Khóa cửa sắt rỏn rẻn, Văn Bình bị đẩy vào sà lim và cửa sắt nặng nề đóng lại.
Đàn muỗi đói bay lên vù vù trong bầu không khí nghẹt thở toàn mùi mốc meo và xú uế. Phan Mỹ ngồi xuống bục xi-măng dùng làm giường, trên có miếng chiếu rách, rút thuốc lá mời chàng. Văn Bình xua tay:
- Cám ơn anh. Bao giờ tôi được tự do?
Phan Mỹ cười vui vẻ:
- Tôi cám ơn anh mới đúng. Anh đóng trò khéo quá. Nội đêm nay, tôi sẽ bố trí cho anh trốn khỏi khám. Lát nữa, tôi đích thân mang họa đồ khám đường cho anh đúng giờ đã định, anh được tháo cũi sổ lồng.
- Yêu cầu anh cho tôi một khẩu súng.
- Đồng ý. Anh bị giam dưới hầm, chỉ có một lối lên duy nhất. Từ sà lim ra cầu thang lên trên, có ba vọng gác cá nhân. Anh sẽ triệt hạ ba nhân viên của tôi, trèo lên ga-ra, lái xe ra đường. Tôi sẽ cho anh biết khẩu hiệu.
- Tôi được phép giết người không?
- Dĩ nhiên. Nếu không có án mạng, người ta sẽ nghi ngờ tôi. Vả lại, đêm nay tôi sẽ kiếm cớ di vắng. Thôi, tôi lên đây, anh ráng đợi một lát.
Văn Bình nghe tiếng giầy của kẻ thù nhẹ dần, nhẹ dần, ngoài hành lang xi-măng. Sà lim của chàng là một căn phòng đúc bê-tông, ngang dài bằng nhau hai thước, trần ba thước, phía trước là chấn song sắt. Có lẽ chàng là tù nhân duy nhứt bị giam dưới hầm kiên cố này, vì chàng không nghe tiếng người. Tứ phía vắng lặng, thậm chí nghe được tiếng muỗi bay vo vo, thậm chí nghe cả tiếng động do con thiêu thân đâm vào ngọn đèn nê-ông ngoài hành lang gây ra.
Phan Mỹ hứa sẽ thả chàng. Thật ra, chàng đã giúp Phan Mỹ đắc lực bằng cách nhận là nhân viên Smerch, đổ mọi tội lên đầu đại tá Kamốp. Song chàng không bao giờ tin Phan Mỹ giữ đúng lời cam kết. Sở dĩ chàng đứng về phe hắn, vì chàng muốn kéo dài thời giờ. Kamốp bị loại, ông Hoàng bớt được một đối thủ nguy hiểm. Phan Mỹ không thể giết chàng trong lúc này vì Trung Ương Đảng, nhất là sứ quán Sô Viết sẽ ngờ vực hắn. Hắn cũng không thể cho chàng sống lâu, vì nếu lời khai của chàng được duyệt lại, người ta sẽ khám phá ra chàng nói láo.
Lối thoát độc nhất cho Phan Mỹ là bố trí cho chàng bỏ trốn rồi tìm cách hạ sát.
Tuy vậy, chàng cũng bỏ trốn. Đêm nay, phái đoàn kiều bào sẽ lên đường về Vọng-các, Quỳnh Ngọc không thể hành động một mình. Chàng vững tin ở số mạng. Nếu vận chàng đã hết, chàng không tránh khỏi. Còn nếu chàng chưa đến số chết, Phan Mỹ chưa có thể hại chàng.
Là người trong giang hồ, không tin gì hết, ngoài khối óc và võ thuật của mình, Văn Bình lại tin tướng số. Trong những ngày lênh đênh ở Trung Hoa, chàng đã học tử vi. Ông Hoàng, tổng giám đốc sở Mật Vụ, cũng là tay diệu toán về tử vi. Nếu ông Hoàng bỏ nghề tình báo, về mở cửa hàng đẩu số, chắc chắn sẽ kiếm được hàng triệu. Hồi đầu năm, ông Hoàng đã chấm lại số cho chàng và tiên đoán chàng còn gặp may.
Chàng thở dài lẩm bẩm:
- Biết đâu!
Biết đâu đêm nay chẳng là đêm cuối cùng trong đời chàng, đêm cuối cùng của tử tội. Đêm cuối cùng của thiếu tá Bôrin trong khu tử tội Sing Sing, hắn còn nuôi hy vọng thoát thân. Còn chàng, chàng không hy vọng ông Hoàng điều đình với chính quyền Hànội. Trên giấy tờ, Sở Mật Vụ của ông Hoàng không hề có. Vả lại, nhà đương cuộc Bắc Việt sẽ từ chối nếu ông Hoàng thương thuyết, vì họ chẳng dại gì thả hổ về rừng lần nữa . Bắt được chàng, họ phải giết chàng…
Chàng chợt nhớ ra cái răng vàng trong miệng….
Trước giờ chàng lên đường, ông Hoàng đã sai gắn vào răng hàm của chàng một cái A-16.
A-16 là loại máy phát tín hiệu tối tân nhất của Sở Mật Vụ. Chàng cắn mạnh vào răng là máy chạy. Một dụng cụ thu thanh riêng đặt trong đường kính ba cây số sẽ bắt được bịp bịp do nó phát ra, và nhờ phép trắc giác, người ta sẽ phăng ra chỗ chàng bị giam.
Song, người ta là ai?
Là Nguyệt Thanh? Bà Huyền Hoa? Quỳnh Ngọc? Thiếu tá Vũ Kính? Hay một nhân viên bí mật nào khác? Ông Hoàng không cho chàng biết.
Văn Bình cho tay vào miệng: cái răng phát tuyến vẫn nằm ở chỗ cũ. Chàng bấm vào cái nút nhỏ, đẩy cái vỏ bằng vàng nhô lên, rồi cắn thật mạnh. Chàng nghe một tiếng động nhỏ, rồi miệng chàng tê đi, như bị truyền điện nhẹ. Một phút sau, cảm giác tê tê bị biến mất. Máy A-16 bắt đầu hoạt động.