Eli Bolton và vợ cùng bàn về trường hợp của Ruth, như họ đã từng làm trước đây, với nỗi lo lắng không hề nhỏ. Trong số các con của họ, chỉ có một mình cô là tỏ ra bất mãn trước những khuôn phép và sự tẻ nhạt của Hội Tôn giáo Bạn hữu, đồng thời hoàn toàn không muốn chấp nhận "ánh sáng nội tâm" như một kim chỉ nam cho một cuộc đời tĩnh tại và bằng lòng với thực tại. Khi Margaret kể cho chồng nghe về dự định mới nhất của Ruth, ông không hề tỏ ra ngạc nhiên nhiều như bà vẫn mong đợi. Thực ra, ông nói rằng ông không thấy có lý do gì mà một phụ nữ lại không thể theo đuổi ngành y nếu cô ấy cảm thấy đó là tiếng gọi của cuộc đời mình.
Nhưng Margaret nói: “Anh hãy nghĩ đến sự thiếu từng trải sự đời của con bé và thể trạng mong manh của nó xem. Liệu một cơ thể nhỏ bé và yếu ớt như vậy có thể chịu đựng được thử thách trong giai đoạn chuẩn bị, hay áp lực từ việc hành nghề y hay không?”
“Em đã bao giờ nghĩ xem, Margaret, liệu con bé có thể chịu đựng được việc bị cản trở trong một mục tiêu mà nó đã đặt hết tâm huyết vào đó hay không? Chính em là người đã tự tay rèn giũy con bé ở nhà trong những năm tháng tuổi thơ ốm yếu, và em thừa biết ý chí của nó mạnh mẽ đến nhường nào, cũng như những gì nó đã đạt được trong việc tự rèn luyện chỉ bằng sức mạnh của ý định kiên định. Nó sẽ không bao giờ cảm thấy thỏa mãn cho đến khi tự mình thử sức.”
Margaret thốt lên, với một sự ngớ ngẩn không chỉ riêng phụ nữ mới có: “Em ước gì con bé sớm biết phải lòng và lập gia đình. Em nghĩ điều đó sẽ chữa khỏi cho nó một phần những ý nghĩ kỳ quặc. Em không chắc lắm, nhưng nếu con bé rời đi, đến một ngôi trường xa xôi nào đó, bước vào một cuộc sống hoàn toàn mới, thì suy nghĩ của nó sẽ bị phân tâm.”
Eli Bolton suýt phì cười khi nhìn vợ bằng ánh mắt chưa bao giờ rời khỏi bà ngoài vẻ trìu mến, rồi đáp lời:
“Có lẽ em nhớ ra rằng trước khi chúng ta kết hôn, và trước khi em trở thành thành viên của Hội, em cũng từng có những ý nghĩ riêng. Anh nghĩ Ruth đã thừa hưởng một cách chính đáng những khuynh hướng mà em đã che giấu dưới lớp trang phục của người thuộc phái Bạn hữu.”
Margaret không thể phản bác lại điều này, và trong lúc bà chìm vào im lặng, rõ ràng ký ức đang gợi lên trong tâm trí bà những điều làm lung lay quan điểm hiện tại của bà.
Eli gợi ý: “Sao lại không để Ruth thử học một thời gian nhỉ? Ngay trong thành phố này đã có sự khởi đầu khá tốt của một trường Y khoa dành cho Nữ. Rất có thể chẳng mấy chốc con bé sẽ nhận ra rằng trước hết nó cần một nền văn hóa phổ thông rộng hơn, và rồi nó sẽ thuận theo mong muốn của em là được nhìn ngắm nhiều hơn thế giới bên ngoài tại một ngôi trường lớn nào đó.”
Thực ra dường như chẳng còn cách nào khác để làm, và cuối cùng Margaret đành đồng ý dù trong lòng không chút ưng thuận. Và họ thống nhất rằng Ruth, để đỡ phải vất vả đi lại, sẽ thuê trọ cùng những người bạn gần trường y và thử sức theo đuổi thứ khoa học mà tất cả chúng ta đều mang ơn vì sự sống, đôi khi thoát chết như một phép lạ.
Hôm ấy, ông Bolton dẫn về nhà một vị khách lạ ăn tối, đó là ông Bigler thuộc công ty lớn Pennybacker, Bigler & Small, chuyên nhận thầu đường sắt. Ông ta luôn dẫn về nhà bất cứ ai có một kế hoạch làm ăn nào đó: xây dựng một con đường, khai mở một mỏ quầy, trồng mía trên đầm lầy để làm nguyên liệu giấy, thành lập một bệnh viện, đầu tư vào một bằng sáng chế máy tách xương cá shad, hay mở một trường đại học ở miền biên viễn, gần khu vực đầu cơ đất đai.
Ngôi nhà của gia đình Bolton giống như một thứ khách sạn cho loại người này. Họ cứ liên tục kéo đến. Ruth đã quen biết họ từ thủa nhỏ, và cô thường nói rằng cha cô thu hút họ tự nhiên như thùng đường thu hút rùi muỗi. Ruth có cảm tưởng rằng phần lớn thế giới này sinh sống bằng cách lôi kéo phần còn lại vào các dự án làm ăn. Ông Bolton không bao giờ có thể nói từ “không” với bất kỳ ai trong số họ, thậm chí, theo lời Ruth nhắc lại, là cả hội chuyên đóng dấu các câu kinh thánh lên vỏ hàu trước khi đem bán lẻ.
Kế hoạch lần này của ông Bigler, thứ mà ông ta lớn tiếng bàn tán khi miệng đầy thức ăn trong suốt buổi tối, là việc xây dựng tuyến đường sắt Tunkhannock, Rattlesnake và Youngwomans Town. Tuyến đường này không chỉ là huyết mạch lớn đi về miền tây, mà còn mở ra thị trường cho những mỏ than vô tận và lượng gỗ khổng lồ không thể đo đếm. Phương thức hoạt động vô cùng đơn giản.
Ông ta giải thích: “Chúng ta sẽ mua đất theo hình thức trả chậm, được bảo đảm bằng giấy nhận nợ của những người uy tín; rồi đem thế chấp chúng để lấy số tiền đủ làm nền móng cho con đường. Sau đó, khiến các thị trấn dọc theo tuyến đường phát hành trái phiếu để mua cổ phần, rồi bán những trái phiếu đó lấy tiền hoàn thành con đường và sắm một phần thiết bị, nhất là khi chúng ta thế chấp từng đoạn đường ngay khi hoàn thành. Lúc đó chúng ta có thể bán số cổ phần còn lại dựa trên triển vọng kinh doanh của tuyến đường đi qua vùng đất đang phát triển, đồng thời bán đất với giá cao nhờ vào sức hút của con đường. Tất cả những gì chúng ta cần,” ông Bigler tiếp tục với vẻ mặt bộc trực, “chỉ là vài ngàn đồng để khởi động việc khảo sát và dàn xếp mọi chuyện tại cơ quan lập pháp. Sẽ có một số nhân vật cần phải gặp mặt, những kẻ có thể gây phiền phức cho chúng ta.”
Ông Bolton nhận xét: “Sẽ tốn khá nhiều tiền để khởi xướng dự án này,” ông vốn hiểu rất rõ việc “gặp gỡ” cơ quan lập pháp Pennsylvania nghĩa là gì, nhưng lại quá lịch sự để nói cho ông Bigler biết mình nghĩ gì về ông ta khi ông ta đang là khách của mình, “vậy người ta sẽ có sự bảo đảm nào cho số tiền đó?”
Ông Bigler mỉm cười một nụ cười cứng nhắc rồi nói: “Anh sẽ đứng ở phía trong cuộc chơi, thưa ông Bolton, và anh sẽ có cơ hội đầu tiên trong thương vụ này.”
Điều này khá khó hiểu đối với Ruth, dẫu vậy cô vẫn cảm thấy hơi buồn cười khi được nghiên cứu một tuýp nhân vật mà cô từng gặp trước đây. Cuối cùng, cô cắt ngang cuộc trò chuyện bằng cách hỏi:
“Thưa ông Bigler, tôi đoán là ông sẽ bán cổ phiếu cho bất kỳ ai bị thu hút bởi bản cáo bạch chứ?”
“Ồ, dĩ nhiên rồi, đối xử với tất cả mọi người như nhau,” ông Bigler nói, lúc này mới chú ý đến Ruth lần đầu tiên, và có chút bối rối trước khuôn mặt điềm tĩnh, thông minh đang hướng về phía mình.
“Vậy điều gì sẽ xảy ra với những người nghèo đã bị lôi kéo đem số tiền ít ỏi của họ vào canh bạc đầu cơ này, khi ông đã rút chân ra và bỏ mặc nó nửa chừng?”
Nói rằng ông Bigler cảm thấy lúng túng hoặc có thể lúng túng thì cũng giống như nói rằng một đồng đô la giả bằng đồng thau sẽ đổi màu khi bị từ chối; câu hỏi khiến ông ta hơi khó chịu khi có mặt ông Bolton.

“Ờ thì, thưa cô, dĩ nhiên trong một đại sự vì lợi ích cộng đồng thì sẽ có những chuyện nhỏ xảy ra, những chuyện mà, mà—và dĩ nhiên, người nghèo cần phải được quan tâm; tôi vẫn nói với vợ tôi rằng phải quan tâm đến người nghèo; nếu như cô có thể phân biệt được ai là người nghèo—vì có quá nhiều kẻ giả mạo. Và rồi, lại có quá nhiều kẻ nghèo trong cơ quan lập pháp cần phải chăm lo,” viên nhà thầu cười khúc khích, “phải vậy không, thưa ông Bolton?”
Eli Bolton đáp rằng ông chưa bao giờ dính dáng nhiều đến cơ quan lập pháp.
Vị ân nhân của công chúng này tiếp tục: “Phải, năm nay một lũ nghèo lạ thường, lạ thường thật. Kết quả là tốn kém. Thực tế là, thưa ông Bolton, giá cả của Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ hiện nay đã bị đẩy lên cao đến mức ảnh hưởng đến toàn bộ thị trường; anh không thể thông qua bất kỳ công trình công cộng nào với các điều kiện hợp lý cả. Simony là từ tôi dùng để gọi nó, Simony,” ông Bigler lặp lại như thể mình vừa nói được một câu hay lắm.
Ông Bigler tiếp tục đưa ra một vài chi tiết rất thú vị về mối quan hệ mật thiết giữa đường sắt và chính trị, tự làm cho mình vô cùng hứng khởi trong suốt bữa ăn, đồng thời khiến Ruth — người không hỏi thêm câu nào — và người cha — người chỉ đáp lại bằng những câu cụt lủn — cảm thấy vô cùng chán ngấy.
Sau khi vị khách ra về, Ruth nói với cha: “Con ước gì cha đừng dẫn những kẻ khả ố như thế về nhà nữa. Có phải tất cả những người đeo ghim cài áo đính kim cương to bản, khua khoắng dao nĩa trên bàn ăn, dùng ngữ pháp tồi và chuyên đi lừa đảo đều như vậy không?”
“Ồ, con gái, con không được quá soi mói như thế. Ông Bigler là một trong những nhân vật quan trọng nhất bang; không ai có nhiều ảnh hưởng ở Harrisburg hơn ông ta. Cha cũng chẳng ưa gì ông ta hơn con đâu, nhưng thà cho ông ta vay một ít tiền còn hơn là chuốc lấy ác ý từ ông ta.”
“Cha ơi, con nghĩ thà chuốc lấy ác ý của ông ta còn hơn là chịu đựng sự hiện diện của ông ta. Có đúng là ông ta đã bỏ tiền giúp xây dựng nhà thờ xinh xắn St. James the Less và ông ta là một trong những thành viên hội đồng giáo xứ không?”
“Đúng vậy. Ông ta không phải kẻ quá tồi tệ. Hôm nọ, một người ở phố Third hỏi ông ta rằng nhà thờ của ông ta thuộc phái cao hay phái thấp? Bigler đáp rằng ông ta chẳng biết; ông ta từng vào đó một lần và có thể chạm tay vào trần nhà ở dãy lối đi bên cạnh.”
“Con nghĩ ông ta thật đáng sợ,” đó là lời tổng kết cuối cùng của Ruth về ông ta, theo phong cách phán xét vội vã của phụ nữ, không màng đến những tình tiết giảm nhẹ. Ông Bigler hoàn toàn không biết rằng mình đã không tạo được ấn tượng tốt với cả gia đình; rõ ràng là ông ta có ý định tạo thiện cảm. Margaret đồng tình với con gái, và dù bà chẳng bao giờ nói năng gì với những kẻ như thế, bà vẫn thầm cảm ơn Ruth vì đã dám đâm cho hắn ta ít nhất một nhát.
Sự bình yên trong gia đình Bolton lớn đến mức một người lạ bước vào sẽ chẳng bao giờ mảy may nghi ngờ việc có bất kỳ sự phản đối nào đối với quyết định theo học trường Y của Ruth. Và cô lặng lẽ dọn đến thành phố cư trú, bắt đầu tham gia các buổi lên lớp như thể đó là điều tự nhiên nhất trên đời. Cô không màng chú ý, dù có nghe thấy chăng nữa, những lời bàn tán xì xào đầy kinh ngạc của họ hàng và người quen — những lời đồn đại có sức lan truyền mạnh mẽ trong cộng đồng phái Bạn hữu chẳng kém gì nơi nào khác, chỉ vì chúng được thì thầm lén lút và rỉ tai nhau bằng giọng điệu nhỏ nhẹ.
Ruth hoàn toàn đắm chìm, và lần đầu tiên trong đời cô thực sự hạnh phúc; hạnh phúc trong sự tự do của cuộc sống và trong niềm vui thích sâu sắc trước những khám phá mở rộng biên giới từng ngày. Cô luôn tràn đầy sinh khí mỗi khi về nhà nghỉ ngơi vào ngày Đầu tuần; ngôi nhà ngập tràn niềm vui và tiếng cười rộn rã của cô, khiến lũ trẻ ước gì Ruth đừng bao giờ phải đi đâu nữa. Thế nhưng người mẹ lại nhận thấy, với một chút lo âu, gương mặt đôi khi ửng đỏ, ánh mắt bừng sáng vẻ nôn nóng của một tâm hồn khao khát, và bên cạnh đó là nét mặt kiên định, chịu đựng trong những khoảnh khắc cô không đề phòng.
Ngôi trường y là một cơ sở nhỏ bé và phải chật vật lắm mới duy trì được sự tồn tại giữa lòng thành phố vốn rất bảo thủ nhưng lại là cội nguồn của vô số phong trào cấp tiến này. Tổng cộng chỉ có chưa đầy chục sinh viên theo học các bài giảng, thế nên dự án này mang đậm bầu không khí của một cuộc thí nghiệm và sức hút của những người tiên phong đối với những ai dấn thân vào đó. Có một nữ bác sĩ lái xe ngựa khắp thành phố, xông pha tấn công những căn bệnh hiểm nghèo nhất ở mọi nơi với lòng dũng cảm kiên cường, giống như một nữ thần chiến tranh Bellona hiện đại trên chiếc chiến xa của bà, người mà theo lời đồn đại phổ biến có thể thu về mức thù lao từ mười đến hai mươi nghìn đô la một năm. Có lẽ một số nữ sinh ấy đã hướng tầm mắt về tương lai gần khi họ tự mình duy trì được một phòng khám như thế bên cạnh một người chồng, nhưng người ta chưa từng ghi nhận ai trong số họ tiến xa hơn việc hành nghề trong các bệnh viện và phòng trẻ em của chính mình, và người ta còn e rằng một số người trong số họ cũng sẵn sàng “gọi một nam bác sĩ” trong những tình huống khẩn cấp chẳng kém gì những người phụ nữ bình thường khác.
Nếu Ruth có bất kỳ kỳ vọng phóng đại nào về một đời hành nghề y, cô đều giữ kín cho riêng mình, và được các bạn cùng lớp nhìn nhận đơn giản là một nữ sinh viên vui vẻ, chân thành, luôn hào hứng trong nghiên cứu và chưa bao giờ tỏ ra thiếu kiên nhẫn trước bất kỳ điều gì, ngoại trừ sự ám chỉ rằng phụ nữ không có đủ năng lực tư duy cho khoa học bằng nam giới.
“Người ta thực sự đồn rằng,” một cậu ấm theo phái Quaker nói với một thanh niên cùng trang lứa, “Ruth Bolton thực sự sắp trở thành một kẻ mổ xẻ xác chết, đi nghe giảng, phanh thây người ta, và đủ thứ chuyện. Dù sao thì con bé đó cũng đủ lạnh lùng để làm bác sĩ phẫu thuật.” Cậu ta nói bằng một giọng điệu đầy cảm xúc, bởi rất có thể cậu ta đã từng bị cái nhìn điềm tĩnh của Ruth cân nhắc qua và bị hù cho hoảng vía bởi tiếng cười nhỏ kèm theo câu trả lời đầy hóc búa cho một lời bông đùa vô nghĩa nào đó của cậu. Vào thời điểm ấy, những thanh niên như vậy không xuất hiện quá rõ ràng trong tầm nhìn của Ruth, ngoại trừ việc được xem như những tình huống giải trí.
Về những chi tiết trong đời sống sinh viên, Ruth rất ít khi kể cho bạn bè nghe, nhưng sau này họ có lý do để biết rằng cô đã phải huy động toàn bộ thần kinh và vắt kiệt gần như toàn bộ sức lực thể chất để vượt qua được chặng đường đó. Cô bắt đầu thực hành giải phẫu học trên những phần thi thể người rời rạc được mang vào phòng thị nghiệm — mổ xẻ con mắt, cái tai, và một nhúm cơ cùng dây thần kinh nhỏ — một công việc chẳng mang hơi hướng chết chóc nào nhiều hơn việc phân tích một bộ phận của loài thực vật vốn đã mất đi sự sống khi bị nhổ bật rễ. Thói quen khiến những con người nhạy cảm nhất cũng phải quen dần với những thứ thoạt đầu đáng sợ nhất; và trong cuộc chiến tranh vừa qua, chúng ta từng chứng kiến những người phụ nữ mỏng manh nhất, vốn ở nhà không dám nhìn thấy máu, lại trở nên quen thuộc với những cảnh tượng tàn sát đến mức họ đi dạo qua các bệnh viện và ven các bãi chiến trường, giữa những mảnh tàn tích tội nghiệp của thân xác con người bị xé nát, với một sự tự chủ hoàn hảo cứ như thể họ đang tản bộ trong một khu vườn hoa.

Có dịp nọ, vào một buổi tối, Ruth đang mải mê chìm đắm trong một chuỗi nghiên cứu mà cô không thể hoàn thành hay thấu hiểu nếu thiếu sự thị nghiệm, và cô khao khát đến mức cảm thấy như thể mình không thể chờ đợi cho đến ngày hôm sau. Vì thế, cô thuyết phục một bạn học cùng đọc sách với mình tối hôm đó hãy cùng xuống phòng giải phẫu của trường y, tự mình tìm hiểu điều họ muốn biết qua công việc một giờ đồng hồ tại đó. Có lẽ, Ruth cũng muốn thử thách thần kinh của bản thân, xem sức mạnh của sự liên tưởng trong tâm trí mình có vượt qua được ý chí của chính cô hay không.
Người gác cổng của tòa nhà cổ kính tồi tàn và lạnh lẽo đã để cho hai cô gái bước vào, không giấu vẻ nghi ngờ, và đưa cho họ những ngọn nến đã thắp sáng mà họ sẽ cần đến, kèm theo một câu nói chẳng hơn gì: “Có một xác mới đấy, thưa cô,” khi hai cô gái bước lên những bậc cầu thang rộng.
Họ leo lên tầng ba, dừng lại trước một cánh cửa, mở khóa bước vào một căn phòng dài với một hàng cửa sổ ở một bên và một cửa sổ ở đầu hồi. Căn phòng hoàn toàn tối tăm, ngoại trừ ánh sáng từ các vì sao và những ngọn nến trên tay hai cô gái, thứ ánh sáng lờ mờ soi tỏ hai chiếc bàn dài và vài chiếc bàn nhỏ, một vài chiếc ghế dài và ghế tựa, một cặp bộ xương treo trên vách tường, một cái chậu rửa, và đây đó trên các bàn là những đống vật gì đó được phủ vải.
Các khung cửa sổ đều mở tung, và ngọn gió đêm mát lạnh lùa vào đủ mạnh để thỉnh thoảng làm phấp phới tấm khăn phủ trắng và làm rung chuyển những khung cửa lỏng lẻo. Thế nhưng tất cả hương thơm ngọt ngào của đêm thâu vẫn không thể xua đi khỏi căn phòng thứ mùi thoang thoảng của tử khí.
Hai thiếu nữ dừng lại một lát. Bản thân căn phòng đã quá quen thuộc, nhưng bóng đêm biến bất kỳ căn phòng nào thành nơi kỳ quái, đặc biệt là một căn phòng giam cầm như thế này — nơi phần xác phàm của những kẻ chưa được chôn cất dường như có thể được viếng thăm, theo những ngọn gió đêm thở dài, bởi những linh hồn lang thang của những chủ nhân cũ.
Đối diện và cách một khoảng qua những mái nhà của các dãy nhà thấp hơn, hai cô gái nhìn thấy một tòa nhà cao tầng, với phần tầng trên dài dường như là một phòng khiêu vũ. Những ô cửa sổ của nơi đó cũng đang mở, và qua đó họ nghe tiếng rít của cây vĩ cầm bị kéo miết và tra tấn, tiếng bơm nhịp của kèn oboe, nhìn thấy những bóng dáng đàn ông và phụ nữ di chuyển trong sự chuyển đổi chớp nhoáng, và nghe tiếng kéo dài giọng của người hướng dẫn khiêu vũ.
Ruth cất lời: “Không biết những cô gái đang nhảy múa đằng kia sẽ nghĩ gì nếu họ nhìn thấy chúng ta, hoặc biết rằng có một căn phòng thế này nằm ngay gần họ.”
Cô nói không quá lớn tiếng, và có lẽ một cách vô thức, hai cô gái xích lại gần nhau khi tiến đến chiếc bàn dài ở chính giữa căn phòng. Một vật dài nằm thẳng đơ trên bàn, được phủ kín bằng một tấm vải trắng. Không nghi ngờ gì nữa, đây chính là “xác mới” mà người gác cổng nhắc tới. Ruth tiến lại gần, với bàn tay không mấy vững vàng, cô nhấc tấm vải trắng ở phần trên của hình nhân rồi lật gập nó xuống. Cả hai cô gái đều giật mình. Đó là một người da đen. Khuôn mặt đen đúa dường như thách thức cả sự nhợt nhạt của cái chết, toát lên một vẻ sống động đến kỳ lạ và đầy đáng sợ.

Ruth tái mét như tấm vải trắng, và người bạn đồng hành thì thầm: “Đi ra đi, Ruth, đáng sợ lắm.”
Có lẽ là do ánh nếnập nhờn, có lẽ chỉ là nỗi thống khổ từ một cái chết trong đau đớn, nhưng khuôn mặt da đen gớm ghiếc ấy dường như mang một nét cau có như muốn nói rằng: “Các người vẫn chưa buông tha cho kẻ da đen bị hủi bỏ, bị áp bức này sao, để rồi bây giờ còn lôi hắn ra khỏi mộ và sai cả phụ nữ đến để phanh thây xác thịt hắn?”
Người đàn ông đã chết này là ai — một trong hàng ngàn kẻ đã chết ngày hôm qua, và chẳng bao lâu nữa sẽ trở thành cát bụi — mà lại đứng lên phản đối việc khoa học đem cái xác vô giá trị của hắn ra phục vụ mục đích nào đó?
Ruth hẳn đã chẳng có suy nghĩ nào như thế, bởi với lòng trắc ẩn hiện lên trên gương mặt ngọt ngào, thứ phút chốc đã chiến thắng cả nỗi sợ hãi lẫn sự ghê tởm, cô thành kính đắp lại tấm vải lên, rồi bước về chiếc bàn của mình, giống như người bạn đồng hành đã đi về bàn của cô ấy. Và ở đó suốt một tiếng đồng hồ, họ miệt mài giải quyết những bài toán của riêng mình mà không nói một lời, nhưng không phải là không có sự kính sợ trước sự hiện diện của “xác mới” ở đó, và không phải là không mang một cảm giác rợn ngợp về chính sự sống, khi họ nghe tiếng nhịp điệu của âm nhạc và những tiếng cười khúc khích phát ra từ phòng khiêu vũ.
Đến khi họ rời đi, khóa chặt căn phòng đáng sợ ấy lại sau lưng và bước ra ngoài đường phố nơi người ta đang qua lại, họ mới lần đầu tiên nhận thức được, qua sự nhẹ nhõm dâng trào trong lồng ngực, rằng họ vừa phải trải qua một áp lực thần kinh lớn đến nhường nào.