Thời Đại Mạ Vàng: Câu Chuyện Của Hôm Nay

Lượt đọc: 219 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 38

❊ ❊ ❊

Bấy giờ tin tức bất ngờ ấy khiến nàng ngã quỵ rơi vào cơn mê sảng,

Hồn vía tưởng đã lìa đời, tay chân chẳng thể nhúc nhích,

Rồi người anh yêu quý bước đến, đỡ nàng đứng dậy khỏi mặt đất,

Và nàng cất tiếng nói, ôi trái tim tội nghiệp của tôi đã tan nát.

Thảm kịch Barnardcastle.

“Cậu không thấy trông anh ấy rất ra dáng quý ông sao?”

“Cái gì! Cái kẻ có dáng điệu vụng về, đang đi cùng cô Hawkins ấy hả?”

“Kìa. Anh ấy vừa mới nói chuyện với bà Schoonmaker kìa. Sự bất cần đầy cao sang và tự nhiên làm sao. Chẳng có chút cố tạo vẻ nào cả. Cậu nhìn đôi mắt đẹp của anh ấy mà xem.”

“Quá đỗi. Giờ họ đang đi về phía này đấy. Biết đâu anh ấy đến đây ấy chứ. Nhưng trông anh ấy ngơ ngác chẳng khác gì một con búp bê vải. Anh ta là ai thế, Blanche?”

“Là ai ư? Cậu đã ở đây cả tuần rồi đấy, Grace, mà vẫn không biết á? Anh ấy là mối hời lớn nhất trong mùa xã giao này đấy. Đó chính là Washington Hawkins—anh trai của cô ấy.”

“Không đời nào, thật thế á?”

“Dòng dõi rất lâu đời, một gia tộc lâu đời ở Kentucky thì phải. Tớ nghĩ anh ấy sở hữu khối tài sản điền trang khổng lồ ở Tennessee. Gia đình họ đã mất sạch mọi thứ, nào nô lệ và những thứ đại loại thế, cậu biết đấy, trong chiến tranh. Nhưng họ vẫn còn rất nhiều đất đai, khoáng sản, hầm mỏ và đủ thứ khác. Cả ông Hawkins lẫn cô em gái đều rất quan tâm đến việc cải thiện hoàn cảnh của người da màu; họ có vài kế hoạch, cùng với Thượng nghị sĩ Dilworthy, nhằm chuyển đổi phần lớn tài sản của mình vào một mục đích nào đó để giúp đỡ những người nô lệ được giải phóng.”

“Cậu đang đùa đấy à? Tớ cứ tưởng anh ta là tay nhà quê nào đó từ Pennsylvania đến chứ. Nhưng anh ấy trông khác hẳn những người khác. Chắc là anh ấy đã sống cả đời ở đồn điền của mình rồi.”

Đó là buổi tiếp khách ban ngày của Phu nhân Nghị sĩ Schoonmaker, một người phụ nữ ngọt ngào, có cung cách giản dị và chân thành. Nhà bà là một trong những nơi được yêu thích nhất ở Washington. Nơi đây ít sự phô trương hơn những chỗ khác, và mọi người thích đến những chốn mà không gian gợi cho họ nhớ về sự bình yên và thuần khiết của mái ấm gia đình. Phu nhân Schoonmaker vẫn giữ được sự tự nhiên và mộc mạc trong giới thượng lưu Washington hệt như khi bà ở trong chính ngôi nhà của mình ở New York, duy trì bầu không khí đời sống gia đình ở đó cùng chồng và các con. Và đó có lẽ là lý do vì sao những tao nhân mặc khách lại thích lui tới nơi này.

Washington là một thế giới thu nhỏ, và người ta có thể tìm được bất kỳ kiểu xã hội nào vừa ý mình trong bán kính một dặm. Đối với một phần lớn những người thường xuyên lui tới hoặc sinh sống tại Washington, sự xa hoa cực đoan, sự trọc phú, những thủ đoạn mánh khóe hoàn toàn đáng ghét đối với họ hệt như khi họ sống ở một thành phố New England thanh lịch. Schoonmaker không hẳn là một nhân vật lãnh đạo trong Hạ viện, nhưng ông rất được kính trọng bởi tài năng xuất chúng và sự chính trực của mình. Sẽ chẳng có ai nghĩ đến chuyện gạ gẫm ông đứng tên giúp số cổ phiếu Cứu trợ của Ban Giám đốc Cải thiện Quốc gia.

Những buổi tiếp khách ban ngày này thu hút phụ nữ tham dự nhiều hơn nam giới, và những ai quan tâm đến vấn đề này hẳn đã có thể nghiên cứu trang phục của các quý bà có mặt, dựa trên thực tế đó, để khám phá xem phụ nữ ăn diện là để cho phụ nữ ngắm hay nhằm tạo ấn tượng với đàn ông. Đây là một vấn đề vô cùng quan trọng, đã được bàn luận rất nhiều, và việc giải quyết nó sẽ tạo ra một nền tảng triết học vững chắc để đánh giá phẩm chất của phụ nữ. Chúng tôi nghiêng về một lập trường trung dung, và khẳng định rằng phụ nữ ăn mặc là để làm vui lòng bản thân, và tuân theo quy luật của chính bản tính họ.

“Họ đang đi về phía này kìa,” Blanche nói. Những người nhường đường cho họ đi qua đều quay lại nhìn. Washington bắt đầu cảm thấy ánh mắt của công chúng cũng đang đổ dồn vào mình, và đôi mắt anh cứ đảo liên tục, lúc ngước lên trần nhà, lúc cúi xuống sàn, trong nỗ lực ra vẻ tự nhiên không bận tâm.

“Chào cô Hawkins. Thật là hân hạnh. Ông Hawkins đây ạ. Bạn tôi, cô Medlar.”

Ông Hawkins, người đang cố gắng đứng thẳng người để cúi chào, đã vô tình giẫm cả bàn chân vào tà áo của Phu nhân Thượng nghị sĩ Poplin. Bà quay lại với vẻ mặt cau có, nhưng lập tức biến thành nụ cười khi nhận ra đó là ai. Trong lúc lúng túng rút chân ra, ông Hawkins, người vừa phải lo giữ chiếc mũ trên tay lại vừa bận tâm đến màn giới thiệu, đã va phải tiểu thư Blanche. Cô liền nói lời xin lỗi với giọng điệu ngọt ngào nhất, cứ như thể sự vụng về đó là của chính mình vậy. Và ông Hawkins đã lấy lại được thăng bằng.

“Hôm nay ông có thấy trời rất nóng không, thưa ông Hawkins?” Blanche bắt chuyện.

“Nóng khủng khiếp,” Washington đáp.

“Thời tiết này là oi bức so với mùa này đấy,” Blanche tiếp lời một cách vui vẻ. “Nhưng chắc là anh đã quen rồi,” cô nói thêm, với một ấn tượng chung rằng nhiệt độ ở các bang miền Nam cũ lúc nào cũng ở mức 90 độ. “Thời tiết ở Washington chắc hẳn không mấy dễ chịu đối với anh phải không?”

“Nó rất dễ chịu,” Washington tươi tỉnh hẳn lên đáp, “miễn là nó không bị đóng băng.”

“Hay thật đấy. Cậu có nghe thấy không Grace, ông Hawkins bảo là thời tiết dễ chịu miễn là nó không đóng băng kìa.”

“Cái gì cơ, mình?” Grace nói, cô đang bận trò chuyện với Laura.

Cuộc trò chuyện lúc này đã diễn ra vô cùng ăn rơ. Washington liền tự mình tung ra một câu nhận xét.

“Cô có thấy mấy người Nhật Bản đó không, cô Leavitt?”

“Ồ, có chứ, trông họ kỳ lạ làm sao. Nhưng lại rất cao sang, rất đẹp như tranh vẽ. Anh có nghĩ là màu da gây ra sự khác biệt nào không, thưa ông Hawkins? Hồi trước tôi từng có thành kiến sâu sắc với màu da đấy.”

“Thế ư? Tôi thì chưa bao giờ. Hồi nhỏ tôi từng nghĩ vú nuôi da đen của tôi rất đẹp.”

“Cuộc sống của anh hẳn là thú vị lắm! Tôi rất muốn nghe kể về nó đấy.”

Washington đang chuẩn bị ra vẻ kể chuyện thì Phu nhân Tướng McFingal lọt vào tầm mắt của anh.

“Hôm nay ông có đến Tòa nhà Quốc hội không, thưa ông Hawkins?”

Washington chưa tới đó. “Có chuyện gì bất thường xảy ra à?”

“Họ bảo là náo động lắm. Vụ việc Alabama ấy mà. Tướng Sutler, người Massachusetts, đã thách thức cả nước Anh, và người ta đồn ông ấy muốn chiến tranh.”

“Ý hắn ta là muốn làm cho mình nổi bật thì đúng hơn,” Laura lên tiếng. “Anh có để ý thấy không, hắn lúc nào cũng nói chuyện mà mắt thì liếc nhìn lên khán đài, trong khi tai vẫn hướng về phía chủ tọa.”

“Chà, chồng tôi bảo rằng nói chuyện chiến tranh là nhảm nhí và độc ác. Ông ấy thừa biết chiến tranh là gì. Nếu chúng ta có chiến tranh thật, tôi mong đó sẽ là vì những người ái quốc ở Cuba. Anh không nghĩ chúng ta rất cần Cuba sao, thưa ông Hawkins?”

“Tôi nghĩ chúng ta đang rất cần,” Washington đáp. “Cả Santo Domingo nữa. Thượng nghị sĩ Dilworthy nói rằng chúng ta có sứ mệnh truyền bá tôn giáo của mình ra khắp các hải đảo. Chúng ta phải mở rộng lãnh thổ của mình, và—”

Những lời bàn luận tiếp theo của Washington bị cắt ngang bởi Laura, người đã kéo phắt anh sang một góc phòng khác và nhắc nhở rằng họ phải đi chào từ biệt thôi.

“Những kẻ này mới ngốc nghếch và phiền phức làm sao,” cô nói. “Đi thôi.”

Họ đang quay người để nói lời tạm biệt nữ chủ nhà thì ánh mắt Laura khựng lại khi nhìn thấy một quý ông vừa cất lời chào Phu nhân Schoonmaker. Trong một khoảnh khắc, tim cô như ngừng đập. Đó là một người đàn ông tuấn tú khoảng bốn mươi tuổi hoặc hơn thế, với mái tóc và bộ râu điểm hoa râm, ông chống gậy và đi bước thấp bước cao như thể hơi khập khiễng. Cũng có thể ông chưa tới bốn mươi, bởi gương mặt ông hằn những nếp nhăn khổ sở và vô cùng tái nhợt.

Không. Không thể nào như vậy được, cô tự nhủ. Chỉ là giống nhau mà thôi. Nhưng khi người đàn ông ấy quay người lại và cô nhìn rõ toàn vẹn khuôn mặt ông, Laura liền vội vưa đưa tay bấu chặt lấy cánh tay Washington để khỏi ngã quỵ.

Washington, vốn chẳng để tâm điều gì như thường lệ, ngơ ngác quay lại nhìn. Đôi mắt Laura đang bừng lên ngọn lửa giận dữ và căm hờn; anh chưa bao giờ thấy cô có bộ dạng như thế; và khuôn mặt cô thì tái xanh.

“Ơ hay, có chuyện gì thế em? Mặt em trắng bệch như tờ giấy ấy.”

“Là hắn, chính là hắn. Đi, đi mau,” và cô kéo xềnh xệch anh đi.

“Là ai cơ?” Washington hỏi khi hai người đã lên xe ngựa.

“Không có ai cả, chẳng có gì đâu. Em vừa nói gì cơ à? Em thấy hơi mệt vì trời nóng thôi. Đừng nhắc đến nữa. Đừng nói gì về chuyện đó cả,” cô tha thiết dặn dò, tay vẫn bấu chặt lấy cánh tay anh.

Khi về đến phòng riêng, cô bước ra trước gương và nhìn thấy một gương mặt phờ phạc, tái mét.

“Lạy Chúa tôi,” cô thét lên, “thế này thì không ổn chút nào. Lẽ ra ta đã giết chết hắn nếu có thể. Tên khốn đó vẫn còn sống, và còn dám bén mảng đến đây. Ta phải giết hắn. Hắn không có quyền được sống. Sao mà ta căm hờn hắn thế này. Thế mà ta lại từng yêu hắn. Ôi trời đất ơi, sao ta lại có thể yêu con người đó cơ chứ. Và tại sao hắn không giết quách ta đi? Như thế còn hơn. Hắn đã tiêu diệt tất cả những gì tốt đẹp trong con người ta rồi. Ồ, nhưng hắn sẽ không thoát đâu. Lần này thì hắn không trốn thoát được đâu. Hắn có thể đã quên. Nhưng hắn sẽ sớm nhận ra sự căm thù của một người phụ nữ không bao giờ quên điều gì cả. Luật pháp ư? Luật pháp thì làm được gì ngoài việc bảo vệ hắn và biến ta thành kẻ ngoài và xã hội chứ? Cả cái đất Washington này sẽ túm tụm vén váy tỏ vẻ thanh cao rồi lánh xa ta biết nhường nào, nếu chúng biết chuyện. Tự hỏi không biết hắn có căm ghét ta như ta căm hận hắn không nhỉ?”

Laura cứ thế cuồng nộ gào thét, khi thì đầm đìa nước mắt lúc lại sùng sục căm phờ, chìm đắm trong cơn bão cảm xúc mà cô buông thả hoàn toàn chẳng buồn kiềm chế.

Một người đầy tớ đến gọi cô xuống ăn tối. Cô cáo đau đầu. Giờ dự tiệc chiêu đãi của Tổng thống đã điểm. Cô bị những cơn đau đầu hành hạ đến phát điên, và Thượng nghị sĩ đành phải đi một mình.

Đêm dài dằn vặt ấy gợi cho cô nhớ về một đêm nào đó trong quá khứ. Mọi thứ hiện về rõ mồn một. Và khi ấy, cô nhớ là mình từng nghĩ có lẽ bản thân đã nhầm lẫn. Biết đâu anh ta sẽ quay lại với cô. Biết đâu rốt cuộc anh ta vẫn có chút ít tình cảm với cô thì sao. Giờ đây, cô biết chắc là không có. Giờ đây, cô hiểu rằng hắn là một tên khốn máu lạnh, không chút rủ lòng thương. Chẳng có lấy một lời trong suốt bao nhiêu năm qua. Cô từng hy vọng hắn đã chết. Không biết vợ hắn còn sống không nhỉ? Cô bấu víu lấy ý nghĩ đó—và nó mang đến một luồng suy nghĩ hoàn toàn mới cho tâm trí cô. Biết đâu, suy cho cùng—cô phải gặp lại hắn. Cô không thể sống tiếp nếu không được gặp hắn. Liệu hắn có mỉm cười như những ngày xưa khi cô yêu hắn thiết tha; hay hắn sẽ nhếch mép cười nhạo báng như lần cuối cùng cô gặp hắn? Nếu hắn nhìn cô với ánh mắt đó, cô sẽ căm ghét hắn đến xương tủy. Còn nếu hắn gọi cô là “Laura yêu dấu,” và nhìn cô với ÁNH MẮT ĐÓ! Cô phải tìm cho ra hắn. Cô phải chấm dứt mọi sự hoài nghi này.

Laura giam mình trong phòng suốt hai ngày với đủ mọi lý do—nào là đau nửa đầu do dây thần kinh, nào là cảm lạnh—khiến cho cả nhà Thượng nghị sĩ vô cùng lo lắng. Những vị khách ghé thăm rồi ra về đều bàn tán rằng cô đã quá ăn chơi buông thả—họ không dùng từ “hư hỏng,” dẫu cho một vài người trong số họ có thể đã nghĩ như vậy. Một người nổi bật và thành công trong giới thượng lưu như Laura không thể vắng bóng hai ngày trời mà không để lại điều tiếng, và dĩ nhiên không phải lời bàn tán nào cũng mang ý tốt.

Khi bước xuống lầu, cô trông vẫn bình thường như mọi khi, có lẽ hơi tái một chút, nhưng phong thái không hề thay đổi. Nếu có những nếp nhăn nào hằn sâu quanh khóe mắt thì chúng đã được che giấu kỹ càng. Đường hướng hành động của cô đã được định đoạt hoàn toàn.

Vào bữa sáng, cô hỏi xem có ai nghe thấy tiếng động bất thường nào trong đêm qua không. Không một ai cả. Washington thì chưa bao giờ nghe thấy bất kỳ âm thanh nào sau khi đôi mắt anh đã nhắm lại. Một số người còn nghĩ rằng ngay cả khi mắt mở anh cũng chẳng bao giờ nghe thấy gì sất.

Thượng nghị sĩ Dilworthy cho biết ông về nhà muộn. Ông bị giữ lại trong một cuộc họp nhỏ sau buổi cầu nguyện của Quốc hội. Có lẽ đó là tiếng động khi ông về.

Không, Laura nói. Cô có nghe thấy tiếng đó. Là muộn hơn nữa cơ. Có thể do cô bị suy nhược thần kinh, nhưng cô cứ có cảm giác như có ai đó đang định đột nhập vào nhà.

Ông Brierly hóm hỉnh gợi ý rằng rất có thể là thế, vì chẳng có nghị sĩ nào phải bận họp đêm cả.

Thượng nghị sĩ cau mày, bảo rằng ông không thích nghe kiểu tiếng lóng mang màu sắc báo chí đó. Rất có thể có kẻ trộm quanh đây thật.

Laura bảo rằng rất có thể đó chỉ là do chứng thần kinh của cô mà thôi. Nhưng cô nghĩ cô sẽ thấy an tâm hơn nếu Washington cho cô mượn một khẩu súng lục của anh. Washington liền mang cho cô một khẩu súng ổ quay và tận tình hướng dẫn cô cách nạp đạn cũng như bóp cò.

Buổi sáng hôm đó, Laura lái xe đến nhà bà Schoonmaker để trả lễ một chuyến thăm hỏi thân tình.

“Những buổi tiếp khách của chị lúc nào cũng thật tuyệt vời,” cô nói với người phụ nữ ấy, “dường như mọi người thú vị đều quy tụ cả về đây.”

“Thật vui khi nghe cô nói vậy, tiểu thư Hawkins ạ. Tôi tin là bạn bè tôi thích đến đây. Mặc dù giới thượng lưu ở Washington khá phức tạp; chúng tôi có đủ mọi thể loại người.”

“Nhưng tôi đoán là chị không gặp nhiều thành phần nổi dậy phe miền Nam cũ lắm nhỉ?” Laura mỉm cười hỏi.

Nếu điều này có vẻ là một nhận xét kỳ lạ đối với bà Schoonmaker từ miệng một người phụ nữ vẫn hằng ngày gặp gỡ những kẻ “nổi dậy” trong các buổi tiệc tùng, thì bà cũng không hề biểu lộ ra ngoài, mà chỉ điềm đạm đáp rằng,

“Cô biết đấy, chúng ta đâu còn dùng từ ‘nổi dậy’ nữa. Trước khi đến Washington, tôi cứ nghĩ những kẻ phản kháng trông sẽ chẳng giống người bình thường chút nào. Nhưng tôi nhận ra chúng ta rất giống nhau, và sự tử tế cùng bản tính tốt đẹp sẽ xóa mờ mọi thành kiến. Hơn nữa, cô biết đấy, có đủ mọi lợi ích chung gắn kết. Chồng tôi đôi khi vẫn bảo rằng ông chẳng thấy phe miền Nam khác gì phe miền Bắc ở khoản hăm hở xâu xé ngân khố quốc gia cả. Chắc cô biết ông Schoonmaker nằm trong ủy ban phân bổ ngân sách mà.”

“Anh ấy có quen nhiều người miền Nam không ạ?”

“Ồ, có chứ. Có vài người trong buổi tiếp khách của tôi hôm nọ. Trong đó có một Đại tá miền Nam—một người lạ mặt—trông rất phong độ với mái tóc điểm bạc, có lẽ cô không để ý đâu, ông ấy đi lại phải chống gậy. Một người rất dễ mến. Tôi cứ tự hỏi sao ông ấy lại tới thăm. Khi chồng tôi đi làm về và xem qua mấy tấm danh thiếp, ông ấy bảo vị đại tá đó có một khoản đòi bồi thường bông vải. Một người miền Nam chính cống. Có lẽ cô sẽ biết nếu tôi nhớ ra tên ông ấy. À đúng rồi, danh thiếp của ông ấy đây—đến từ Louisiana.”

Laura đón lấy tấm danh thiếp, chăm chú nhìn cho đến khi chắc chắn về địa chỉ trên đó, rồi mới đặt xuống và thốt lên,

“Không, ông ấy không phải bạn của chúng tôi.”

Buổi chiều hôm đó, Laura đã viết và gửi đi bức thư sau. Nó được viết bằng những nét chữ tròn trịa, hoàn toàn khác với phong cách viết thảo quen thuộc của cô, và người nhận được đề gửi đến một số nhà trên con phố ở Georgetown:—

“Một Quý bà ở nhà Thượng nghị sĩ Dilworthy muốn gặp Đại tá George Selby, để bàn về công chuyện liên quan đến các Khoản đòi bồi thường bông vải. Ông có thể ghé qua vào lúc ba giờ chiều thứ Tư được không?”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.