[VAI TRÒ]: Có những hạng người mà ai trong chúng ta cũng thế nào cũng từng gặp phải ít nhất một lần trong đời. Ý tôi là những kẻ ra điều không tin vào những chuyện mà tận đáy lòng chúng lại vô cùng tin tưởng, thậm chí còn sợ hãi hết mực. Failey Mooney chính là một kẻ như thế. Nếu có ai trong các bác quen biết hắn, Failey là một gã badat, ba hoa, bất chấp tất cả — nhưng chuyện đó không quan trọng; hắn lúc nào cũng nói những điều nhảm nhí này khác; và trong số những thói tào lao của hắn, hắn làm ra vẻ không tin vào các nàng tiên, yêu tinh lùn, và những linh hồn Poocas, thậm chí đôi khi hắn còn xấc xược giả vờ nghi ngờ cả ma quỷ, thứ mà dù sao thì ai ai cũng tin sái cổ. Thế nhưng, một vài người vẫn thường nháy mắt và cười thầm vẻ hiểu ý mỗi khi Failey ba hoa chích choè, bởi vì người ta nhận thấy rằng hắn cực kỳ rén khi phải băng qua khúc cạn Ahnamoe sau khi trời tối; và rằng có lần khi hắn phi ngựa qua nhà thờ cổ Tipper trong đêm tối, dẫu trong người hắn đã nốc đủ rượu pottheen để làm cho bất kỳ tên đàn ông nào cũng phải gan dạ, thế mà hắn vẫn bắt con ngựa phi nước đại để không ai có thể theo kịp, và cứ chốc chốc hắn lại ngoái đầu liếc xéo qua vai trái một cách đầy cảnh giác.
Chà, có một đêm nọ, một đám hàng xóm đang ngồi uống rượu và trò chuyện tại quán của Larry Reilly, và Failey là một trong số những người có mặt. Hắn vẫn như mọi khi, tiếp tục tuôn ra những lời nhảm nhí và ba hoa về lũ tiên, lại còn thề thốt rằng hắn không tin có bất kỳ sinh vật sống nào ngoại trừ con người, thú vật, chim chóc, cá tôm, cùng những thứ đại loại mà người ta có thể tận mắt nhìn thấy; và hắn cứ tiếp tục nói những lời bất kính đến mức thần tiên khiến vài người trong nhóm bắt đầu cảm thấy lo sợ và đưa tay làm dấu thánh, vì chẳng biết chuyện gì có thể xảy ra, thì bỗng có một bà lão tên là Mary Hogan khoác chiếc áo choàng dài màu xanh, đang ngồi sưởi bên góc lò sấy ống khói, vừa hút tẩu thuốc mà chẳng mảy may tham gia vào câu chuyện, liền rút chiếc tẩu ra khỏi miệng, trút hết tro ra ngoài, nhổ một bãi nước miếng vào đống lửa, rồi quay người lại, nhìn thẳng vào mặt Failey. "Thế ra anh không tin có những thứ như yêu tinh lùn thật sao, hả?" bà lão lên tiếng.
Chà, Failey có vẻ hơi chột dạ, nhưng dù sao thì hắn vẫn không nói gì. "Thế mà, chao ôi, thật xứng mặt với một kẻ như anh, chẳng qua chỉ là một thằng ranh con, lại dám cả gan ra điều không tin vào những gì cha anh, cha của cha anh, và ông tổ đời trước của anh chưa từng mỉm may hoài nghi lấy một lần. Nhưng nói cho ngắn gọn, trăm nghe không bằng một thấy như người ta vẫn nói, còn ta, kẻ có thể làm bà ngoại của anh đây, xin khẳng định với anh là có những sinh vật gọi là yêu tinh lùn, và hơn thế nữa, chính tay ta đã từng nhìn thấy một tên — thế nào, anh tính sao đây!"
Tất cả mọi người trong phòng đều tỏ ra vô cùng kinh ngạc trước lời này, liền xúm lại gần lò sưởi để lắng nghe bà. Failey cố cười gượng, nhưng chẳng ăn thua gì, chẳng ai thèm để ý đến hắn.
"Ta nhớ," bà lão kể tiếp, "vào một khoảng thời gian sau khi ta kết hôn với người chồng hiền lành nay đã khuất núi, tính vừa khéo trước ngày ta sinh đứa con đầu lòng một chút thôi (và chuyện đó đã từ rất nhiều năm về trước rồi), ta đang ngồi, như ta vừa nói đấy, ngoài mảnh vườn nhỏ nhà mình với chiếc kim đan trong tay, để canh chừng mấy con ong đang chuẩn bị kéo đàn đi. Đó là một ngày nắng rẹp vào khoảng giữa tháng Sáu, ong thì đang vo ve bay đi bay lại từ mấy cái tổ, chim chóc thì đang ríu rít chuyền cành trên mấy bụi cây, bươm bướm thì bay lượn đậu trên mấy nhành hoa, và vạn vật tỏa hương thơm ngát tươi mới đến độ ta cảm thấy hạnh phúc vô bờ, chẳng còn biết trời đất là gì nữa. Chà, bỗng nhiên, ta nghe thấy giữa mấy luống đậu ở góc vườn một tiếng động lộc cộc, lộc cộc, y như thể có một thợ đóng giày đang nện gót một chiếc giày búp bê vậy. 'Chúa độ trì chúng ta,' ta tự lẩm bẩm, 'trên đời này cái gì thế nhỉ?' Thế là ta đặt đai đan xuống, đứng dậy, rón rén bước lại gần luống đậu, và cứ tin ta đi nếu như ta không tận mắt nhìn thấy, đang ngồi ngay trước mặt ta, giữa đám cây đậu, là một lão già bé xíu, chưa bằng một góc tư đứa trẻ sơ sinh, đội một chiếc mũ sừng trâu nhỏ xíu trên đầu, ngậm một cái tẩu ngắn tũn trên miệng đang nhả khói phì phèo; khoác trên lưng chiếc áo khoác màu xám xịt, kiểu cách cổ lỗ sĩ với những chiếc khuy đồng to tướng; mang một đôi khỏa bạc nặng trịch trên giày, to đến mức suýt che kín cả bàn chân; và lão ta đang cặm cụi làm việc hết sức có thể, đang đóng gót cho một đôi giày búp bê nhỏ xíu. Ngay khoảnh khắc ta vừa đập hai con mắt vào lão, ta liền nhận ra đó chính là một tên Leprechaun, và vì bản tính ta vốn gan lì và bạo gan, ta liền cất tiếng chào: 'Chúa phù hộ lão, người anh em! Trưa hè oi bức thế này mà lão chăm chỉ làm việc quá nhỉ.' Lão ngước lên nhìn mặt ta với vẻ đầy khó chịu; thế là ngay lập tức ta lao tới chóm lấy lão gọn trong tay, và hách dịch hỏi giỏ tiền của lão đâu! 'Tiền ư?' lão đáp, 'tiền nong gì chứ! Mà chốn trần gian này thì một cội tiểu yêu nghèo hèn như ta kiếm đâu ra tiền?' 'Thôi, thôi nào,' ta bảo, 'đừng có giở trò lừa bịp thiên hạ với ta; chẳng phải ai cũng biết rằng lũ yêu tinh lùn như các người giàu có chẳng kém gì quỷ dữ hay sao.' Thế là ta rút con dao thủ sẵn trong túi ra, trưng ra cái bộ mặt ác ôn nhất có thể (và quả tình, lúc đó đối với ta chẳng dễ dàng gì đâu, bởi vì khi ấy ta là một thiếu nữ xinh xắn và hiền hậu nhất mà các người có thể gặp từ đây cho tới tận Ballitore) — rồi thề sống thề chết rằng nếu lão không giao ngay cái túi tiền ra hoặc chỉ cho ta chỗ giấu hũ vàng, ta sẽ cắt đứt cái mũi trên mặt lão. Chà, quả nhiên là gã tí hòn tỏ ra sợ hãi đến mức khi nghe những lời đó, ta suýt động lòng trắc ẩn với sinh vật bé nhỏ tội nghiệp. 'Thế thì,' lão ta nói, 'hãy đi theo ta cách đây vài thửa ruộng, ta sẽ chỉ cho cô chỗ ta cất giấu tiền của.' Thế là ta bước đi, tay vẫn giữ chặt lão không rời, mắt đăm đăm dán vào lão, thì bỗng nhiên ta nghe thấy tiếng vù vù phát ra sau lưng. 'Kìa! Kìa!' lão ta la lên, 'bấy nhiêu ong của cô đang kéo đàn bay đi mất tăm kìa.' Cả tin như một kẻ ngốc, ta liền ngoảnh đầu lại, và khi chẳng thấy gì cả, quay đầu nhìn lại chỗ gã Leprechaun, thì chẳng thấy tăm hơi bóng dáng lão đâu nữa trong tay — bởi vì khi ta gặp vận rủi rời mắt khỏi lão, các người thấy đấy, lão đã luồn qua kẽ tay ta y như thể được làm bằng sương mù hay khói vậy, và từ dạo đó chẳng bao giờ còn bén mảng tới khu vườn nhà ta lấy một bước."