——“Chúng tôi đã ngắm nghía, Và đo đạc mọi bề, bằng thước tấc hẳn hoi, Hỡi tình yêu, dải đất phì nhiêu nhất cả vương triều! Sẽ kiếm được mười bảy hay mười tám triệu, Hoặc hơn thế nữa, tùy theo cách xoay sở!” Con Quỷ là Gã Ngốc.
Không ai ăn mặc giống một kỹ sư cho bằng anh Henry Brierly. Sự chỉn chu trong trang phục của anh là niềm ghen tị của cả đội khảo sát, còn bản thân chàng trai hào hoa ấy là đối tượng ngưỡng mộ của đám gia nhân trong trại, những kẻ chặt cây, đánh xe lẫn đầu bếp.
——“Tao đoán là mày chẳng kiếm được đôi bốt ấy ở bất cứ xó xỉnh nào bên này St. Louis đâu nhỉ?” - cậu thanh niên cao kều người Missouri, kiêm trợ lý cho ban quản lý hậu cần, lên tiếng hỏi.
——“Không, ở New York.”
——“Ừ, tao cũng từng nghe nói về New York,” cậu thiếu niên mang áo khoác màu vàng đất tiếp lời, mắt chăm chú săm soi từng chi tiết trên trang phục của Harry, đồng thời cố che giấu mục đích thực sự bằng một câu chuyện thú vị. “Rồi cả Massachusetts nữa.”
——“Nó cũng chẳng ở xa đâu.”
——“Tao nghe bảo Massachusetts là một cái xứ… quái quỷ nào đấy. Để xem nào, Massachusetts nằm ở bang nào thế?”
——“Massachusetts,” Harry ân cần đáp, “nằm trong tiểu bang Boston.”
——“Chủ trương bãi nô phải không? Chắc bọn chúng tốn khối tiền đây,” hắn hướng ánh mắt về đôi bốt.
Harry vác sào đo lên vai rồi ra thực địa, miệt mài sải bước qua những cánh đồng cỏ thảo nguyên ban ngày, tối đến lại cần mẫn tính toán các số liệu với tinh thần phấn chấn cao độ, đồng thời vẽ biểu đồ tuyến đường lên giấy chuyên dụng mà chẳng có lấy chút kiến thức kỹ thuật nào, dù là thực hành hay lý thuyết. Có lẽ toàn bộ đội khảo sát cũng chẳng có mấy kiến thức khoa học, và thực ra thì cũng chẳng cần đến nhiều làm gì. Họ đang tiến hành cái gọi là một cuộc khảo sát sơ bộ, mà mục đích chính của nó là tạo ra một bầu không khí hào hứng xung quanh dự án đường sắt, lôi kéo mọi thị trấn ở vùng đó tham gia với niềm tin rằng con đường sẽ chạy qua địa phận của họ, đồng thời tranh thủ sự hậu thuẫn từ mọi điền chủ với viễn cảnh một nhà ga sẽ được đặt trên đất của họ.
Ông Jeff Thompson chính là vị kỹ sư được săn đón và phù hợp nhất cho công việc này. Ông chẳng mấy bận tâm đến những chi tiết nhỏ nhặt hay tính khả thi của việc định tuyến, cứ thế phơi phới tiến lên, ngắm hướng từ đỉnh ngọn đồi này sang đỉnh ngọn đồi khác, và “nện” trúng phóc vào mọi vị trí thị trấn hay đồn điền lớn nằm cách tuyến đường chừng hai mươi hoặc ba mươi dặm. Theo cách nói của riêng ông thì ông “cứ thế mà tiến băng băng”.
Cách làm này tạo cơ hội cho Harry, đúng như anh tự nhận, được học hỏi các chi tiết thực tế của ngành kỹ sư, đồng thời mở ra cho Philip cơ hội ngắm nhìn xứ sở này và tự mình đánh giá tiềm năng tài chính mà nó mang lại. Cả anh và Harry đều nhận được lời hứa ưu tiên mua lại (“refusal”) nhiều hơn một đồn điền trên đường đi, và họ liên tục viết những bức thư giục giã gửi về cho những người quen ở miền Đông, ca ngợi vẻ đẹp của vùng đất cùng sự chắc chắn rằng giá trị của nó sẽ tăng lên gấp bốn lần ngay khi tuyến đường sắt được định hình chính thức. Họ lấy làm lạ vì sao giới tư bản không đổ xô đến đây để thâu tóm những mảnh đất này.
Họ vừa vào thực địa chưa đầy hai tuần thì Harry đã viết thư cho người bạn của mình là Đại tá Sellers, khuyên ông nên tính chuyện hành động đi là vừa, bởi tuyến đường sắt gần như chắc chắn sẽ đi qua Stone’s Landing. Bất cứ ai nhìn vào bản đồ tuyến đường được vẽ thêm lên mỗi ngày hẳn sẽ cảm thấy mơ hồ không biết nó đang hướng về đâu; thế nhưng Jeff đã tuyên bố rằng theo phán đoán của ông, tuyến đường khả thi duy nhất từ điểm họ đang đứng lúc bấy giờ là đi theo dải phân thủy hướng về Stone’s Landing, và ai nấy đều ngầm hiểu rằng thị trấn đó sẽ là mục tiêu tiếp theo bị nhắm tới.
——“Chúng ta sẽ đến đó, các cậu,” viên kỹ sư trưởng tuyên bố, “cho dù có phải đi bằng khinh khí cầu đi chăng nữa.”
Và họ đã đến được đó thật. Chưa đầy một tuần, vị kỹ sư kiên cường ấy đã dẫn dắt đoàn caravan di chuyển qua những vũng lầy và khe suối, vượt qua các vùng trũng bồi và dọc theo các dải đồi phân thủy, để rồi dựng lều ngay giữa lòng thành phố Stone’s Landing.
——“Cha chả, đúng là làm tôi phải kinh ngạc,” giọng nói hào sảng của ông Thompson vang lên khi ông bước ra cửa lều vào lúc bình minh sáng hôm sau. “Thế mà cũng qua mặt được tôi mới tài chứ. Này, anh Grayson, lấy ống ngắm ra xem có tìm thấy thị trấn của lão Sellers không nào. Có quỷ mới biết nếu chạng vạng kéo dài thêm chút nữa thì chúng ta đã đi lướt qua nó mất tăm rồi. Ồ! Sterling, Brierly, dậy mà ngắm thành phố kìa. Có một chiếc tàu thủy đang vòng qua khúc cua kìa.” Và Jeff cười vang sảng khoái. “Chắc ngài thị trưởng sẽ ghé qua đây ăn sáng mất.”

Mấy chàng trai chui khỏi lều, dụi mắt nhìn xung quanh. Họ đang đóng trại trên thềm đất thứ hai của một dòng suối uốn khúc, ì ạch chảy, rộng chừng năm sào (rods) trong mùa nước đẹp này. Trước mặt họ là một tá căn nhà gỗ với ống khói làm bằng cành cây trát bùn, mọc lộn xộn ở cả hai bên một con đường chẳng mấy rõ hình hài, dường như chính nó cũng chẳng biết rõ mình muốn đi đâu, để rồi sau khi lách qua thị trấn, liền lang thang hướng ra vùng thảo nguyên nhấp nhô một cách vô định, tựa như thể nó xuất phát từ hư vô và rất có thể sẽ chẳng bao giờ tới đích. Thế nhưng, ngay vừa lúc rời khỏi thị trấn, con đường lại được cổ vũ và chỉ lối bởi một tấm biển chỉ đường với dòng chữ: “Còn 10 dặm nữa là đến Hawkeye.”
Con đường ấy chưa từng được làm ngoài việc do người ta qua lại giẫm thành lối, và vào mùa này—tháng Sáu mưa phùn—nó trở thành một vũng lầy ngập ngụa những vết bánh xe hằn sâu trên lớp đất đen cùng những hố bùn sâu không đáy. Riêng đoạn đi qua con phố chính của thành phố thì nham nhở hơn hẳn, bởi những chú lợn lớn nhỏ cứ tụ tập bớimới và đầm mình trong đó, biến lòng đường thành một thứ dung dịch sền sệt chỉ có thể vượt qua bằng cách bước lên nhữnghòn ván được ném vất vưởng đây đó.

Xung quanh căn lều lớn nhất, vốn là cửa hàng tạp hóa của cái trung tâm buôn bán này, bùn lầy còn loãng hơn chỗ khác, và cái hiên thô sơ trước cửa cùng những chiếc thùng đựng hàng khô kê trên đó chính là nơi trú ẩn cho toàn bộ đám lang thang trong vùng. Sơ sát mép suối là một tòa nhà xiêu vẹo đóng vai trò nhà kho chứa gai dầu, từ đó có một cái cầu tàu ọp ẹp nhô ra mặt nước. Quả thực, có một chiếc thuyền phẳng đang neo đậu ngay cạnh đó, với những cây sào chống thuyền vắt ngang qua mạn. Ngược lên phía trên thị trấn, dòng suối bị cắt ngang bởi một cây cầu gỗ rệu rã, với những trụ cầu nghiêng ngả đủ mọi hướng trên nền đất ẩm ướt; việc thiếu vắng vài tấm ván lát sàn khiến cho hành động đi qua cầu nhanh hơn tốc độ đi bộ trở thành một tội danh chẳng cần thiết phải đưa vào luật cấm.
——“Thưa các quý ông,” Jeff lên tiếng, “đây chính là sông Columbus, hay còn có tên khác là Goose Run. Nếu nó được mở rộng, đào sâu, nắn thẳng, và kéo dài thêm chút nữa, thì đây sẽ là một trong những con sông đẹp nhất miền Tây.”
Khi mặt trời nhô lên rọi những tia nắng ngang qua dòng nước, lớp sương mù mỏng manh, hay hơi độc vùng đầm lầy, cũng bốc lên theo và tan biến, nhưng ánh sáng ấy chẳng thể nào làm cho dòng nước đục ngầu trở nên sinh động nổi, hay hé lộ bất kỳ manh mối nào về độ sâu có vẻ như không đáy của nó. Những cụm rùa nước già cỗi bò lên đậu trên những khúc gỗ mục giữa dòng, lưng ánh lên dưới nắng, trở thành những cư dân đầu tiên của đô thị bắt đầu công việc nhộn nhịp trong ngày.
Tuy nhiên, chẳng mấy chốc khói đã bắt đầu bốc lên từ các ống khói trong thành phố; và khi đám kỹ sư còn chưa dùng xong bữa sáng, họ đã trở thành đối tượng để sáu, tám gã đàn ông và thanh niên tò mò dòm ngó, những kẻ lững thững bước vào trại rồi đứng ngắm nghía với vẻ hứng thú dửng dưng, tay đút cả vào túi quần.
——“Chào buổi sáng, các bạn,” viên kỹ sư trưởng từ bàn ăn cất giọng gọi lớn.

——“Chào buối sảng,” kẻ phát ngôn của nhóm người kéo dài giọng đáp lại. “Tôi đoán đây là con đường sắt phảỉ không, tôi nghe nói nó sắp chạy qua đây mà.”
——“Đúng vậy, đây chính là đường sắt; chỉ thiếu mỗi đường ray và con ngựa sắt nữa thôi.”
——“Tôi cho là mấy ông có thể kiếm được bao nhiêu thanh ray tùy thích từ đám gỗ sồi trắng của tôi ở bên kia kìa,” vị khách đầu tiên đáp lời, trông hắn có vẻ là một kẻ có của ăn của để và đang sẵn sàng ngã giá.
——“Các ông sẽ phải thương lượng với nhà thầu về chuyện đường ray đấy, thưa ngài,” Jeff nói; “còn đây là anh Brierly, tôi chắc chắn anh ấy rất muốn mua số gỗ làm ray của ông khi đến thời điểm.”
——“Ồ,” người đàn ông nói, “tôi cứ tưởng các ông mang theo cả một giuộc nhà xưởng đi cùng chứ. Nhưng nếu các ông cần ray, thì tôi có đây, phải không Eph?”
——“Nhiều vô kể,” Eph đáp mà chẳng buồn rời mắt khỏi nhóm người đang ngồi bên bàn.
——“Thôi được,” ông Thompson vừa đứng dậy khỏi ghế vừa bước về phía lều của mình, “thế là đường sắt đã đến Stone’s Landing rồi đấy, tôi đề nghị chúng ta làm một ly chúc mừng cho sự kiện này đi.”
Đề nghị này lập tức được tất cả mọi người nhiệt liệt hưởng ứng. Jeff nâng ly chúc cho sự thịnh vượng của Stone’s Landing và ngành hàng hải trên sông Goose Run, và cạn sạch ly rượu ngô mộc mạc với lời đáp lễ rằng đường sắt là một thứ tuyệt vời, và Jeff Thompson quả là một tay gân cỗi không phải dạng vừa.
Khoảng mười giờ trưa, người ta nhìn thấy một chiếc xe ngựa kéo đang ì ạch tiến về phía khu trại qua cánh đồng thảo nguyên. Khi xe đến gần, người ta thấy trên xe ngồi một quý ông bệ vệ, người cứ chồm lên ngột ngạt vì nóng ruột trên ghế, tay quất dây cương và khẽ thúc con ngựa với hy vọng mong manh truyền được chút sinh khí của mình sang con vật chậm chạp ấy, mắt đăm đăm nhìn về phía những chiếc lều. Khi chiếc xe cuối cùng cũng dừng bánh trước cửa lều của ông Thompson, vị quý ông từ tốn bước xuống, đứng thẳng người lại, xoa xoa hai tay, với vẻ mãn nguyện tỏa ra từ khắp cơ thể rạng rỡ, ông tiến về phía nhóm người đang tụ tập chào đón và đã cất tiếng gọi tên ông ngay khi ông vừa bước vào tầm tai.
——“Chào mừng các vị đến với Napoleon, chào mừng. Tôi rất tự hào được đón tiếp các ông ở đây, ngài Thompson. Trông anh hãy còn phong độ lắm, ngài Sterling. Đây mới chính là xứ sở đáng sống, thưa anh. Rất vui được gặp anh, ngài Brierly. Anh có mang theo giỏ sâm-panh đó chứ? Không ư? Mấy tên trộm cướp trên sông chết tiệt đó! Ta sẽ chẳng bao giờ gửi gắm gì qua bọn chúng nữa. Loại thượng hạng đấy, hiệu Roederer. Chai cuối cùng tôi giữ trong hầm rượu là do ngài George Gore gửi tặng—khi tôi đưa ông ấy đi săn bò rừng lúc ông ghé thăm đất nước chúng ta. Lão ta cứ hay gửi tặng tôi mấy thứnho nhỏ ấy mà. Các vị đã đi ngắm nghía xung quanh chút nào chưa, các quý ông? Mọi thứ vẫn còn hoang sơ lắm, hãy còn hoang sơ chán. Đám nhà cửa kia rồi sẽ phải dẹp bỏ hết. Chỗ kia sẽ là quảng trường công cộng, Tòa án, khách sạn, nhà thờ, nhà tù—đại loại thế. Ngay chỗ chúng ta đang đứng đây sẽ là nhà ga. Anh thấy thế nào dưới con mắt kỹ sư của mình, ngài Thompson? Đằng kia là những con phố thương mại dẫn ra bến cảng. Trường Đại học nằm ở trên kia, trên nền đất cao, một vị trí đẹp, có thể nhìn bao quát dòng sông đến cả dặm. Kia là sông Columbus, chỉ cách sông Missouri có bốn mươi chín dặm thôi. Các vị thấy đấy, phẳng lặng, đều đặn, chẳng có dòng chảy xiết nào cản trở giao thông thủy cả, chỉ cần mở rộng thêm ở vài đoạn và nạo vét, nạo vét cả vũng tàu rồi đắp một con đê chắn sóng ngay trước thị trấn; được tạo hóa nhắm sẵn cho mục đích làm trung tâm thương mại rồi. Hãy nhìn toàn bộ vùng đất này xem, không có lấy một tòa nhà nào khác trong bán kính mười dặm, chẳng có con sông nào có thể tàu thuyền qua lại được nữa, địa thế của vùng đất này chỉ hướng thẳng về đây thôi; gai dầu, thuốc lá, ngô, tất cả đều phải dồn về đây. Đường sắt sẽ làm nên chuyện đó, chỉ trong vòng một năm là Napoleon sẽ lột xác đến mức chẳng còn nhận ra nổi cho mà xem.”
——“Rõ ràng là hiện tại thì chưa nhận ra nổi rồi,” Philip thì thầm nói nhỏ với Harry. “Ngài Đại tá đã dùng bữa sáng chưa?”
——“Vội vã lắm. Một tách cà phê. Tôi chẳng thể tin tưởng loại cà phê nào mà do chính tay tôi không nhập khẩu lấy. Nhưng tôi có chuẩn bị một giỏ thực phẩm mang theo—nhà tôi cứ nhét thêm vào vài món quà vặt, phụ nữ lúc nào cũng thế đấy, kèm theo nửa tá rượu vang Burgundy mà tôi vừa nhắc tới với anh Brierly đây. Nhân tiện, anh vẫn chưa có dịp đến dùng bữa tối với tôi đấy nhé.” Và vị Đại tá sải bước về phía chiếc xe ngựa để tìm chiếc giỏ dưới ghế ngồi.
Hình như nó không có ở đó. Bởi vị Đại tá liền vén tấm bạt che, nhìn vào phía trước lẫn phía sau, rồi thốt lên:
——“Khỉ thật. Thế mới biết cái tội không tự mình làm lấy mọi việc. Tôi lại đi tin tưởng đám phụ nữ trong nhà khoản xách giỏ lên xe, để rồi bây giờ nó chẳng có ở đây.”

Người đầu bếp của trại nhanh chóng chuẩn bị cho Đại tá một bữa sáng hấp dẫn gồm gà quay, trứng, bánh ngô và cà phê, món nào cũng được ông thưởng thức nhiệt tình, rồi kết thúc bằng một ngụm rượu Bourbon Già lấy từ tủ rượu riêng của ông Thompson, một nhãn hiệu mà ông khẳng định là quen thuộc đến mức ngửi là biết xuất phát từ tủ rượu nhà mình.
Trong khi đội ngũ kỹ sư ra thực địa để chạy tuyến lùi lại khoảng hai dặm nhằm đánh giá sơ bộ xem liệu con đường sắt có thể dẫn xuống đến bến cảng hay không, đồng thời phóng tầm mắt ngắm qua đoạn sông Run để xem liệu có cách nào vượt ra lại được hay không, Đại tá Sellers và Harry cùng ngồi xuống và bắt đầu phác thảo sơ đồ thành phố Napoleon trên một tấm giấy vẽ lớn.
——“Tôi đã giành được quyền ưu tiên đối với khu đất rộng một dặm vuông ở đây,” Đại tá nói, “đứng tên chúng ta, thời hạn một năm, với một phần tư cổ phần dành riêng cho bốn người chủ sở hữu.”
Họ quy hoạch thị trấn một cách rộng rãi, chẳng thiếu chút không gian nào, chừa lại khoảng trống cho đường sắt đi vào, và cho dòng sông với dáng vẻ tương lai khi được cải tạo. Các kỹ sư báo cáo rằng đường sắt hoàn toàn có thể đi vào được bằng cách uốn lượn một chút rồi vượt qua dòng suối trên một cây cầu cao, tuy nhiên độ dốc sẽ khá lớn. Đại tá Sellers tuyên bố ông chẳng bận tâm lắm về độ dốc, miễn là làm sao đưa được đường sắt đến sát các tòa nhà kho chứa ngũ cốc bên bờ sông là được. Hôm sau, ông Thompson tiến hành khảo sát nhanh đoạn sông chừng một hoặc hai dặm, nhờ đó Đại tá và Harry có thể thể hiện lên bản đồ của họ cách thức mà dòng sông sẽ phục vụ cho thành phố tuyệt vời đến nhường nào. Jeff ký nhận một ít giấy tờ từ Đại tá và Harry về phần cổ phần tương lai trong dự án, còn Philip từ chối tham gia, nói rằng anh không có tiền và không muốn vướng vào những cam kết mà mình không thể thực hiện nổi.
Sáng hôm sau, đoàn trại lại lên đường, theo sau là ánh mắt thẫn thờ của nhóm người đứng trước cửa hàng cho đến khi khuất bóng, trong số đó có một kẻ lẩm bẩm rằng: “nếu tao còn mong chờ nhìn thấy cái con đường sắt quái quỷ ấy lần nào nữa thì tao xin cứ gọi là chó ghẻ.”
Harry đi cùng Đại tá đến Hawkeye để hoàn tất các thỏa thuận của họ, một phần trong số đó là việc chuẩn bị bản kiến nghị gửi lên quốc hội nhằm xin kinh phí cải thiện luồng lạch giao thông trên sông Columbus.
