Văn Bình rẽ thật nhanh vào đường Lãn Ông. Hànội đã bắt đầu lên đèn.
Chàng mừng thầm vì dưới ánh đèn phòng thủ thụ động, thành phố Hànội trở nên tối om, sương mù hoàng hôn lại đổ nhiều, đi xa nhau mười thước không nhận rõ mặt.
Sau một ngày tham quan mệt mỏi, hết khu Việt kiều cư trú đến nhà máy dệt kim Đông Xuân, công trình xây cất Ba Đình, phái đoàn trở về Trạm Hàng Mành nghỉ ngơi một lát rồi sửa soạn đi dự tiếp tân, ca nhạc. Nhờ sự thu xếp của Vũ Kính, chàng có thể cáo ốm ở lại, và mọi người vừa lên xe, chàng đã lẻn ra cửa sau - một lối riêng do Vũ Kính chỉ dẫn - trà trộn vào đám người đông đúc đi làm về.
Chàng phục sức giống như người dân Hànội nên không bị để ý. Tuy nhiên, chàng vẫn thận trọng, chốc chốc dừng lại, giả vờ ngắm hànghóa bày trong tủ kính, hoặc đọc một tờ bích chương to tướng, in chữ lòe loẹt dán trên tường, để liếc lại phía sau.
Đến khi biết chắc không bị ai theo, chàng mới lên tàu điện xuống phố Huế.
Qua rạp xi-nê, chàng nhảy xuống, tản bộ sang bên phải rồi đứng đợi dưới một gốc cây lớn.
Một toán công an viên võ trang đạp xe lướt qua. Văn Bình điềm nhiên châm thuốc Salem.
Một cái xe hơi nhỏ sơn đen, cũ kỹ đậu sẵn bên lề đối diện, vặn pha lên, rồi vòng qua đường về phía chàng. Tài xế tắt đèn, phì phèo thuốc lá, trước khi mở cửa xe, cúi xuống nhìn lốp trước dường như để kiểm điểm xem bánh có bị xẹp lốp không.
Đứng cách ba thước, Văn Bình huýt sáo bài "Diệt phát-xít", bài ca thịnh hành năm 1945, hiện được đài bá âm Hànội dùng đoạn đầu làm tín hiệu.
Nghe tiếng huýt sáo, tài xế trèo lên xe. Văn Bình tiến lại gần, và lên tiếng trước:
- Chào anh. Có phải xe hơi của đồng chí Liêm không?
Tài xế - một thanh niên gầy gò, nét mặt lì lợm - ném mẫu thuốc lá xuống đường, đáp:
- Không phải, đây là xe riêng của bác sĩ Minh.
Chẳng nói, chẳng rằng, Văn Bình mở cửa trước, chui vào. Tài xế chìa tay ra bắt:
- Z.62 dặn tôi chờ anh ở đây. Chiếc Moskwich này tuy nhỏ, máy lại rất mạnh. Tôi đã gắn một bình xăng riêng, có thể chạy 150 cây số một giờ. Anh cần tôi đi theo không?
- Không. Cám ơn anh. Anh nói lại giùm với Z.62 rằng, nội đêm nay, tôi sẽ để xe ở vườn hoa Cửa Nam.
- Vâng. Tôi sẽ làm theo ý anh.
- Trong thùng còn bao nhiêu xăng?
- Mới đổ hồi chiều đầy ắp. Ở đây không có cây xăng tư nhân. Phải có phiếu mới mua được. Anh có thể chạy ba trăm cây số mới hết. Ở băng sau, còn hai cái bi-đông, mỗi cái hai chục lít, anh tha hồ dùng. Hànội có ít xe, anh lái chiếc Moskwich này, công an tưởng anh là cán bộ cao cấp, không dám chặn lại xét giấy tờ đâu.
- Số xe thật hay giả?
- Dĩ nhiên là giả. Trong thùng sau, còn có 5 bảng số giả nữa. Anh chỉ bấm một cái nút là tấm bảng tuột ra, thay số chỉ mất ba giây đồng hồ thôi.
- Còn võ khí?
- Dưới chân, gần cái thắng, có một khẩu Nagan. Anh cần gì nữa không?
- Đủ rồi. Chào anh.
Người lạ xuống xe. Văn Bình rồ máy, biến vào bóng tối. Vừa lái, chàng vừa khen thầm tài tổ chức chu đáo của ông Hoàng. Với chiếc Moskwich này, chàng có thể nổ tung Hànội mà địch không tài nào phăng ra thủ phạm.
Mỡi lần công tác ở Hànội, chàng thường bực mình về vấn đề xe cộ. Kiếm được một cái xe hơi riêng là điều rất khó, có lẽ còn khó hơn tư nhân mua máy bay ở Sàigòn. Đến khi xoay được xe rồi, chàng vẫn chưa hết bực mình. Loại xe chế tạo ở Nga Sô rất kém về tốc độ, chàng lại có thói quen phóng nhanh. Ngồi trước vô-lăng, chàng lười gài số một, cho máy nổ từ từ rồi sang số hai, mà là nhảy thót lên số hai, xả hết ga xăng, làm hộp số kêu ken két, như muốn vỡ tung. Hộp số xe hơi Nga cứng đét, lại hay bị hóc, khiến Văn Bình không thể làm trò quỷ quái.
Qua khỏi Chợ Hôm, chàng lái xe qua đường Thái Phiên. Gần đến nơi rồi. Dọc đường, chàng ôn nhẩm lại những việc xảy ra và phải làm.
Cái chết của Sáu Ngọt và Lệ Mai đã được giữ kín hoàn toàn. Vũ Kính thông báo với công an, rạng sáng, trong lúc mọi người đang ngủ say trong phòng, một chiếc xe đen ập tới, một toán người mặc thường phục trèo lên lầu, dưới sự hướng dẫn của Vũ Kính, không gây ra tiếng động khác nào kẻ trộm.
Lên đến nơi, người đi đầu giựt mình, tay che lấy miệng để khỏi bật ra tiếng kêu. Hai cán bộ trung cấp Sáu Ngọt và Lệ Mai nằm trần truồng trong một tư thế dâm dật. Rờ tim, cả hai chết cứng không biết tự bao giờ. Người ta phải gỡ Lệ Mai ra khỏi vòng tay tham lam của gã đàn ông.
Thi thể hai người được gói vào tấm mền mỏng rồi khiêng lén xuống nhà, tống lên xe hơi. Công an không chụp hình, không thẩm cung, cũng không lưu lại trong ngôi nhà quá năm phút đồng hồ. Trước khi ra về, người chỉ huy dặn dò Vũ Kính:
- Phiền quá, tôi không ngờ họ lại đốn mạt đến thế. Lệ Mai đã có vị hôn phu, còn Sáu Ngọt vợ con đề huề. Yêu cầu thiếu tá giấu kín vụ này, không cho phái đoàn kiều bào biết. Tôi sẽ thu xếp riêng với thượng cấp.
Vũ Kính cười thầm. Sáng dậy, chàng nói lại với Văn Bình. Một nhân viên công an đến thay Sáu Ngọt. Văn Bình đi theo phái đoàn thăm viếng trong thành phố.
Chập tối, Vũ Kính đẩy cửa phòng, bước vào, đưa tận tay chàng một cái phong thư nhỏ. Mở ra, chàng thấy một tờ giấy đánh máy. Đó là nguyên văn bức điện ông Hoàng đánh ra Hànội, nhờ Z.62 chuyển cho chàng. Bức điện được viết theo một kiểu mật mã hiểm hóc, chỉ một mình Văn Bình dịch được.
Nội dung bức điện như sau:
"HH gởi Z.62, nhờ chuyển hỏa tốc cho Z.28.
Do một đảng viên nhị trùng, ta đã tiết lộ cho phủ Thủ Tướng Hànội biết là một tài liệu về Ngoại Giao của Phan Mỹ vừa lọt vào tay ta. stop. Việc này sẽ làm Phan Mỹ bị nghi ngờ thêm. stop. Trên thực tế, ta chưa lấy được gì trong văn phòng Phan Mỹ. stop. Z.28 phải đánh cắp nội đêm nay bất cứ tài liệu nào của Phan Mỹ rồi chuyển cho Z.62 hầu Z.62 trao cho đảng viên nhị trùng làm bằng chứng. stop. Cẩn thận. Z.28 có thể bị lộ bất cứ lúc nào. stop. Gặp trường hợp nguy biến, Z.28 hãy tuân theo chỉ thị. stop. Hết."
Bức điện này, Văn Bình đã đốt ra than, ném vào ống nước. Trước giờ lên đường ở Sàigòn, chàng đã được ông Hoàng dặn dò những việc phải làm, tuy nhiên, không hề có việc đánh cắp tài liệu của Phan Mỹ. Có lẽ ông Hoàng đổi một phần kế hoạch để rút ngắn thời gian hoạt động của chàng ở Hànội.
Chàng đã bị lộ, điều đó chàng không lạ gì. Song le, chàng đã loại được Sáu Ngọt và Lệ Mai, hai chướng ngại vật quan trọng. Vậy còn trở lực nào nữa? Còn ai có thể khám phá ra chàng?
Văn Bình tống thêm ga xăng.
Chàng lái vòng quanh một hồi rồi tắt máy. Tứ bề vắng tanh. Chàng đút khẩu súng vào túi, rồi lững thững đi vào bóng đêm dày đặc.
Một tòa nhà lớn sừng sững bên trái, hàng rào thấp, phủ đầy dâm bụt. Nhảy qua tường vốn là biệt tài của chàng, phương chi đây chỉ là một bức tường thấp bằng cây lá, nên chàng không phải vận sức.
Đèn trong vườn tắt hết.
Đây là một ngôi nhà lầu, nằm gọn giữa một khu vườn rộng, gần nơi đóng binh cũ của người Pháp. Văn Bình nhìn kỹ: chiếc xe hơi Tatra xinh xắn trơ vơ trước cửa ga-ra.
Điều này có nghĩa là Nàng ở nhà.
Nàng ở nhà, song còn hắn, hắn đi đâu?
Chắc lưỡi, chàng mở cửa phòng khách, ngang nhiên như chủ nhà.
Cửa sổ đều kéo riềm nên ánh sáng không lọt ra ngoài. Một thiếu phụ, thân hình mảnh mai, ngồi quay lưng lại phía cửa, nên không thấy chàng vào, vả lại, bản lề mở ra rất nhẹ, nhẹ đến niỗi thính tai như chàng cũng không nghe tiếng động nào hết.
Văn Bình rón rén lại gần.
Nàng ngồi bâng khuâng trước tập âm nhạc mở rộng. Ngón tay búp măng của thiếu phụ bắt đầu lượn thoăn thơát trên phím ngà. Tiếng nhạc dìu dặt vang lên.
Văn Bình đặt chân lên cầu thang. Thiếu phụ vẫn say sưa với đàn dương cầm.
Lên tới trên, Văn Bình thấy ba cánh cửa. Vặn cánh cửa thứ nhứt: khóa chặt. Cánh cửa thứ nhì: mở. Bên trong không có người, vì là phòng sách. Cánh thứ ba: buồng ngủ. Trên giường có một người đàn ông quen mặt.
Ông Hoàng đã cho chàng nghiên cứu kỹ lưỡng khôn mặt người lạ trên hàng chục tấm hình khác nhau, và chàng đã khắc sâu vào trí nhớ đôi lông mày thưa, mắt sâu thũng như người mất ngủ kinh niên, xương gò má nhô lên, và yết hầu lộ ra ngoài, báo hiệu chết yểu.
Người lạ đang ngủ say.
Mỉm nụ cười bí mật, Văn Bình tiến tới gần, dơ cao bàn tay, sửa soạn chém xuống.
Phía sau, một giọng nói vang lên:
- Ai đó? Ông định làm gì thế?