể ra bà Năm là một phụ nữ lão luyện nghề nghiệp, trên thế giới hiện nay khó tìm được một phụ nữ nào như bà ta... nhưng anh ơi, bây giờ bà Năm cũng mắc kẹt như tôi.
- Nghĩa là cũng dính vào các hoạt động Quốc xã của SD và A-3 trong thời chiến.
-Úi chao, người Đức chúng tôi bị kẹt nhiều chuyện, làm việc cho mật vụ Quốc xã mới là một chuyện điên đầu. Trong thời chiến, bà Năm hoạt động cho Đồng minh, chống lại chế độ Quốc xã.
- Như vậy thì sao lại bảo là bà Năm mắc kẹt?
- Tình hình rắc rối là vậy. Từ năm 1939 đến năm 1945 bà Năm hoạt động tình báo cho Đồng minh, bà ta bị bắt nhiều lần và đều trốn thoát, lần cuối bà ta bị kết án tử hình, đưa ra pháp trường thi được một toán du kích Đồng minh đến cứu. Nghĩa là ngược giòng thời gian mấy chục năm trước bà Năm là công dân có công với nước Đức, nhưng giờ đây lại có thể bị coi là kẻ thù...
- Tôi hiểu rồi. Trong thời chiến, Liên sô là một quốc gia trong khối đồng minh chống phát-xít. Bà Năm cộng tác - với tình báo Sô-viết phải không ?
- Chỉ gần như vậy chớ chưa đúng hẳn. Hồi ấy, nhiều người Đức yêu nước, chống đối Hít-Le nhưng không lật đổ được Hít-Le bằng võ lực nên quay ra liên kết với các cơ quan tình báo ngoại quốc. Một số may mắn đã móc nối được với tình báo Anh quốc. Một số khác kém may mắn hơn — trong đó có bà Năm — chỉ móc nối được với tình báo Sô-viết. Nói đúng ra, tình báo Sô-viết hồi ấy hoạt động rất khôn ngoan, họ chỉ cho biết họ chống Hít-Le chứ không tiết lộ họ chịu mạng lệnh của Tổ chức Số Một, cơ quan tình báo Sô-viết đặc trách Âu-châu do Ku-dờ-nét-xốp điều khiển. Bà Năm phục vụ bên trong Giàn Nhạc Đỏ, phân cuộc của Tổ chúc Số Một tại Bá Linh, dưới quyền chỉ huy của trung úy không quân Bôi-sen (4). Mãi sau này bà ta biết đó là đầu não gián điệp cộng sản nhưng đã muộn, vì chiến tranh đã chấm dứt, và bà ta đành lưu vong qua Thụy Sĩ.
- Tài liệu M-14 là hồ sơ của bà Năm trong Giàn Nhạc đỏ ngày xưa phải không ?
- Phải. A-lanh quả là kẻ có ma thuật ghê gớm, xoay đưọc hồ sơ của tôi trong A-3 đã là khó khăn; hắn lại xoay được hồ sơ của bà Năm trong Giàn Nhạc đỏ nữa mới tài tình... Hẳn dọa nếu bà Năm không chấp thuận những điều kiện do hắn đặt ra hắn sẽ tìm cách phổ biến tài liệu M-14. Bà Năm đành phải chấp thuận vì trong những năm gần đây tình báo Đức bị phe Cộng trà trộn nên chính phủ có mặc cảm, hễ nghi ngờ ai là thải hồi. Nếu một mình bà Năm bị liên lụy thì chẳng sao, đằng này sự ra đi của bà Năm có thể sẽ kéo luôn cả sự ra đi của phó giám đốc Cô-rin nữa. Vả lại, A-lanh cũng không đòi hỏi những điều quá đáng, hắn chỉ yêu cầu được rảnh tay làm tiền. Cho nên Cô-rin và bà Năm tương kế tựu kế, ngoài mặt chấp thuận nhưng bên trong nghĩ cách đoạt lại tài liệu M-14.
- Tại sao A-lanh cần nhiều tiền như vậy ?
- Điều ấy tôi không biết, Tôi chỉ có thể nói là hàng tháng hắn kiếm được cả triệu đô-la. Riêng kỹ nghệ làm phim con heo, thao túng thị trường trong nước và xuất cảng trên khắp châu Âu cũng đã mang lại cho hắn trên nửa triệu đô-la trong vòng ba, bốn tuần lễ.
- Còn vấn đề buôn bán súng lậu ?
- Trời ơi, anh cũng đã biết vụ A-lanh buôn súng lậu ư ? Vâng, đó là nguồn cung cấp lợi tức lớn lao nhất. Hầu hết các phong trào du kích ở Phi Châu, Trung Đông và châu Mỹ la-tinh đều mua võ khí của A-lanh.
- Các cơ quan an ninh liên bang chết cả hay sao mà không phản ứng?
- A-lanh làm việc rất kín đáo. Nhưng dầu công an cảnh sát có phăng ra nữa cũng chẳng đi đến đâu vì sở gián điệp được phép mặc thị buôn súng lậu để gây tiền quỹ. Công việc này do phó giám đốc Cô-rin phụ trách. Nhưng A-lanh đã giành lấy, hắn kiếm được 10 thì chỉ khai có 2,3 thành ra hắn ung dung thu tiền hàng tháng với sự che chở và đồng lõa miễn cưỡng của Cô-rin. Cho đến ngày Linh-đa xuất hiện...
- Linh-đa là em gái của bà phó giám đốc Cô-rin ?
- Vâng, Linh-đa là em út, nhỏ tuổi nhưng rất tài giỏi. Nàng tốt nghiệp thủ khoa khóa huấn luyện cao đẳng điệp báo tại Bonn và được bổ nhiệm vào Sở Hành động Hải ngoại của bà Cô-rin. Anh đã được giáp mặt nàng chưa ? Úi chao, đến tôi ốm o xo bại và già khẳng như thế này mà còn rung động huống hồ đang còn cường tráng như anh ? Cô-rin đẹp hơn Linh-đa thật đấy, song Linh-đa có nhiều nhựa sống hơn chị, mai kia công việc xong xuôi anh sẽ có cơ hội khi thấy nhận xét tôi nói đúng.
Tôi mỉm cười với lão giám đốc ma-cô. Khỏi cần hắn giới thiệu rườm rà tôi đã biết vẻ đẹp của Linh-đa. Không những tôi có vận hên ôm hôn bà chị, tôi còn được ôm hôn cô em nữa.
Thành thật mà nói, Cô-rin đẹp hơn, vì nàng xấp-xỉ 30, nàng lại nếm mùi đàn ông nhiều nên nhan sắc của nàng có vẻ chín muồi hơn, thân thể nàng có thể làm tượng thần Vệ nữ phải ganh tị về điểm cân đối và nảy nở. Đứng bên chị, Linh-đa chỉ đẹp bằng hai phần ba của chị ; tuy nhiên đàn ông giàu kinh nghiệm thường ưa em hơn chị vì nhan sắc cô em tươi mát như đóa hoa hồng trong sương mai, được gần nàng người ta có cảm tưởng như được uống thang thuốc đại bổ hồi xuân...
Lão giám đốc ma-cô châm lại điếu thuốc vừa tắt rồi tiếp, giọng vẫn khoan thai như thể hắn không thèm biết đến giờ giấc :
- Linh-đa xuất hiện theo lời yêu cầu của bà Năm và Cô-rin. A-lanh nổi tiếng đẹp trai, con gái Hăm-bua chết mê chết mệt vì hắn, con gái trên toàn nước Đức cũng khó cưỡng lại sức quyến rũ của hắn. Anh biết không ? Hắn có hàng trăm chứ đừng nói là hàng chục nhân tình nữa, nhưng nhân tình nào cũng chỉ cặp kè với hắn được dăm ba tuần lễ là lâu nhất. Hắn chưa yêu ai bền bỉ. Thói quen của đàn ông có số đào hoa là thích tìm kiếm những nhan sắc khó khăn, càng khó khăn càng si mê, cũng giống như nhà sưu tập danh họa mầy mò tìm kiếm với bất cứ giá nào những bức tranh nổi tiếng. Vì vậy vừa gặp Linh-đa, thằng cha A-lanh mê ngay. Hắn biết là Cô-rin chơi trò mỹ nhân kế, hắn đinh ninh cao tay ấn hơn Cô-rin, không ngờ "ghét của nào trời trao của ấy" hắn bố trí lôi chị em Cô-rin vào xiếc nhưng rốt cuộc hắn lại dại dột tự lao mình vào xiếc...
- Hắn trồng cây si thành thật với Linh-đa ?
- Dĩ nhiên. Và Linh-đa đặt điều kiện là nếu hắn muốn làm em rể của Cô-rin và cháu rể của bà Năm thì phải hoàn trả bản tài liệu M-14 tai hại. Hắn còn dùng dằng thì đùng một cái, bản tài liệu quan trọng đã biến mất. Tài liệu này được cất giấu trong một tủ sắt kiên cố. Nước Đức chiếm vai vế đàn anh trong kỹ nghệ ché tạo két sắt kiên cố, cái két sắt của A-lanh lại được liệt vào hạng kiên cố thượng đẳng ; không hiểu sao người đẹp Linh-đa lại khám phá ra nơi đặt, và đáng kể nhất là khám phá ra cách mở với cả chìa khóa. Rồi trong một cuộc truy hoan mê ly. A-lanh ngủ vùi, người đẹp lén dậy mở két, cuỗm bản tài liệu M-14 rồi bỏ trốn một mạch.
Cũng may cử chỉ khác thường của nàng bị bọn cận vệ của A-lanh để ý nên một mặt chúng theo dõi Linh-đa, mặt khác, chúng đánh thức A-lanh dậy. A-lanh liền bố trí kế hoạch đoạt lại tài liệu. Linh-đa bị theo dõi chặt chẽ từ nhà riêng của A-lanh đến nhà riêng của nàng, dọc đường không ngừng xe tại đâu nên A-lanh suy luận là tài liệu M-14 được giấu trong xe hoặc trong phòng nàng. Người đẹp về đến phòng chưa kịp xếp va-li và thay quần áo thì cận vệ của A-lanh ập vào, áp giải nàng về tư thất. Bị A-lanh cật vấn, nàng thú nhận là có mở tủ sắt và ăn trộm bản tài liệu M-14. Nhưng không cho biết đem cất ở đâu. Nếu kẻ trộm là ai khác thì A-lanh có thể tìm lại dễ dàng, hắn có hàng chục phương pháp và dụng cụ tra tấn hữu hiệu, không lưu lại dấu vết, nhưng khốn nỗi kẻ trộm lại là "cây si" của đời hắn nên hắn đành giữ nàng ở lại trong phòng, chứ đừng nói là dám tra tấn nàng nữa.
Nhưng trong khi ấy hắn lại thông báo cho Cô-rin biết là hắn sẽ không ngần ngại thủ tiêu Linh-đa nếu bản tài liệu M-14 không được hoàn trả. Tôi không tin là Cô-rin đã nắm được bản tài liệu, bằng chứng là nàng phải cậy nhờ anh, công việc thành tựu thì tốt, bằng không A-lanh cũng phải có thái độ kinh nhi viễn chi đối với anh vì Cô-rin nghĩ rằng hắn chẳng dại gì đụng đến anh để làm mất lòng ông Hoàng, và làm mất lòng một tố chức điệp báo hành động khá lợi hại của Đồng minh.
Lão giám đốc ma-cô ngưng nói, mơ màng thở khói thuốc lên trần nhà. Hắn không còn trẻ trung nữa, song cái lối thở khói của hắn lại bay bướm hơn cả vương tôn công tử 30 tuối. Hắn không cần chụm môi mà khói thuốc vẫn tuôn ra thành vòng tròn không cùng một kích thước, tuần tự từ nhỏ đến lớn, khiến tôi có cảm tưởng là hắn thở ra một sợi dây xích hình nón bằng khói xanh lam. Nhiều người đã khen tôi có tài thở khói, nhưng so với hắn tôi còn thua xa ; bằng chứng là tôi học thở khói cả chục năm mà chưa vẽ đưọc chữ, còn lão giám đốc ma-cô chỉ loe miệng nhẹ nhàng là một lô những con số 8, con số 88 nối đuôi nhau bay ra...
Thở khói xong, hắn dịu dàng hỏi tôi :
-Tôi đã nói hết, không giấu anh một chi tiết cỏn con nào. Giờ đây, tôi có thể giúp anh được việc gì không ?
Tôi nhìn giữa mắt hắn :
- Trước hết anh phải cho tôi biết : xe Mẹt-xê-đét có máy ghi âm chuyển những lời đối thoại hồi nãy giữa anh và tôi về văn phòng của A-lanh không ?
Hắn đáp ngay ;
- Có. Nhưng máy không mở. A-lanh tin tưởng là tôi sẽ thành công. Vả lại, tai anh thính một cách kinh khủng, máy thâu băng chạy êm đến mấy anh cũng nghe được.
- Chừng nào anh phải trình diện A-lanh ?
- Tùy theo chương trình đào tẩu, và tùy theo thái độ của anh. Trong trường hợp anh hớ hênh để lộ nơi giấu tài liệu M-14, tôi sẽ gọi điện thoại vô tuyến cho toán nhân viên thường trực. sau đó, tôi sẽ về gặp A-lanh.
- Anh có tin tôi cất giữ tài liệu M-14 không ?
- Như tôi đã nói trước đây thì tin, nhưng từ khi lên xe tôi biết chắc là không.
Tôi có cảm tưởng là tài liệu này chưa rời tư thất của A-lanh. Người đẹp Linh -đa mở tủ sắt, lấy cắp tài liệu, song không mang ra khỏi nhà. Mai kia, mọi việc được dàn xếp xong xuôi, nàng quay lại lấy cũng chưa muộn. Hoặc giả nàng tiêu hủy tài liệu rồi cũng nên.
- Xe Mẹt-xê-đét được gắn dụng cụ phát-tuyến?
- Vâng. Hộp phát-tuyến có chất từ thạch này được đặt dưới gầm xe.
- Nghĩa là phút này A-lanh đã biết xe hơi đang dừng lại tại đây.
- Vâng. Hắn đoán là anh yêu cầu dừng xe để lấy tài liệu.
Tôi đứng dậy, vứt điếu thuốc lá cuối cùng vào góc phòng. Tôi đã trữ sẵn hai gói Sa-lem để hút trọn cả đêm song thằng cha giám đốc ma-cô đã đốt của tôi gần nửa gói. Hắn hút thuốc như thể đun bếp, vèo một cáí hết bay điếu thuốc. Hắn lại chơi sang, điếu nào cũng hút non nửa rồi quăng vứt tứ tung.
Thái độ hút thuốc nửa điếu rồi vứt này thật ra không phải do sự chơi sang mà ra. Một số người không thể hút hết vì tâm thần bối rối, họ phải châm thuốc luôn luôn đế che giấu mặc cảm. Tuy nhiên, tôi không tin rằng lão giám đốc ma-cô hút thuốc như đun bếp để che giấu mặc cảm. Mà đó là hậu quả của một căn bệnh tâm lý lạ lùng. Căn bệnh này thường xảy đến cho một số cựu nhân viên gián điệp Đức.
Tôi không quên được những ngày, những tuần ở thành phố Bá Linh bị quân đội Đồng minh chiếm đóng, chia năm xẻ bẩy với những màu cờ Anh, Mỹ Pháp, Liên sô sau khi đại chiến thứ hai chấm dứtThủ đô Bá Linh sầm uất đã biến thành đống gạch vụn khổng lồ, người chết hàng ngàn, đàn bà con gái bị cưỡng hiếp hàng vạn và hàng chục vạn dân chúng địa phương run rét vì lạnh, run rét vì đói ăn. Trong những ngày, những tuần thê thảm ấy, điếu thuốc lá đắt gần như vàng. Một gói thuốc Mỹ được mua đến 150 mã-khắc. Mỗi khi hút điếu thuốc, người ta không dám châm lửa lớn, và không dám rít mạnh. Lửa phải nhỏ và rít phải từ từ để khỏi tốn thuốc, và hút đến cháy đầu ngón tay cũng không vứt. Tàn thuốc và mẩu thuốc li ti còn lại thì được quấn thành điếu mới.
Cơn túng thuốc lá đã thay đổi hoàn toàn tâm tính của một số người Đức. Hòa bình vãn hồi, nước Đức trở nên thịnh vượng, những người xưa kia phải hút thuốc đến cháy ngón tay lại đâm ra hoang phí, chỉ hút sơ qua rồi vứt bỏ. Dường như hoang phí này là một hình thức trả thù tâm lý. Nhân viên gián Điệp Đức thường hút thuốc nhiều, họ cũng khổ sở rất nhiều trong thời gian hậu chiến, kiếm thuốc khó khăn lại trốn chui trốn lủi, cho nên khi được tự do họ hút thuốc thật hoang phí để...trả thù.
Lão giám đốc ma-cô cũng đứng dậy theo tôi. Tôi đặt bàn tay lên bờ vai gầy guộc của hắn. Tôi đặt rất êm ái, nhưng kỳ thật tôi đã vận công vào đầu ngón tay, với dụng ý mời hắn nếm thử tài mọn điểm huyệt. Hắn không còn là tay mơ trong làng võ, tất hắn phải đoán biết tôi biểu diễn nghệ thuật thuật atêmi là để hăm dọa phủ đầu.
Hắn bèn suýt soa :
- Tội nghiệp tôi lắm, anh ơi ! Anh cần gì tôi xin chiều anh ngay, tôi không dám bóp cẳng anh đâu.
Tôi bèn cười thân ái :
- Giờ đây tôi muốn gặp A-lanh.
Mắt lão giám đốc ma-cô long lanh như đang đứng trước cô gái có tấm thân ngon lành :
- Dễ lắm. Mời anh ra xe rồi chúng mình trở về phim trường. Có lẽ A-lanh đang ngồi đợi trong văn phòng.
Tôi nghiêm giọng bảo hắn :
- Cảnh cáo anh lần đầu và cũng là lần cuối. Nếu anh lơ tơ mơ, chơi xỏ tôi, tôi sẽ bóp xương anh nát vụn. Anh giỏi võ thật nhưng đọ với tôi, anh chỉ chịu được một góc hiệp là cùng. Nếu anh còn muốn sống để du bí, sống để tiêu xài tiền nong đặt trong nhà băng Thụy sĩ, anh phải tuân lệnh tôi, triệt để. Tuân lệnh triệt để, anh nhớ chưa?
Hắn rùng mình :
- Anh khỏi cần cảnh cáo tôi cũng nhớ. Họa là điên tôi mới dám vuốt râu hùm đại tá Z.28.
Tôi cười nhường hắn ra trước. Hắn bước thật nhẹ, như thể hắn sợ bước hơi mạnh tôi sẽ nổi cáu mà choảng hắn một trận. Chốc chốc hắn lại ngoảnh lại nhìn tôi. Hừ... hắn chưa hiểu rõ tôi, nếu hiểu rõ hắn sẽ yên tâm hơn, vì tôi là người không hề đánh kẻ địch sau lưng.
- Lần này anh lái, tôi ngồi bên.
Đường phố vẫn vắng tanh vắng lặng. Bóng tối có vẻ tối hơn. Dường như là thông lệ, đèn đường ở mọi thành phố lớn nhỏ trên thế giới đều biết buồn ngủ, biết trời tối trời sáng như người vậy. Thật thế sau khi đọc những giòng này, các bạn thử thức đêm nay, chờ đến gần sáng, ra ngoài đường quan sát sẽ thấy tôi nói không sai. Gần sáng, ngọn đèn đường nào cũng hấp ha hấp háy, những con muỗi mắt vây quanh bóng đèn cố vẻ đông đảo hơn, ánh sáng đèn có vẻ mỏi mệt hơn...
Lão giám đốc ma-cô có vẻ mỏi mệt như ánh đèn đường Hăm-bua đêm ấy, ngược lại tôi vẫn tỉnh khô. Hắn mở máy, quay đầu xe. Trước mặt chúng tôi là hai rặng cây cao lêu nghêu, cành lá xum xuê. Ban đêm, dìu em bé đến dưới cành lá xum xuê tối om này mà tình tự thì tuyệt.
Tôi nhận thấy lão giám đốc ma-cô liếc trộm tôi bằng đuôi mắt. Tôi bèn hỏi :
- Sợ hả ?
Hắn giật nảy mình, đít nhổm khỏi băng xe như thể ngồi xe gắn máy lọt vào ổ gà :
- Trời ơi, làm sao anh biết tôi sợ ?
Làm người, ai cũng sợ, không cứ gì tiểu nhân, đại anh hùng cũng sợ. Nhưng mỗi người sợ một khác, kẻ yếu bóng vía, chưa lăn lộn nghề nghiệp thường sợ xanh mặt, hoặc toát bồ hôi, hoặc run rẩy tay chân ; người có hai thứ tóc trong xã hội đi khuya về tối có lối sợ kín đáo hơn, lặng lẽ hơn. Lão giám đốc ma-cô không còn là nhân viên tập sự vắt mũi chưa sạch, về tuổi đời hắn đã thuộc vào hạng trung niên, về tuổi nghề hắn cũng hơn tôi một quãng dài, nghĩa là hắn chỉ có thể sợ một cách kín đáo và lặng lẽ.
Lời nói của tôi phải gây ra một tác động khác thường nên hắn mới lóng cóng như vậy. Tôi ngồi im hắn vội hỏi dồn :
- Anh Văn Bình, tại sao anh biết tôi sợ ?
Tôi cười nhạt :
- Phiền anh soi gương sẽ thấy. Mặt anh xám ngoẹt, môi anh rung rung, mắt anh lấm la lấm lét, đứa con nít cũng biết anh sợ huống hồ là tôi. Tôi biết anh đang sợ A-lanh. Thú nhận đi rồi tôi giúp cho.
Hắn thở dài sườn sượt ;
- Tôi xin ngả nón chào anh. Vâng, đúng là tôi sợ. Tôi sợ A-lanh. Thằng cha đáo để thật. Hắn cam kết cho tôi thảnh thơi hoạt động một mình, thế mà người của hắn, và không khéo cả hắn nữa, lại lén lút đi theo sau lưng.
- Anh đã hiểu nguyên nhân chưa ?
- Rồi... vì hắn không tin tôi.
- Không phải đâu. Không phải A-lanh không tin anh. A-lanh chỉ lo anh hợp tác với tôi để chơi xỏ hắn thôi. Hắn dùng anh bằng phương pháp săng-ta. Anh cũng có thể bị tôi săng-ta. Anh bị kẹt mọi mặt, trong trường hợp bị tôi săng-ta anh không còn lối thoát nào khác ngoài lối bắt tay tôi, phải không anh ?
- Phải. Anh thấy cái Mẹt-xê-đét đen trong kiếng chiếu hậu đã lâu chưa ?
Chiếc Mẹt-xê-đét này thuộc kiểu Pullman thượng đẳng, kiểu giành riêng cho giới tỉ phú. Nó rừ rừ lái theo từ khi chúng tôi rời tòa nhà cất dở trên con đường tranh tối tranh sáng. Nó cách chúng tôi gần hai trăm thước nhưng vì đại lộ thẳng băng, không cong queo, nền đường lại rộng thênh thang mà không có bóng xe qua lại nên tôi có thể nhìn thấy nó dễ dàng. Tuy trời tối, kiếng gió lại được nhuộm xanh, tôi vẫn loáng thoáng nhận diện được người ngồi trong xe.
Cặp mắt của lão giám đốc ma-cô không kèm nhèm như tôi tưởng. Hắt giảm bớt tốc độ trong khi nhỡn tuyến dính chặt lấy mặt gương chiếu hậu. Hắn à lên một tiếng rồi nói :
- Đúng rồi. Trong xe có mặt thằng khốn nạn.
Tôi giả vờ hỏi :
- Thằng khốn nạn nào ?
Lão giám đốc ma-cô nhăn nhó như vừa ăn lầm nắm ớt mọi cay xè :
- Khổ quả, anh còn đùa dai làm gì nữa. Thằng khốn nạn ấy là A-lanh. Bây giờ anh tính sao ?
- Chẳng tính sao cả. Chờ hắn đến nơi sẽ hay.
Lão giám đốc ma-cô lính quýnh, chân đang rà thắng bỗng đạp mạnh ga xăng, chiếc Mẹt-xê-đét ngoan ngoãn nhảy vọt lên. Nhưng chỉ một vài phút sau hắn lại đạp thắng. Đạp thật mạnh. Chiếc xe đang ngon trớn vội ngừng ngay lại.
Tôi hích cùi trỏ vào ngực lão giám đốc ma-cô. Hắn gục đầu xuống vô-lăng. Tôi hất hắn ngã rồi cướp tay lái. Chiếc Mẹt-xê-đét theo sau còn cách độ một trăm mét. Tôi ấn lút ga xăng, trong loáng mắt, chiếc xe hơi đã chạy trên 140 cây số-giờ...........<
--------------------------------
1 | SD là Sicherheitsdienst : Tổ chức SD là tổ chức Quốc xã có nhiều loại xung kích gồm toàn côn đồ, tội phạm giết người.... |
2 | Tin này có thật. |
3 | )Đến cuối năm 1966, con số chiến phạm đã bị kết án là 6169 người ở Tây Đức, con số bị giam giữ chờ xét xử là 73.793, còn bị điều tra để có thể bị truy tố là non 40.000 người.... |
4 | Tức là Feodore Kuznetsov và Schulze-Boysen. |
CHƯƠNG XMỘT TRIỆU ĐÔ LA
Trời tối, đường vắng, thì đua tốc độ là một trong các thú vui thường nhật của tôi. Thú vui này tôi không được hưởng trong những ngày nghỉ xả hơi giữa hai đợt công tác ở Sài gòn. Thành phố "hòn ngọc Viễn đông" chỉ có một xa lộ độc nhất, xa lộ Biên hòa, muốn phóng nhanh phải lái xe ban đêm nhưng ban đêm khu vực này lại bị giới nghiêm chặt chẽ. cho dẫu tôi có giấy phép đặc biệt, tôi vẫn phải chốc chốc dừng lại xuất trình. Lái xe như vậy khác nào hẹn hò yêu đương với đàn bà có chồng, ở trong phòng kín mà sợ nơm nớp đức lang quân bị cắm sừng xô cửa vào với ông thừa phát lại để làm biên bản thông dâm. Không được phóng xe thỏa thích ở nhà cho nên mỗi lần bay ra nước ngoài, tôi đều không quên lái bạt mạng.
Ngay trong mấy phút đầu tiên tôi đã cho xe sau ngửi bụi. Nói thật nếu tôi chủ tâm bỏ chạy, tôi chỉ cần lái ngoằn ngèo, rẽ trái, rẽ phải lung tung một lát rồi biến dạng vào hẻm tối. Tài xế xe sau chưa phải là chuyên viên đuổi bắt thượng thặng. Nhưng màn chót của tấn kịch chưa vén, bắt buộc tôi phải chạy chậm cho xe sau rượt kịp.
Và 10 phút sau tôi nép vào lề đường cho xe sau vượt qua. Tài xế thắng gấp và chặn ngang đầu xe. Từ trên xe nhảy xuống hai người đàn ông lực lưỡng, tay cầm súng lục.
Tôi mỉm cười khi họ ra lệnh cho tôi xuống xe. A-lanh ngồi sẵn ở băng sau, phì phèo thuốc lá. Hắn lừ mắt khi thấy tôi :
- Chạy hảChạy đâu cho thoát ?
Tôi không đáp. Hắn chỉ lão giám đốc ma-cô; và hỏi tôi, giọng hách dịch :
- Anh đánh hắn ngất ?
Tôi nhún vai :
- Dĩ nhiên.
Hắn ném điếu thuốc mới hút một phần qua cửa xe, vừa được quay kiếng để thay đổi không khí :
- Tài liệu đâu, anh trả cho tôi.
- Tài liệu M-14 phải không ?
- Phải. Chuyện riêng giữa người Đức chúng tôi không can dự gì đến anh. Giữa nhân viên chỉ huy một cơ quan điệp báo thì xung đột, bóp cẳng nhau là chuyện thường. Anh nên trả lại bản tài liệu M-14 rồi đi đâu tùy ý.
- Thú thật với anh, tôi chưa hề trông thấy bản tài liệu M-14 chứ đừng nói là cất giữ nữa.
- Nói láo.
- Trong đời, tôi đã giết nhiều người hỗn xược dám dùng lời lẽ nặng nề, vu cáo đối với tôi.
- A, anh định giết tôi hả ?
- Hiện giờ thì chưa. Vì thuộc viên của anh đang chĩa súng lăm lăm. Nhưng đến khi anh miễn cưỡng phải trả tự do cho tôi, tôi sẽ tặng anh một bài học.
A-lanh cười xòa :
- Anh pha trò hay ghê ! Anh vừa dọa giết tôi rồi lại dọa tặng tôi một trận đòn. Anh yên tâm, tôi cũng biết nghề đấm đá như ai. Chúng ta là đồng minh, vấn đề giết nhau là không thể đặt ra, nhưng về vấn đề đấu quyền thì bất cứ giờ phút nào tôi cũng sẵn sàng. Nhưng trước hết, anh phải trả lại cho tôi bản tài liệu M-14.
Ngừng một vài giây đồng hồ, A-lanh nói tiếp :
- Tôi bằng lòng trả gấp đôi giá tiền bà Năm hứa trả. Thế nào, anh đòi bao nhiêu ?
- Một triệu đô la.
- Như tôi đã có dịp nói với anh, tôi không phải là nhà in giấy bạc, mà dầu tôi có là nhà in giấy bạc nữa, tôi cũng không có quyền in một đô-la. Đồng tiền bây giờ rất khó kiếm, anh đòi một tấc đến trời như vậy, tôi thỏa mãn sao nổi.
- Thì thôi.
- Yêu cầu anh bớt xuống.
- Tiền lời buôn súng lậu và cung cấp phim ảnh con heo mỗi tháng của anh lên đến gấp mười số tiền một triệu đô-la.
- Bậy nào, thằng cha già ma-cô nói xạo. Đổ bồ hôi sôi nước mắt cả năm mới thu vén được 5 triệu. Mà tôi có bỏ túi được đủ 5 triệu cho cam. Còn phải chia sớt cho mỗi nơi một ít. Rốt cuộc chỉ còn lại phân nửa.
- Hai triệu rưỡi ?
- Trời đất, anh là người bạn khó tính nhất tôi được gặp trong đời. Vâng, tôi chịu trả anh một triệu. Tài liệu đâu ?
- Dễ nghe nhỉ ? Đưa tài liệu ngay bây giờ cho anh để anh mở cửa xe đạp tôi xuống đường ấy à?
- Tiền trao cháo múc. Anh đưa tài liệu, tôi kiểm soát lại xem thật hay giả rồi tôi mới trả tiền.
- Ha. ha, rồi anh trả bằng tiền "Lèo" thì sao? Thời đại chiến thứ hai lão Bát-dơ-na ở Thổ nhĩ kỳ đã dại một lần, các anh trả toàn bạc giả, đến nỗi bây giờ nghèo kiết xác một xu không có. (1)
- Được, anh đã chắc lép thi tôi cũng chiều anh. Tôi trả tiền trước, lấy tài liệu sau. Nhưng coi chừng, đừng lộn xộn mà chết mất xác, tôi rất sòng phẳng nhưng cũng rất tàn nhẫn. Đối với người sòng phẳng tôi sẽ giữ đúng lời hứa, còn đối với người lươn lẹo tôi sẽ tàn nhẫn một cách kinh khủng.
Tôi cười khì, dựa lưng vào ghế, lim dim cặp mắt Nệm xe êm ái không phải là chuyện lạ, trong đời tôi đã ngồi hàng trăm nệm xe êm ái ; tôi mê nệm xe êm ái cũng như mê thuốc Sa-lem và rượu huýt-ky vì một lý do dễ hiểu. Bạn đọc đã thừa trí phán đoán nên xin miễn cho tôi phải giải thích lý do dễ hiểu này trên mực đen giấy trắng.
Tôi có thiện cảm với xe Mẹt-xê-đét dĩ nhiên vì nệm nó phá kỷ lục thế giới về êm ái, xe DS do Pháp chế tạo còn thua xa xe 300 SE của hãng Mẹt-xê-đét ; nệm xe Pullman lại êm ái gấp đôi nệm xe 300 SE, tôi dựa lưng vào ghế lim dim cặp mắt là vì thế. Chắc A-lanh bại thận và đau xương sống nặng nên nệm xe của hắn được nhồi toàn bằng lông tơ của một loại dê cái sinh sống trong vùng núi Hy-mã-lạp-sơn. Lông tơ này vừa êm ái tuyệt trần, nó vừa có dược tính kỳ lạ ; mùa đông nó chứa ủ sức nóng để truyền vào da thịt, mùa hè nó lại tỏa ra hơi mát, và kỳ lạ nhất là nó có tác dụng trị bệnh đau lưng của thanh niên ham chơi.
Phải có hàng chục kí lông tơ mới nhồi đủ mấy tấm nệm, giá tiền mỗi kí lông lơ đắt bằng kí vàng, riêng điều này chứng tỏ A-lanh giầu nứt đố đổ vách.
Hắn nheo mắt hỏi tôi :
- Đi đâu ?
Tôi đáp :
- Về phim trường.
- Tại sao lại về phim trường ? Tôi đề nghị chúng ta cùng đi đến nơi cất tài liệu.
- Anh cứ lo liệu đầy đủ một triệu đô-la. Sau đó, tôi sẽ nộp bản tài liệu M-14, đúng theo điều khoản tiền trao cháo múc.
- Anh cất tài liệu trong mình ?
- Không nên tò mò, anh ạ.
- Anh đừng ngại, tôi không lật lọng đâu.
- Dầu anh muốn lật lọng cũng không xong. Anh phải giết được tôi mới có hy vọng đoạt tài liệu. Nếu tôi chết dưới tay anh, sở Mật vụ Sài-gòn và ông Hoàng sẽ rượt đuổi anh đến tận cùng trái đất.
A-lanh ngồi im, ra vẻ suy nghĩ. Tôi chờ cho câu nói của tôi ngấm sâu mới thong thả tiếp :
- Hừ... giết tôi cũng không dễ nào.
- Vâng, tôi biết lắm !
Từ phút ấy, A-lanh không nói gì nữa. Tôi nhận thấy hắn bối rối một cách khác thường.
Chiếc xe Mẹt-xê-đét lộng lẫy phóng như bay trên con đường rộng rãi và vắng vẻ. Ngồi bên tôi, lão giám đốc ma-cô vẫn bất tỉnh. Hơi thở hắn đều đặn, hắn còn ngủ mê cả giờ nữa mới tỉnh.
Cổng hậu của phim trường được mở sẵn, tài xế lái vào ga-ra. Thấy tên cận vệ chĩa súng lăm lăm, tôi quắc mắt :
- Cất đi. Người nhà cả. mày làm cái trò gì vậy ?
Lời nói hách dịch của tôi đã có hiệu nghiệm tức khắc. Tên cận vệ vội ngoan ngoãn bỏ súng vào bao dưới nách, quên cả xin lệnh A-lanh. Nếu hắn xin lệnh chắc chắn A-lanh cũng cho phép hắn cất súng. Nhưng dầu sao thái độ ngoan ngoãn của hắn cũng chứng tỏ bọn em út Phản Gián rát như cáy. Đáng sợ chỉ có ty trưởng A-lanh ; bề ngoài ăn chơi đàng điếm của A-lanh đã che giấu bên trong một trí thông minh siêu đẳng và mội tài nghệ võ thuật phi thường. Muốn thắng hắn, tôi phải hết sức thận trọng...
A-lanh mời tôi vào một căn phòng thiết kế lộng lẫy ở lầu ba. Một góc tường choán đầy kệ gỗ nổi vân như cẩm lai bên trên có hàng trăm cái hộp tròn đựng phim. Những cuộn phim con heo này đã mang lại cho A-lanh một sản nghiệp kếch sù.
Chứng tích của sản nghiệp kếch sù này đã được tìm thấy ngay trong phòng với hơn chục tác phẩm điêu khắc của Matisse. Tay chơi nghệ thuật từ đông sang tây không lạ gì danh họa Matisse của những ngày cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, trong phòng ăn, phòng khách chỉ cần treo một bức sơn dầu của Matisse là thiên hạ đã lác mắt. Tuy nhiên, tác phẩm điêu khắc của Matisse còn đắt liền hơn tranh vẽ, và rất khó kiếm vì trong đời ông ta chỉ sản xuất trên dưới 70 bức tượng.
Tôi cũng ưa tượng Matisse vì hầu hết đều là tượng đàn bà. Đàn bà đẹp đã đành, những siêu phẩm này lại toàn là người mẫu khỏa thân. Tôi ưa tượng Matisse vì nó hợp với quan niệm về phụ nữ của tôi, nghĩa là có đôi chân thật dài theo kiểu "trường túc" và cái lưng "tế yêu". Hơn mười bức tượng phụ nữ khỏa thân bằng đồng đỏ được bày ngay ngắn trước mắt làm tôi ngây người. Riêng căn phòng này đã trị giá 5, 7 triệu đô-la. Bởi vậy, A-lanh mua bản tài liệu M-14 với giá một triệu mỹ-kim thì cũng như ông nhà giàu bố thí vài ba ngàn bạc cho một cơ sở xã hội.
Ngoài những cái kệ đựng phim ảnh con heo và các tác phẩm điêu khắc của Matisse ra, trong phòng không còn đồ đạc nào khác. A-lanh nheo mắt cười tình với tôi rồi bấm nút trên tường gần tấm lịch Playboy với chân dung toàn thân của một cô gái Mỹ tốt da tốt thịt, bộ phận nào trên người cũng tròn trịa và ngon lành.
Tường nứt đôi, từ trong tường chạy ra một bộ xa-lông gồm hai cái ghế và một cái bàn được lắp trên hai thanh sắt mạ kền song song như đường rầy xe hỏa. Trên bàn đã có đủ rượu, ly chén và thuốc hút. A-lanh vỗ vai tôi, giọng thân mật :
- Anh ngồi xuống đây, đợi tôi lấy tiền.
Hắn rút dưới ghế xa-lông ra một két nhỏ bằng nhôm. Tôi biết đây là tủ sắt điện tử, nó rất nhẹ vì vỏ ngoài bằng nhôm đặc biệt, chủ nhân có thể mang theo bên mình dễ dàng và tiện lơi. Nó rất gọn và rất nhẹ, nhưng lại rất an toàn. Người lạ đừng hòng xớ rớ đến nó vì vỏ ngoài của nó được truyền điện. Một con mắt điện tử nhỏ xíu quan sát tứ phía, con mắt này sẽ mở máy điện sau khi thấy người đụng đến nó không phải là chủ nhân, đồng thời nó réo lên hồi chuông báo dộng, ở xa nửa cây sổ cũng nghe thấy tiếng. Không có cách nào ngăn được hồi chuông báo động ; trong trưòng hợp kẻ gian dùng kéo bằng máy cắt vỏ nhôm ra thì một hệ thống tự hủy trong két sẽ châm ngòi bom, đồ vật cất bên trong sẽ nổ tung thành từng mảnh vụn, một luồng khói đặc tuôn ra, người lạ ngửi nhầm sẽ bất tỉnh và bại xuội tức khắc.
Loại tủ sắt điện tử xách tay này là một phát minh đáng kể của nước Đức ; tuy nhiên, đây không phải là nước Đức phía tây, đồng minh của ông Hoàng, mà là nước Đức phía đông, kẻ thù bất cộng đái thiên (không đội trời chung). Giá tiền của nó khá đắt, nghe nói từ ba đến năm chục ngàn Mỹ-kim một cái.
Tôi chăm chú nhìn cái két tân kỳ vuông vức và xinh xẻo nằm gọn trên bàn xa-lông. Hắn lấy trong túi ra cái quẹt máy bằng vàng y. Hắn bật lửa nhưng lửa không cháy. Vì bật lửa này chỉ là cái khóa đặc biệt để mở tủ sắt. Tôi nghe "rẹt" một tiếng nhỏ, nắp két bật lên, để lộ những xấp giấy bạc loại một trăm đô-la mới tinh và thơm phưng phức.
Tôi đếm nhẩm bằng mắt được đúng 24 xấp. Mỗi xấp chừng nửa triệu đô-la. Nghĩa là xiu xíu cái tủ sắt tí hon này đựng được 12 triệu mỹ-kim. Với 12 triệu mỹ-kim tôi có thể tậu một hòn đảo ngoài khơi Thái bình dương, xây biệt thự, mua sắm xe hơi, du thuyền, và tha hồ tiêu xài.... A-lanh đang xây lưng về phía tôi, tôi chỉ cần chém cạnh bàn tay vào gáy hắn là hắn ngã gục, và tôi chiếm đoạt 12 triệu đô-la thần tiên một cách ngon lành. Song tôi vẫn ngồi yên. Không phải tôi chê tiền, đồng tiền có thể làm thần linh quáng mắt, huống hồ người trần mắt thịt ham chơi như tôi, sờ dĩ không vung atêmi vì tôi nghĩ rằng A-Ianh đang trương bẫy cho tôi mắc kẹt. Chắc cái két bạc đang còn một dụng cụ bí mật phòng vệ nào khác, nếu tôi cựa quậy hắn sẽ cho tôi ăn một phát đạn thuốc mê. A-Ianh đặt ngay ngắn trên bàn, chềnh ềnh trước mắt tôi hai xấp giấy nửa triệu. Hắn nói, giọng ngọt ngào :
- Đúng một triệu đô-la, không thiếu một tờ. Anh có cần kiểm điểm lại không ?
Tôi lắc đầu giọng tự tin :
- Không. Nếu thiếu, tôi sẽ đòi anh sau.
- Đủ tiền rồi đấy, giờ đây đến lượt anh. Tài liệu M-14 đâu, anh trả cho tôi ?
- Anh cứ cất tiền vào túi, tôi sẽ dẫn anh đến chỗ có tài liệu.
- Ô kìa, tại sao anh lại nói là mang sẵn tài liệu trong mình ?
- Hừ, trừ phi là thằng ngu tôi mới giấu nó trong túi. Nhưng anh đừng sợ, tôi chỉ nhận tiền sau khi trao tài liệu.
A-lanh cau mặt lẩm bẩm :
- Chơi với anh khó ghê !
Tôi làm thinh không đáp, hắn vươn vai thở phào rồi nhét hai xấp đô-la vào túi vét-tông,giọng bực bội:
- Nào, ta đi.
Tôi khoát tay :
- Thong thả. Trước khi đi, tôi yêu cầu anh một điều.
- Còn điều gì nữa ?
- Tôi muốn gặp cô Linh-đa.
- Linh-đa không liên hệ gì đến vụ thỏa thuận giữa anh và tôi.
- Đồng ý. Nhưng tôi chỉ có thể trao tài Iiệu và lãnh tiền thưởng nếu nàng còn sống.
A-lanh trợn tròn mắt, như thể tôi là con quái vật thời tiền sử :
- Anh nói gì? Anh cho là tôi đã giết Linh-đa rồi ư ?
- Bà Năm nói với tôi rằng Linh-đa đã chết. Anh đã giết nàng.
- Ha, ha, đồ ngốc...
- Anh nên giữ mồm giữ miệng. Tôi sẽ tặng anh một quả đấm rụng răng nếu anh không rút lại lời nói thô bỉ ấy.
- Xin lỗi anh, tôi vẫn có những phản ứng tự nhiên như vậy. Sở dĩ tôi có lời nói thô bỉ đối với anh là vì chuyện thủ tiêu Linh-đa là chuyện không xảy ra, không thể xảy ra, không bao giờ có thể xảy ra....
- Nói là một việc, làm lại là việc khác.
- Chẳng có gì khác. Vì lẽ Linh-đa là người yêu đầu gối tay ấp của tôi, nàng yêu tôi tha thiết và tôi cũng yêu nàng tha thiết, nếu con mụ phải gió kia không bầy mưu lập kế thì nàng đã chẳng lấy cắp tài liệu M-14, tôi đã chẳng mất ăn mất ngủ và sắp sửa mất một triệu đô-la...
Tôi vẫn ngồi yên tỏ vẻ chưa hiểu, A-lanh hạ thấp giọng, giải thích :
- Anh chưa rõ ngọn ngành nên tôi xin kể hết anh nghe. Linh-đa yêu tôi thật sự, tôi không thể cưỡng ép nàng, tôi cũng không hề bắt giữ nàng như bà Năm đã nói với anh. Nếu tôi không yêu nàng thật sự tôi đã tra tấn nàng và nàng đã phải cung khai nơi cất giấu tài liệu. Tôi phải chấp thuận điều kiện của anh vì tôi yêu nàng thật sự, tôi không dám đụng đến lông chân nàng, anh biết chưa ?
- Biết rồi.
- Vậy, chúng ta lên đưoowfng.
- Nhưng anh phải mời nàng ra đây để cho tôi thấy mặt.
- Tưởng gì, chứ nếu chỉ cần thấy mặt nàng tôi sẵn sàng chiều theo ý của anh. Và khi gặp nàng, tôi cho phép anh tự do hỏi chuyện nàng. Nàng sẽ xác nhận những điều tôi vừa nói.
A-lanh tiến lại góc phòng. Hắn lại bấm nút (gớm, trong phòng hắn, toàn nút là nút), một cái máy điện thoại màu hồng từ trong tường chui ra. Hắn nhấc lên, và nói :
- Anh đây, A-lanh đây, em đấy hả ? Anh đang ở trong phòng số 8, em đến ngay nhé ?
Giọng nói ngọt như đường phèn của cô gái tôi đã gặp một lần tại Trung đông dội từ máy điện thoại vào tai tôi :
- Đến ngay để làm gì ? Em mới chợp mắt mà anh gọi. Đợi em ngủ dậy được không ?
Nghe Linh-đa nói tôi mới sực nhớ là trời gần sáng. Té ra suốt đêm tôi lang thang trong thị trấn Hăm-bua. Phần đông đàn bà đẹp Ham-bua đều lấy đêm làm ngày, chắc Linh-đa đã uống rượu say sưa và khiêu vũ mỏi chân từ chập tối đến 3, 4 giờ sáng. Tôi không thể quên được giọng nói ngọt như đường phèn của nàng. Chỉ nghe nàng nói, tôi có thể ăn cả thúng trái chua mà không biết chua. Da thịt nàng, và môi nàng cũng ngọt như đường phèn. Một ngày một đêm sau khi ôm hôn nàng hồi ấy tôi vẫn còn ngơ ngẩn, áo quần tôi, miệng tôi, tay tôi đều thơm mùi đường phèn.
Tự dưng tôi lại cảm thấy đắng họng. Linh-đa giờ đây đã là hoa có chủ, nếu tôi mà để ý đến nàng, thằng cha ghen ngược A-lanh sẽ không buông tha.
Hắn hôn chùn chụt trong dây nói rồi ỏn ẻn như con gái làm nũng :
- Không đợi dược. Việc cần lắm. Việc này liên quan đến bản tài liệu M-14.
A-lanh mỉm cười khoái trá, và gác điện thoạiHắn quay lại phía tôi, phân vua :
- Anh đã nghe rõ chưa ? Thế nào, nàng thành thật yêu tôi hay là tôi bắt giữ nàng ?
Tôi thọc tay vào túi quần, đi đi lại lại trong phòng vẻ mặt chứa đầy lo nghĩ và bối rối. Thật ra, mỗi khi cần suy tư tôi không có thói quen đi đi lại lại như con cọp trong vườn Bách Thú. Chẳng qua tôi muốn lừa hắn. Trong mấy phút nữa tôi phải hành động, tôi giả vờ băn khoăn đi đi lại lại để được tự do quan sát và tìm lợi thế.
Cửa phòng mở ra.
Linh-đa tha thướt bước vào.......
--------------------------------
1 | Elyza Bazna, gia nhân của đại sứ Anh tại Thổ, đánh cắp tài liệu bán cho mật vụ Đức quốc xã, và được trả toàn bằng tiền giả do Hít-le in. |
CHƯƠNG XILINH - ĐA
Trời đất ơi, tôi đã ghé thăm hàng ngàn tiệm may trên thế giới, đã biết mọi kiểu áo ngủ, song tôi thú thật là chưa thấy cái áo ngủ nào may đẹp bằng cái áo ngủ nàng mặc trên người. Nó được may bằng vải sợi kim tuyến vàng óng ả, làn da hồng của nàng nổi bật dưới mắt lưới kim tuyến. Có lẽ nàng đinh ninh trong phòng 8 chỉ có một mình A-lanh nên mới mặc áo ngủ hở hang. Cũng có thể nàng linh tính sẽ gặp người lạ là tôi. Ruột gan tôi sôi sùng sục vì ngoài cái áo ngủ mắt lưới mỏng dính ra, nàng không mặc gì khác bên ngoài cũng như bên trong.
Nhác thấy tôi, nàng khựng lại rồi lắp bắp :
- À anh !
A-lanh sửng sổt :
- Em ! Em cũng quen đại tá Z.28 ư ?
Tôi đỡ lời giùm nàng :
- Còn hơn quen nữa anh A-lanh ạ. Xin anh tha lỗi vì cách đây không lâu tôi trót phạm thượng đến nàng...
Tôi tuởng chọc tức được hắn. Ngờ đâu Linh-đa đã cắt ngang, giọng cong cớn :
- Anh nói gì thế ? Anh định chia rẽ chúng tôi phải không? Còn lâu mới thành công, đại tá Z.28 ơi !
Mặt A-lanh vừa sa sầm bỗng tươi lại. Lời thanh minh đúng lúc của người đẹp đã chích vào thân thể hắn một liều thuốc đại bổ. Trước mặt người lạ, nàng đã xác nhận rõ ràng là nàng yêu hắn.
Nàng chỉ đống đô-la trên bàn và hỏi A-lanh :
- Thuê hả ?
Nàng hỏi bằng giọng gái nhà giầu, coi tiền như cỏ rảc, và coi người làm công cũng như cỏ rác. Nàng hỏi ngay A-lanh song cái lối phát âm khinh bạc của nàng dường như giành riêng cho tôi.
Tôi bèn gài bẫy :
- Phải. A-lanh thuê tôi một triệu đô-la để lấy lại bản tài liệu M-14.
Linh-đa buột miệng :
- Làm gì...
Nàng ngưng lại ngay. Nhưng hai tiếng "làm gì" ngắn ngủi này đã gói ghém nhiều ý nghĩa hơn cả những câu nói tràng giang đại hải. Nàng ngưng lại ngay vi biết hớ hênh, một sự hớ hênh vô cùng dại dột A-lanh cũng không đến nỗi tối dạ nên đoán được ngay Linh-đa định nói những gì. Hắn quên bẵng tôi, quay lại phía Linh-đa hỏi dồn :
- Em đang cất giữ bản tài liệu M-14 phải không ?
Linh-đa tái mặt, nín thinh. A-lanh lay vai nàng, giọng gay gắt :
- Ô kìa, tại sao em lại nín thinh ? Tôi yêu em, tôi tin em, không dè em lại lừa tôi.
Linh-đa sẵng giọng :
- Tôi lừa anh ra sao ?
- Hừ, cô lợi dụng được tôi tin cậy đang đêm mở tủ sắt lấy trộm bản tài liệu M-14. Tôi hỏi thì cô đáp là cô quá thương Cô-rin, quá thương bà Năm nên đã có hành động nông nổi. Cô lại nói là cô bỏ quên tài liệu trong phòng cô song không nhớ ở đâu. Tôi ngây thơ cho người tìm kiếm, tôi đinh ninh thằng cha Z.28 đã chiếm được bản tài liệu nên chịu mua lại bằng một triệu đô-la... trời đất ơi, lão luyện trong nghề như tôi mà bị một cô gái 20 tuổi phỉnh gạt, phỉnh gạt như một đứa con nít miệng còn hơi sữa... Giờ đây, cô phải khai sự thật. Cò cất giấu ở nơi nào ? Nếu cô ngậm miệng, tôi sẽ.....
Linh-đa dẩu mỏ :
- Anh sẽ tra tấn tôi ?
A-lanh gật đầu :
- Dĩ nhiên.
Linh-đa cười nhạt :
- Anh đừng hòng lấy vải thưa che mắt thánh! Anh không thể nhẫn tâm tra tấn tôi nêu chỉ cần đoạt lại bản tài liệu M-14. Bản tài liệu quan trọng thật đấy song chỉ quan trọng đối với bà Năm. Ngay cả đối với bà Năm nữa. nỏ cũng chỉ có một tầm quan trọng tương đối.
- Như thế nghĩa là thế nào?
- Giản dị lắm, như thế nghĩa là anh không ngần ngại tra tấn tôi, hạ sát tôi nếu tôi không trả lại một bản tài liệu quan trọng.
- Bản M-14 ?
- Còn giả vờ làm gì nữa, A-lanh ? Tôi vừa nói, anh quên rồi sao ? Tài liệu M-14 chỉ có một tầm quan trọng tương đối. Đang còn một tài liệu quan trọng hơn nhiều. Quan trọng tuyệt đối.
A-lanh khựng người :
- Tôi hiểu rồi. Cô đã lôi tôi vào xiếc. Nhưng giờ đây tôi vẫn còn thời giờ đối phó.
- Anh sẽ giết tôi ?
- Không, tôi sẽ điều đình với cô. Cô trả lại cái ấy cho tôi, đền lại, tôi sẽ từ giã Hăm-bua ngay bây giờ sau khi ký giấy sang tên cho bà Năm những cơ sở kinh tài bạc tỉ do tôi làm chủ tại liên bang Tây- Đức.
Linh-đa rút khẩu súng lục ra cầm tay không biết từ bao giờ. Nàng lùi lại một bước rồi nói với tôi :
- Sở dĩ A-ianh nắm được hàng đống tài liệu về hoạt động trong quá khứ của bà Năm là do tướng Misa (1) cung cấp. Anh đã nghe nói đến tướng Misa bao giờ không? Misa là hiệu trưởng trường điệp báo ở Đông Bá Linh, một tay đầu sỏ mật vụ của Liên sô A-lanh là cộng sự viên đắc lực của Misa. Từ năm 1955 đến nay, gần 20.000 nhân viên gián điệp Đông Đức đã được tung vào Tây Đức, và một số khá lớn đang nắm giữ địa vị then chốt trong guồng máy an ninh liên bang. A-lanh rất khôn song không ngoan, hắn cất giữ những giấy tờ tối mật trong cái két sắt điện tử đinh ninh là bất khả xâm phạm ; trên thực tế nó là cái tủ thép bất khả xâm phạm, hễ người lạ đụng vào là bị đạn thuốc mê bắn gục nhưng em đã lén đặt máy ảnh trong phòng chụp được cách mở két và em lừa hắn ngủ say để lấy trộm tài liệu. Tài liệu làm A-lanh thất điên bát đảo là một chứng minh thư do tướng Misa cấp phát, giao cho hắn quyền điều khiển ba hệ thống gián điệp nòng cốt của HVA (2) tại liên bang Tây Đức.
Chứng minh thư này được thu nhỏ bằng phương pháp nhiếp ảnh vi-ti thành dấu chấm trên đầu chữ i dán trên một bức hình em tặng hắn. Em mở két lấy bản tài liệu M-14 và một số giấy tờ khác, luôn ca bức hình.
A-lanh chưa biết rõ em cố tình hay vô tình đánh cắp bức hình. Hắn cũng chưa biết em đã khám phá ra chứng minh thư trên dấu chữ i, nên hắn chỉ giữ em lại chứ không đả động đến thân thể em. Vả lại, hắn định chơi trò đổi chác lưu manh, hắn giả vờ lăng xăng tìm kiểm bản tài liệu M-14 nhưng kỳ thật là dùng em để làm cái mồi để nhử bà Năm và Cô-rin tới. Và hắn sẽ chộp luôn. Trả lại tài liệu và bức hình thì hắn buông tha, bằng không..
Miệng súng của Linh-đa vẫn nhằm ngực A-lanh hắn vừa nhích sang trái thì miệng súng nhích theo. Linh-đa gằn giọng :
- Anh còn chờ gì mà chưa giơ tay ?
A-lanh tỏ vẻ sửng sốt :
- Tôi muốn điều đình, và tôi cũng tin là phe cô muốn điều đình. Tài sản của tôi ở đây không phải là nhỏ. Vâng, tôi không phủ nhận là cộng sự viên gần gũi của tướng Misa. Làm nghề này thì bị lột mặt nạ là thưowngf ; trong quá khứ hàng chục thủ lãnh điệp báo đông-tây cùng cỡ như tôi đã bị lột mặt nạ, song đều được đi ra thong thả. Cô Linh-đa, tôi đề nghị với cô lần nữa và là lần cuối cùng. Nếu cô không chấp thuận, tôi sẽ liều mạng cướp súng. Chắc chắn cô sẽ lảy cò trước và tôi sẽ trúng đạn. Nhưng tôi sẽ gây khó khăn cho cô. Võ nghệ của tôi có thể làm cô táng mạng. Đó là tôi chưa nói đến bọn đàn em của tôi đang túc trực bên ngoài cửa. Cô đừng quên, xưởng phim rộng mênh mông này là giang sơn của tôi, là pháo đài kiên cố của tôi, dẫu giết được tôi, cô cũng khó hy vọng ra thoát.
Linh-đa cười khẩy :
- Vâng xưởng phim này là pháo đài kiên cố, nhưng đó là kiên cố với anh. Anh đừng nghĩ đến bọn đàn em trung thành nữa, giờ đây sào huyệt của anh đã bị bao vây......
Nàng chưa nói dứt câu thì A-lanh đẩ xồ lại. Lối đá tréo của hắn đã đạt đến trình độ siêu đẳng của cước pháp karaté, hắn đá vừa nhanh lại vừa lợi hại. Linh-đa vẹo người để tránh đòn, song cái mũi giầy da cứng nhọn của hắn đã móc vào hông nàng.
A-lanh chỉ cần một ngọn cước giản dị để lập lại thế quân bình. Linh-đa chưa bị trọng thương, nhưng đã bị loại khỏi vòng chiến trong khoảnh khắc. Khẩu súng đắc lực giúp nàng giữ vững tình thế ưu thắng đã vuột khỏi bàn tay búp măng của nàng,rớt "phịch" trên nền nhà lót li-nô-lê-um hãm thanh. Nàng kêu hự một tiếng rồi loạng choạng xỉa vào đống giấy bạc đô-la mới toanh, còn thơm mùi mực in và mùi giấy mới.
Nếu A-lanh tấn công bằng đòn nhẹ, tôi cũng không thể khoanh tay làm thinh. Phương chi hắn lại dùng đòn chết. Cú đá của hắn nhắm thẳng vào huyệt đạo dưới nách. May nàng đổi thế kịp, nếu không nàng đã trở thành khối thịt không hồn.
Đánh đàn bà đẹp bằng bông hồng là cử chỉ còn có thể tha thứ, cho nên không một giây đồng hồ nghĩ ngợi tôi vù tới, và ngay trong thế võ khởi trận tôi đã vận dụng độc thủ. A-lanh cũng đón tôi bằng độc thủ. Phép đánh đỡ của hắn sặc mùi karaté Xung Thằng, nghĩa là một loại karaté chính giáo gồm nhiều thế chân truyền.
Người ta thường đặt tên cho võ karaté xuất hiện tại đảo Xung Thằng là không-thủ đạo. Thật ra,không-thủ đạo được khai sinh từ Trung quốc từ trên ba ngàn năm nay, trong khi nhu thuật chỉ có 250 tuổi và nhu đạo 80 tuổi; đòn của không-thủ đạo thường ác liệt hơn, tập luyện cũng khó khăn và mất nhiều công phu hơn. Tôi đã có nhiều dịp trau dồi không-thủ đạo ở miền nam và miền Bắc nước Tàu, võ miền nam chuyên về tay, còn võ miền Bắc chuyên về chân, nên sau khi thấy A-lanh xuất chiêu tôi biết ngay hắn đã theo học cước quyền Hoa-Bắc. Dường như hắn chỉ đá chứ không dùng tay, ngón đá của hắn cũng vô cùng độc đáo, hắn không tấn công thượng bộ là khu vực có nhiều huyệt đạo mà chỉ hướng vào hạ bộ, nhất là dạ dưới, dịch hoàn ở phía trước và đốt xương xương cụt và tọa cốt thần kinh ở sau lưng.
A-lanh chào tôi bằng ngọn cước vào dịch hoàn, tôi hoành tay hất ra thân tôi hơi nghiêng, hắn tiếp theo với đòn mũi giầy vào đốt xương cụt. Nghĩa là hắn không nhân nhượng. Hắn chủ tâm giết tôi một cách nhậm lẹ và tàn bạo.
Tôi gạt luôn hai đòn chết của A-lanh, tuy nhiên tôi chỉ phòng vệ. Thái độ cầm chừng của tôi không phải là thủ đoạn võ lâm thông thường kéo dài thời giờ để nghiên cứu tài nghệ đối phương. Tôi đã biết rõ nguồn gốc không-thủ đạo của hắn cũng như biết rõ các tên hiệu xe đua quốc tế. Hắn theo một phái ở Miền tây bắc Trung hoa chuyên về cước pháp liên hoàn. Tối thiểu hắn phải phóng ra hai ngọn cước liên tiếp, và mỗi khi tấn công hắn phải thót bụng và nhịn thở, vận khí xuống chân. Nếu đá trật mục phiêu, hắn sẽ bị suy giảm một phần chân khí, thượng bộ bị để trống. Vì vậy, tôi chờ cho A-lanh tống ra bốn cái đá kinh thiên động địa. Hắn vừa rút chân về, chưa kịp chuyển thế tôi đã vụt lên, chĩa đầu ngón tay vào mặt hắn. Hắn thụp xuống để tránh, nhưng lại vướng phải cùi tay của tôi.
Xương khuỷu tay của tôi đánh trúng huyệt kiốtsu trên ức. Tôi chỉ nghe tiếng "rụp" rồi A-lanh ngã vật ra sau. Trong khi ấy, Linh-đa lồm cồm bò dậy.
Nàng còn lảo đảo song tinh thần nàng đã phục hồi sự minh mẫn cần thiết. Bằng chứng là nàng chuồi tay xuống sàn phòng lượm khẩu súng đánh rơi hồi nãy.
Nàng đã thấy tôi đánh A-lanh ngã. Nàng cũng đã thấy A-lanh nằm sóng sượt; tay bắt chuồn chuồn. Vậy mà nàng vẫn quyến luyến khẩu súng. Nàng cầu cứu đến khí giới chẳng phải để triệt hạ A-lanh.
Mà là triệt hạ tôi.
Tôi giả vờ luống cuống cho nàng lượm xong khẩu súng mới bước xéo lên, khóa tay nàng lại. Ngón tay nàng đã bóp cò. Viên đạn bay ra khỏi nòng thép hãm thanh kêu "bụp" êm tai, nhưng kẻ trúng đạn lại là A-lanh. Tôi đã chủ tâm điều khiển cho viên đạn đồng quái ác xuyên qua ức nạn nhân. Lồng ngực A-lanh vỡ toang.
Linh-đa thét lớn :
- Trời ơi, anh hại tôi !
Tôi mỉm cười, hất khẩu súng trong tay nàng rớt lại xuống đất :
- Hại nhân thì nhân hại, có gì đâu mà cô em phải la hoảng ? Giờ đây A-lanh đã chết đứ đừ, chết vì viên đạn của cô em, không phải vì đòn atêmi vào xương ức của tôi. Phen này cô em định chơi xỏ tôi, không ngờ lại bị tôi chơi xỏ lại...
Linh-đa quắc mắt giơ tay tát tôi. Tôi không né tránh. Hơn thế nữa tôi còn chìa má cho nàng tát. Đức Phật dậy rằng hễ bị kẻ yếu đánh thì nên chịu đòn, (xin lỗi quý vị am tường kinh Phật, có lẽ Phật chỉ dậy mang máng như thế, tôi ít đọc sách nên nhớ lõm bõm...). Da thịt tôi được luyện tập nhiều năm đã đạt tới mức độ cứng như sắt, tôi đinh ninh cái tát của mỹ nhân chỉ có tính cách phủi bụi mà thôi.
Không dè cô em Linh-đa mảnh mai kia lại có cú đánh sấm sét, tôi đã vận công mà vẫn cháy má như thường. Nàng tát tôi dau điếng, tôi lại trình luôn má bên trái cho nàng:
- Em giận anh ư ? Em tát anh nữa đi, tát thêm nữa cho bớt giận...
Nàng bần thần nhìn tôi rồi như tuân theo một mạng lệnh vô hình, nàng ôm chầm lấy tôi hôn lấy hôn để. Nước mắt nong nóng của nàng chảy vào vết đau trên má tôi, và thấm vào miệng tôi một mùi mằn mặn. Chao ôi, Linh-đa có lối hôn kỳ lạ, môi nàng như có chất điện làm tôi rung rung rung rung, toàn thân tôi cũng rung rung rung rung...
Chúng tôi đang quên đời trong cái hôn dài vô tận thì cánh cửa xẹt mở, thằng cha giám đốc ma-cô lù lù dẫn xác vào.
Và trên tay hắn cũng có súng. Khẩu súng 12 li to tướng còn bốc khói ngun ngút.
Hắn cất tiếng lanh lảnh :
- Mời ông đại tá buông cô Linh-đa ra và rút lui ngay !
Tôi nhả người đẹp ra nhưng chưa chịu rút lui. Tôi tiến lại két giấy bạc, thu lại thành đống, lấy tờ báo trải rộng ra, gói lại rồi ung dung cặp dưới nách. Linh-đa thở dài bảo lão giám đốc ma-cô :
- Cất súng đi. Mình thua rồi. Mình dùng ông Z.28 để giết A-lanh, trút hết trách nhiệm vào đầu ông Hoàng, không ngờ A-lanh lại cbết vì viên đạn của tôi.
Lão giám đốc ma-cô cũng thở dài, nhét khẩu súng vào túi. Tôi ôn tồn bảo hắn :
- Cám ơn anh đã lái xe lính quýnh cho A-lanh rượt theo kịp. Chúng ta đã mất khá nhiều thời giờ đòn phép với nhau. Thú thật, tôi đã quen nhiều điệp viên xanh vỏ đỏ lòng, song chưa quen ai xanh vỏ đỏ lòng bằng anh. Anh lãnh lương của ông Hoàng, đồng thời làm việc cho A-lanh và cho bà Năm, anh lãnh nhiều lương như vậy tiêu xàí đâu cho hết ?
Hắn nhỏ nhẻ đáp :
- Nhưng chung cuộc tôi đã trung thành với bà Năm và sở Hành động Hải ngoại. Nghĩa là chúng ta ở cùng phòng tuyến. Tôi đã làm thịt bọn đàn em của A-lanh bên ngoài cho anh được thong dong đấu lý và đấu sức với A-lanh.
Tôi lẳng lặng nhặt khẩu súng của Linh-đa lên tay và hỏi, giọng lơ đãng :
- Lần này, anh đã nói thật chưa ?
Hắn giương cặp mắt hấp háy :
- Nói thật. Nói thật trăm phần trăm.
Tôi liền nâng họng súng ngang ngực lão giám đốc ma-cô:
- Tôi đã có nhiều dịp xác định sự nói thật trăm phần trăm của anh. Nếu anh trung thành với bà Năm anh đã không giả vờ bất tỉnh trên xe.
- Khổ quá, lòng tôi sáng như mặt nguyệt, anh đã nghi oan cho tôi.
- Hừ, lòng anh là mặt nguyệt nhưng là mặt nguyệt một đêm cuối tháng mưa dầm bị mây đen che phủ. Tôi hích cùi tay vào giữa ngực anh, anh là con nhà võ tất biết giữa ngực có một huyệt chết duy nhất, võ Tàu gọi là huyệt thiên-bình-trâm, đặc điểm của huyệt này là đánh trúng thì chết không kịp ngáp nhưng nếu đánh trệch ra ngoài, chỉ trệch một vài phân tây lại chẳng hề hấn, nặng nhất là bị đau điếng, chứ không thể gây ra bất tỉnh. Tôi đã xuất đòn rất nhẹ, và thận trọng đánh xa huyệt thiên-bình-trâm những ba phân tây, nghĩa là tôi không chủ tâm đánh anh ngất. Song trên thực tế, anh đã ngất; anh đã giả vờ ngất, và tệ hơn nữa anh đã ngất thật lâu. Tại sao vậy ? Vì A-lanh dặn anh theo tôi để tìm cách đoạt lại tài liệu của tướng Misa, anh đã vận dụng mọi thủ đoạn lừa lọc ngọt ngào nhưng thất bại, cho nên anh giao trả tôi cho A-lanh để hắn làm tình làm tội tôi. Đúng hay sai, hả anh bạn giám đốc du lịch đưa gái ?
Lão giám đôc ma-cô nín thin thít. Tôi tiếp tục hài tội hắn bằng giọng gay gắt :
- Tôi đã tạo cho anh ít nhất một cơ hội cải tà quy chính, bỏ rơi A-lanh để về với chúng tôi mà anh vẫn ngoan cố. Tôi hỏi là máy ghi âm bí mật trong xe được tắt hay mở, anh đã dõng dạc trả lời rằng "tắt". Anh lừa tôi sao nổi ? Loại máy ghi âm này do sở kỹ thuật GRU chế tạo, nút mở tắt nó được nối vào cái cần nháy đèn pha trên trên vô-lăng. Vỏ quít dầy, móng tay nhọn, anh già ơi, khi rời phim trường tôi giành lấy tay lái, nhưng sau khi từ tòa nhà cất dở ra tôi lại nhường tay lái anh để thử lại lòng anh. Đèn pha đã bật sáng, anh lại tắt đi và nháy đèn để mở máy ghi âm báo tin cho A-lanh. Khi về đến đây, A-lanh đã phạm phải một lỗi lầm tai hại cho anh, anh là tù nhân mà hắn không hề ra lệnh giam giữ...
Lão giám đốc ma-cô nhe răng cười, một giọng cười ghê rợn :
- Vâng, tôi xin bái phục anh sát đất. Tôi là Cộng sự viên của A-lanh. Những điều anh vừa nói rất đúng vói sự thật. Tôi đã cảnh cáo A-Ianh mà hắn một mực không nghe. Hắn tự cho tài ba hơn anh. Tôi thua anh là việc dĩ nhiên, tôi chỉ ân hận là sau hàng chục năm lăn lộn trong nghề với hai thứ tóc trên đầu mà còn dại...
- Bây giờ anh tính sao ?
- Con kiến cũng thèm sống huống hồ con người, Tuy nhiên, tôi không dám xin anh khoan hồng. Vì tôi đã lật lọng quá nhiều. Giá lần này tôi hoàn toàn thành thật, tôi không nói dối một li, anh cũng không tin tôi. Cho nên tôi sẽ không xin xỏ. Tính mạng tôi nằm gọn trong ngón tay anh. Anh bóp cò thi tôi phải chết. Và tôi sẽ chết một cách an phận.
Nòng súng đang chĩa thẳng ngực lão giám đốc ma-cô, tôi bèn nghiêng góc 45 dộ. Nghĩa là nếu tôi lảy cò, viên đạn sẽ cắm xuống đất. Cử chỉ này chứng tỏ minh bạch là tôi không chủ trương giết hắn. Lão giám dốc ma-cô khựng người một giây, hai mắt mở rộng, cánh mũi phập phồng, gân cổ căng thẳng, mặt đang xanh mét trở nên hồng hào. Hắn tiến lên một bước, giọng khản đặc vì kinh ngạc :
- Anh không giết tôi ?
Tôi lắc đầu :
- Không.
Hắn rướn cổ hỏi tôi,giọng vẫn chưa hết kinh ngạc:
- Điều kiện ?
Tôi cười xòa :
- Nói ở đây bất tiện. Chúng ta sẽ thảo luận sau.
Trong nghề điệp báo hành động, sắp giết rồi tha giết là chuyện xảy ra như cơm bữa. Lý do của sự tha giết là phe thua chấp thuận điều kiện của phe thắng. Lão giám đốc ma-cô tự hào có nhiều kinh nghiệm, đinh ninh tôi coi hắn là con gà đẻ trứng vàng...tin tức tối mật, nên hỏi gặng tôi đưa ra những điều kiện gì. Hắn không thề ngờ rằng tôi chỉ giả vờ tha giết. Tôi tha giếi không phải vì tôi muốn khai thác hắn. Tôi tha giết chỉ vì tôi không thể lảy cò. Luật lệ liên bang Tây Đức khá cứng rắn, họ có thể lôi tôi ra tòa về tội sát nhân. Bà Năm và người đẹp Cô-rin sẽ chẳng ngần ngại tiếp tay với quan tòa phết cho tôi từ 10 đến 20 năm tù, mặc dầu trên nguyên tắc cũng như trên thực tế chúng tôi là đồng minh keo sơn, và tôi đang phục vụ cho ban Hành động Hải ngoại của điệp báo Tây Đức.
Câu hỏi dại dột của lão giám đốc ma-cô và câu đáp ngắn ngủi của tôi làm cho Linh-đa đứng bên điên ruột. Nàng nổi xung là đúng, vì tôi vừa gián tiếp báo cho nàng biết là tôi sẽ trọng dụng lão giám đốc ma-cô, mượn tay hắn để moi móc những bí mật động trời trong guồng máy an ninh của giai nhân Cô- rin. Linh-đa là em gái của Cô-rin, nàng phải tìm cách bảo vệ chị nàng. Vì vậy Linh-đa đã chộp lấy khẩu súng và bắn luôn ba phát.
Nếu tôi không cho phép nàng cướp súng thì đến kiếp sau nàng cũng thất bại. Tôi đã cố tình nhích lại gần nàng, bàn tay áp hờ trên bá súng, tạo điều kiện ngon ơ cho nàng thành côngNhưng tôi chỉ cho phép nàng hạ thủ lão giám đốc ma-cô rồi đòi lại khẩu súng. Vì có thể trong cơn tức tối nàng sẽ cho tôi ăn đạn đồng.
Giá nàng bắn xoàng lão giám đốc ma-cô cũng bị trúng đạn. Phương chi nàng lại là nhân viên hành động ưu tú. Cho nên cả ba viên đạn chết chóc đều cắm vào da thịt nạn nhân. Hắn nhìn thấy Linh-đa vừa đoạt súng, và trong vi-phân thời khắc trước khi đáp chuyến tàu suốt sang bên kia thế giới hắn đã khám phá ra thủ đoạn ác độc của tôi. Hắn toan nhảy xồ lại, đánh ván bài tháu cáy nhưng ba viên đạn đã phóng khỏi nòng nhanh hơn. Rốt cuộc hắn ngã khuỵu. Song hắn chưa chịu chết. Viên thứ nhất xuyên qua lồng ngực, suýt trúng tim. Hai viên sau phá thủng ruột non. Hắn lấy bàn tay ôm ngực và bụng, miệng thều thào :
- Hừ... đồ khốn nạn...
Tôi biết là hắn giành những danh từ nặng nề này cho tôi. Nhưng Linh-đa lại tưởng hắn chửi nàng. Vì vậy nàng nã thêm cho hắn một loạt đạn nữa. Nàng bắn liên tục đến khi xạt-giơ rỗng không mới bừng tỉnh. Lẽ ra nàng phải tiết kiệm đạn đồng đế biếu tôi một viên. Nàng quay mũi súng về phía tôi nhưng tôi đã cười hì hì :
- Hết đạn rồi, cô em !
Nàng nghiến răng bóp cò. Song chỉ nghe "cụp" một tiếng. Nàng nhăn mặt ném khấu súng vô dụng xuống đất.
Rồi bưng mặt khóc hu hu.
Nhiều người thường ví điệp viên Z-28 với bức tượng đồng hun ngoài công viên, năm tháng cứ việc trôi qua, nhân thế cứ việc già, xã hội cứ việc mà thay
đổi, bức tượng vẫn không hề suy xuyển. So như vậy là sai; vì trên thực tế trái tim tôi còn mềm hơn nệm mút và còn ròn tan dễ vỡ hơn cả bánh phồng tôm Sa-giang chính hiệu nữa. Đứng trước đàn bà khóc tỉ tê, nhiều khi tôi xửng vửng ; nên tôi cảm thấy mủi lòng khi thấy Lynh-đa tiếp tục rót nước mắt xuống hai bàn tay ngón búp măng, trắng như ngà...
May phước cho tôi..., nếu giai nhân sụt sùi thêm vài phút nữa là bao nhiêu công trình của ông Hoàng trở thành dã tràng xe cát.
May phước cho tôi..., vì trong lúc tôi đang hoang mang thì cửa xịch mở, bà Năm bước vào. Đúng hơn, bà Năm hấp tấp chạy vào phòng. Bà vẫn mặc bộ y phục hồì tối, cặp kiếng trắng đeo trễ trên mũi, nhưng sự tự tin bách chiến bách thắng trên dung mạo của bà đã nhường chỗ cho những nét lo lắng.
Hai xác chết nóng hổi nằm co quắp trên nền phòng làm bà Năm đứng khựng. Bà suýt vấp phải lão giám đốc ma-cô, mặt bà đã tái xanh lại càng tái xanh hơn. Bà nhìn thi thể lão giám đốc, nhìn tôi rồi nhìn Linh-đa, giọng nói khản đặc như thể cuống họng bị bóp nghẽn :
- Ai bắn ?
Tôi nhanh nhẩu trả lời :
- Thưa bà, không phải tôi.
Một giọt bồ hôi lạnh chảy trên vầng trán răn reo, bà Năm quay về phía Linh-đa :
- Cháu nổ súng ?
Linh-đa gật đầu, dáng điệu thiểu não. Bà Năm cúi xuống xem xét vết thương từng nạn nhân. Giây lâu bà đứng lên, thở dài với tôi :
- Ông là hiện thân của quỷ sứ !
Tôi cười mỉm, chỉ tay lên cuốn lịch in hình một cô gái khỏa thân thỗn thện treo trên tường :
- Cám ơn bà đã khen tôi. Hôm nay là ngày thứ sáu trong tuần. Theo tín ngưỡng của người theo đạo Thiên Chúa cổ xưa thì ngày thứ sáu trong tuần là ngày nên biến làm quỷ sứ.
Lời giải thích vặn vẹo của tôi làm bà Năm giận tím mặt. Vì tôi đã chơi chữ một cách xấc xược với bà. "Quỷ sứ thứ sáu" là một loại quỷ sứ nhà Trời, nó làm đán ông xấu trai thành đẹp trai, đàn ông ghét tình thành khoái tình, nó là ông Tơ bà Nguyệt giúp đỡ những chàng trai lẻ loi, và hơn thế nữa, nó còn là thần Tài mang tiền bạc đến ê hề...
Tôi tưởng thái độ châm chọc của tôi làm bà Năm nổi tam bành. Tuy nhiên, bà chỉ tím mặt chứ không lớn tiếng. Bà hạ thấp giọng :
- Ông Văn Bình, ông hại tôi.
Tôi giả vờ nhăn nhó :
- Thưa bà, bà kết tội hoàn toàn không đúng, A-lanh là cộng sự viên của tướng Đông Đức Misa còn lão giám đốc Du lịch hướng đạo xã là cộng sự viên của A-lanh. Họ là nội tuyến gián điệp cộng sản, tội của họ đem tùng xẻo ra từng miếng cũng còn nhẹ...
Giọng bà Năm trở nên rền rĩ thêm:
- Ông càng nói tôi càng thêm đau đớn. Ông Văn Bình ơi, ông hại tôi, giờ đây chúng tôi biết ăn làm sao, nói làm sao với ông tổng giám đốc.
Tôi ngắt lời bà :
- Thưa bà, ông tổng giám đốc Hoàng vẫn luôn luôn quý mến bà, và bà phó giám đốc Cô-rin.
- Ông Văn Bình, ông còn định xỏ ngọt tôi nữa ư? Ông thừa biết ông tổng giám đốc tôi vừa nhắc đến là ông tổng giám đốc điệp báo liên bang Tây Đức, nghĩa là thượng cấp trực tiếp của Cô-rin và tôi.
Tôi giả vờ ngẩn tò te, bà Năm chỉ thi thể lão giám đốc ma-cô đang nằm nhăn răng rồi tiếp tục :
- Thế là hết bao nhiêu cố gắng hòa giải của tôi sắp trở thành công cốc.
Tôi lại giả vờ ngu si :
- Thưa bà, hòa giải với ai ?
- Trời đất quỷ thần ơi, trừ phi ông cố tình đóng trò, ông thừa biết là từ lâu nay có sự bất hòa giữa Cô-rin và ông tổng giám đốc. Tôi phải đứng ra dàn xếp. ông tổng giám đốc đã sẵn sàng thông cảm thì đàn em thân tín bị chúng tôi giết.
- Lão ma-cô này là đàn em thân tín của ông tổng giám đốc ?
- Phải. Ông Hoàng dùng hắn làm tai mắt ở Hăm-bua vì không lạ gì về quá khứ cũng như hoạt động hiện tại của hắn. Hắn được ông tổng giám đốc của chúng tôi che chở, chúng tôi không rõ nguyên nhân. Giờ đây hắn bị bắn chết có khác nào Cô-rin khai chiến với ông tổng giám đốc.
Bà Năm gằn giọng hỏi Linh-đa :
-Tại sao, tại sao ?
Linh-đa đáp như khóc :
- Cháu cũng không biết nữa. Thật ra, cháu định bắn ông Văn Bình, nhưng ông ấy đã nắm tay cháu, bẻ lạc miệng súng...
Bà Năm nghiến răng :
- Hiểu rồi, hiểu rồi. Song cũng chẳng sao. Ông Văn Bình, ông đừng vội kiêu ngạo. Những việc vừa xảy ra trong phòng này chỉ có mình ông chứng kiến, cảnh sát, tòa án và ông tổng giám đốc sẽ nghĩ rằng thủ phạm là ông.
Tôi mỉm cười :
- Thưa bà, bà là người trên, bà dậy sao thì người dưới được nhờ, tôi đâu dám phản đối. Tuy nhiên, lần này tôi xin bà tha lỗi. Vì hồi nãy ngoài tôi ra còn có một người nữa.
Bà Năm mở tròn mắt :
- Còn có một người nữa ? Và là người của ông.
- Thưa vâng. Người này là chuyên viên nhiếp ảnh.
- Chết tôi rồi. Té ra ông đã lén lút chụp hình.
- Vì vậy tôi mới xin bà tha lỗi.
- Người chụp hình của ông đâu rồi ?
- Thưa bà, phút này hắn đã ngồi an toàn trong phòng tối. Nhưng hắn chưa rửa thành phim. Hắn còn chờ lệnh tôi. Nếu kết quả của cuộc điều đinh khả quan, hắn sẽ...
- Hiểu rồi, hiểu rồi... ông Văn Bình trời đánh thánh vật ơi, tôi mang hai thứ tóc trên đầu mà vẫn bị phỉnh gạt dễ dàng. Vâng, tôi xin đầu hàng ông; tôi bằng lòng điều đình để lấy lại cuộn phim vừa chụp, điều kiện ra sao, xin ông cho biết.
Tôi sướng rơn song ngoài mặt vẫn phải nghiêm trang. Vì nếu tôi vui mừng lộ liễu thì bà Năm sẽ khám phá ra tôi nói láo. Vâng, tôi đã phịa ra hoàn toàn (như Ngưòi thứ Tám từng tiểu thuyết hóa các hoạt động của tôi ), sự thật là trong phim trường này chỉ có mình tôi, không có mống cộng sự viên nào hết. Tôi vuốt cằm ra vẻ suy tư, hồi lâu mới chịu trả lời :
- Thứ nhất, tôi xin phép bà được lấy hết số tiền đựng trong két của A-Ianh, đây không phải là tiền mang về nộp cho ông Hoàng, mà là tiền tiêu riêng về phần tôi. Chẳng có là bao, tôi tin bà sẽ chấp thuận (hàng triệu đô-la Mỹ mà "chẳng có là bao" ư, bằng chứng là bà Năm nhăn mặt song vẫn không dám từ chối). Điều kiện thứ hai, tôi còn lưu lại Hăm-bua 24 tiếng đồng hồ nữa, và trong thời gian này xin bà cụ thể hóa những điều cam kết về nhà máy sản xuất võ khí và các dụng cụ điện tử nghề nghiệp. Sau đó...
Bà Năm ngắt lời tôi là làm. Tuy nhiên...
Đến phiên tôi ngắt lời bà Năm :
- Bà sợ ông tổng giám đốc của bà phiền lòng về vụ đàn em thân tín bị giết phải không ? Xin bà yên tâm. Có ăn tất có chịu, tôi sẽ gánh hết trách nhiệm. Bà tha hồ đổ tội cho tôi sau khi tôi lên máy bay.
Bà Năm cười, lần này bà cười một cách vui vẻ thật sự : Nhưng miệng bà vội mím lại vì bà vừa bắt gặp luồng nhỡn tuyến của Linh-đa. Nàng nhìn tôi đắm đuối bằng đuôi mắt. Không bỏ lỡ cơ hội tôi buớc lại bên nàng. Tôi nắm tay nàng, và hôn vào cặp môi chín mọng, Bà Năm toan cản lại nhưng không kịp nữa, môi Linh-đa đã đeo cứng môi tôi, bà Năm đành quay mặt ra chỗ khác.
Chúng tôi đang rủ nhau vào cõi mộng thì có tiếng giầy cồm cộp sau lưng và gã hộ pháp có cái tên rất Việt-nam là Chú Tám lù lù hiện ra, bàn tay chuối mắn của hắn quặp cổ tôi, toan lôi ra khỏi vòng tay bốc lửa cùa người đẹp. Da dẻ hắn đỏ hỏn, mặt hắn dữ tợn và gớm ghiểc, hắn trương mắt ngó tôi, như muốn bảo tôi "liệu hồn".
Hồi tối gặp hắn, tôi đã định cho hắn một bài học. Hắn đừng tưởng con cháu vua Hùng bé nhỏ không dám chơi trèo với khổng lồ phương Tây hai mét. Sở dĩ tôi chưa ra tay là vì vuốt mũi còn phải nể mặt. Nhưng tôi không thể nhẫn nhục thêm nữa vì hắn đã cố tình hạ nhục tôi trước mặt người đẹp. Tôi bèn gồng người, hai chân tôi biến thành cột sắt chôn sâu xuống đất, hắn phồng má trợn mang mà tôi vẫn đứng trơ trơ. Hắn phải buông tôi ra để thở, tôi bèn cười khì một tiếng rồi tung quyền. Năm ngón tay của tôi nằm gọn trên cái má bánh đúc, hắn kêu rú đau đớn, khối thịt nặng trên dưới một tạ quay tròn hai vòng.
Tuy vậy hắn chỉ quay tròn như chong chóng mà chưa chịu ngã. Tôi co chân, sửa soạn biểu diễn đòn đầu gối bắt hắn đo ván. Song một chuyện bất ngờ đã xảy ra. Giai nhân Linh-đa đã giải quyết giùm tôi. Tôi không hiểu tại sao nàng lại đánh ngã chú Tám, vệ sĩ của bà Năm và là cộng sự viên của nàng. Có lẽ hành động phá dám của chú Tám đã khiến nàng nổi giận.
Chú Tám đáng thương lãnh cú đá móc khá độc vào bao tử. Nạn nhân chỉ hự được một tiếng nhỏ rồi nằm mọp luôn lên trên nền nhà.
Được Linh-đa bênh vực, tôi vui vẻ ôm vai nàng. Tôi cúi xuống, chuẩn bị thưởng nàng cái hôn thật xứng đáng. Tôi đinh ninh nàng đang ngửa mặt, hé cặp môi hàm tiếu để đón nhận. Cho nên tôi nhắm mắt lại.
Tôi không ngờ — vâng, trong đời này chắc mọi người đàn ông đều không ngờ như tôi — là Linh-đa chờ tôi cúi xuống gần đụng môi nàng mới giang thẳng tay đốp cho tôi một cái tát như trời giáng. Nàng tát hụt xuống cổ nhưng tôi cũng đã choáng váng. Tôi chưa hiểu nếp tẻ ra sao thì nàng xấn theo, đấm thùm thụp vào lưng tôi. Tôi không dám tránh đòn cũng chưa dám phản công vì vừa đấm nàng vừa rủa "anh chết đi, anh chết đi, anh chết đi". Cử chỉ giận hờn và nũng nịu này chứng tỏ nàng đang lên cơn ghen. Tại sao nàng ghen ? Tôi chưa kịp tìm ra lý do thì Linh-đa đã ôm chầm lấy tôi vag khóc rưng rức.
Lần này bà Năm phải vất vả lắm mới gỡ được cô cháu đa sự ra khỏi tay tôi. Bà nói mếu máo như muốn khóc :
- Cháu ơi, cháu làm trò gì thế ? Có chịu buông đại tá Z.28 ra không ? Buông rau ngay, mọi người trông thấy thì còn ra thể thống gì nữa ?
Bà Năm kéo Linh-đa ra xe hơi. Tôi lặng lẽ nhìn theo bà. Phim trường vẫn vắng tanh không có một ai. Tôi bách bộ ra cổng. Trời đã sáng. Thị trấn yêu đương Hăm-bua vừa thức sau một đêm dài cuồng loạn. Tôi cũng vừa thức một đêm dài cuồng loạn.
Tôi vẫy tắc-xi. Chắc chắn đây là tắc-xi của tình báo Tây Đức. Tôi chắt lưỡi trèo lên rồi cười duyên với gã "cớm chìm" ngái ngủ, ra lệnh cho hắn lái ra bờ biển Busum.
Busum đối với Hăm-bua cũng như Vũng Tàu đối với Sài gòn, chỉ gần hai giờ đồng hồ xe hơi là đến nơi. Cũng có bãi cát nên thơ, sóng biển nên thơ, và những cuộc gặp gỡ nên thơ. Nhưng về phương diện tiện nghi tình ái, Busum vượt xa Vũng Tàu hàng trăm cây số. Vì Vũng Tàu là thiên đường của đàn bà đẹp. Ra Cấp, mặc đồ tắm hai mảnh nhỏ xíu và mỏng dính, người đẹp có tấm thân cân đổi, rắn chắc trở thành trung tâm điểm của vũ trụ, đàn ông đuổi đi cả ngày cả đêm không hết. Ngược lại, Busum là thiên đường của đàn ông đẹp. Đàn bà Đức đói tình thường rủ nhau đến Busum. Tại đó, hàng chục, hàng trăm thanh niên khôi ngô và cường tráng đã túc trực chờ đợi. Họ làm việc có giá biểu đàng hoàng, tiền giờ, tiền ngày hoặc tiền tháng. Lão giám đốc du lịch ma-cô khoe có đại lý ở Busum đủ khả năng giải sầu cho những nữ thân chủ khó tính nhất.
Phương châm hoạt động của Sở là "một công đôi ba việc". Tôi đến Busum lá để du hí, nhưng du hí chỉ là phụ thuộc. Một điệp vụ hiểm nghèo đang chờ tôi trên bãi cát trắng mát gồm những mỹ nhân da dẻ trắng mát.....
NGƯỜI THỨ TÁM(Viết theo lời tự thuật của điệp viên Z-28)1 . Đó là tướng Markus Wolf, bí danh Mischa, hiệu trưởng trường huấn luyện HVA tọa lạc tại vùng ngoại ô thị trấn Đông Bá linh.