Lịch sử chú bé Tom Jones

Lượt đọc: 1642 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6
— Một cuộc trò chuyện thân tình trong nhà bếp, dẫn đến một kết cục rất đỗi thông thường nhưng chẳng mấy thân thiện.

❊ ❊ ❊

Trong lúc đôi tình nhân của chúng ta đang tự vui vầy theo cách đã được dán tiếp miêu tả ở chương trước, họ đồng thời cũng đang khoản đãi những người bạn tốt của mình dưới nhà bếp. Sự khoản đãi này mang ý nghĩa kép: vừa cung cấp đề tài cho câu chuyện họ trò chuyện, vừa ban cho họ thức uống để làm vui lòng dạ.

Quanh bếp lửa lúc bấy giờ, bên cạnh vợ chồng chủ quán thỉnh thoảng ra vào, còn có sự hiện diện của ông Partridge, viên trung sĩ, và người đánh xe cho tiểu thư cùng cô hầu gái của nàng.

Sau khi Partridge thông báo cho mọi người những gì anh ta học được từ Lão Nhân Núi về hoàn cảnh mà cô Waters được Jones tìm thấy, viên trung sĩ liền chuyển sang phần tiểu sử của cô nàng mà anh ta nắm rõ. Anh ta cho biết cô là vợ của ông Waters, một đại úy trong trung đoàn của họ, và từng nhiều lần cùng chồng đến đóng quân. “Quả thật,” anh ta nói, “có dăm ba kẻ từng hoài nghi không biết họ đã chính thức kết hôn trong nhà thờ hay chưa. Nhưng phần tôi, đó chẳng phải chuyện của mình; thú thật, nếu bắt tôi phải thề độc, tôi tin rằng cô ta cũng chẳng khá hơn chúng ta là mấy, và vị đại úy kia có lẽ sẽ được lên thiên đàng vào ngày nắng đổ mưa sa. Dù vậy, chuyện đó ra sao cũng mặc, bởi ông ta sẽ chẳng sợ thiếu bạn đồng hành. Còn phu nhân, nói công bằng mà xét, thì cũng là một người đàn bà khá tử tế, rất quý trọng sắc áo nhà binh và luôn tha thiết muốn bảo vệ công lý cho binh lính; vì cô ta từng xin tha cho biết bao tội nhân nghèo khó, và nếu theo ý cô ta, sẽ chẳng một ai bị trừng phạt cả. Tuy nhiên, ngài chuẩn úy Northerton và cô ta quả thực rất ư thân thiết với nhau ở đồn trú cuối cùng của chúng tôi — đó là sự thật trăm phần trăm. Nhưng vị đại úy thì chẳng hay biết gì sất; và chừng nào phần của ông ta vẫn đủ đầy, thì điều đó có hề gì? Ông ta chẳng vì thế mà yêu cô ta kém đi chút nào, và tôi dám chắc sẽ đâm thấu tim bất cứ kẻ nào dám lăng mạ cô ấy. Thế nên, về phần mình, tôi chẳng dại gì mà lăng mạ cô ấy. Tôi chỉ lặp lại lời thiên hạ đồn đại; và chắc chắn rằng, điều mà ai ai cũng nói thì thế nào cũng có phần sự thật trong đó.” — “Phải, phải, chắc chắn là có khối điều thật trong đó đấy,” Partridge lên tiếng: “Veritas odium parit.” — “Toàn là mấy thứ nhảm nhí bôi nhọ,” bà chủ quán đáp lời. “Tôi dám cá là bây giờ khi đã chải chuốt lên, trông cô ấy chẳng khác gì một phu nhân tử tế, và cách cư xử cũng đúng mực như vậy; vì cô ta đã cho tôi hẳn một đồng guinea để thuê bộ quần áo này.” — “Quả là một vị phu nhân rất đỗi tốt bụng!” viên chủ quán cất lời; “và nếu mụ không hơi đâu hấp tấp thì đã chẳng gây sự với cô ta ngay từ đầu như thế.” — “Anh lại còn già mồm nhắc đến chuyện đó cơ à!” mụ ta vặn lại: “Nếu không vì mấy trò ngớ ngẩn của anh thì đã chẳng có chuyện gì xảy ra. Cứ thích xía vào chuyện không phải của mình rồi lôi cái giọng điệu ngu ngốc ấy vào.” — “Thôi, thôi,” ông ta đáp: “chuyện qua rồi thì không sửa lại được nữa, chấm dứt ở đây đi.” — “Ừ,” mụ ta là nhèm: “cho lần này; nhưng liệu sau này có khá hơn được chút nào không? Đây đâu phải lần đầu tiên tôi phải chịu khổ vì cái đầu óc bã đậu của anh. Ước gì anh cứ ngậm miệng lại khi ở trong nhà, và chỉ nhúng tay vào mấy việc ngoài đồng áng liên quan đến anh thôi. Anh không nhớ chuyện gì đã xảy ra cách đây chừng bảy năm nữa sao?” — “Thôi nào mình ơi,” ông chồng đáp lời, “đừng có lôi mấy chuyện cũ rích ra nhai lại nữa. Thôi đi, thôi đi, mọi chuyện đều ổn cả rồi, và tôi cũng thấy hối hận vì việc mình làm rồi đây.” Bà chủ quán định đáp trả, nhưng đã bị viên trung sĩ đứng ra làm sứ giả hòa bình ngăn lại, khiến Partridge vô cùng chưng hấng. Vốn là kẻ rất thích những trò vui nhộn và là ngòi nổ cho những cuộc cãi vã vô hại thiên về sự hài hước hơn là bi kịch, anh ta lấy làm tiếc vô cùng.

Viên trung sĩ bèn hỏi Partridge rằng anh ta và chủ nhân đang định đi đâu? “Đừng có mà giáo điều với tôi,” Partridge đáp: “Tôi chẳng phải là đầy tớ của ai cả, xin thưa với anh cho rõ; bởi dẫu tôi từng gặp nhiều tai ương trong đời, danh xưng ‘quý ông’ vẫn gắn liền với tên tôi; và dẫu bây giờ trông tôi có nghèo hèn, giản dị đến đâu đi nữa, thì cũng đã từng có thời dạy học trường ngữ pháp; sed hei mihi! non sum quod fui.” — “Tôi không có ý mạo phạm, mong ngài tha lỗi,” viên trung sĩ nói; “nếu mạn phép được hỏi, không hay ngài và người bạn của ngài đang trên đường đi đâu thế?” — “Anh vừa gọi chúng tôi đúng lắm đấy,” Partridge bảo. “Amici sumus. Và tôi xin hứa với anh rằng bạn tôi là một trong những quý ông vĩ đại nhất vương quốc này” (vừa nghe đến đây, cả ông chủ lẫn bà chủ quán đều vểnh tai lên hóng). “Cậu ấy là người thừa kế của Phủ ngài Allworthy.” — “Gì cơ, vị đại điền chủ hay làm ơn làm phước khắp chốn quê nghèo này á?” bà chủ quán kêu lên. “Chính là ngài ấy,” Partridge đáp. “Thế thì tôi dám cá,” mụ ta bảo, “sau này cậu ta sẽ sở hữu một gia tài đồ sộ cho mà xem.” — “Hiển nhiên là thế rồi,” Partridge đáp. “Ồ,” bà chủ quán tiếp lời, “ngay từ giây phút đầu tiên nhìn thấy cậu ta, tôi đã nghĩ trông cậu ấy ra dáng một vị quý ông tử tế rồi; nhưng ngài chồng tôi đây thì lúc nào chẳng khôn hơn người khác.” — “Tôi nhận mà, mình ơi,” ông chồng lên tiếng, “đó là một sự nhầm lẫn.” — “Nhầm lẫn cơ đấy!” mụ ta vặn lại: “Nhưng có bao giờ anh thấy tôi mắc những lỗi nhầm lẫn thế này chưa?” — “Thế nhưng thưa ngài,” viên chủ quán cất lời, “sao một vị đại quý ông thế lại phải đi bộ lang thang khắp xứ thế kia?” — “Tôi nào biết được,” Partridge đáp; “đôi khi các bậc đại quý ông cũng có những nỗi niềm khó hiểu. Bây giờ cậu ấy đang có cả chục con ngựa và đầy tớ đợi ở Gloucester; thế mà chẳng hiểu sao tối hôm qua, trời thì oi bức, cậu ấy cứ nằng nặc đòi đi bộ ra ngọn đồi cao kia để hóng mát, và tôi cũng đi cùng để bầu bạn; chứ còn lâu mới có lần thứ hai anh tóm được tôi lên đó, đời này tôi chưa bao giờ sợ hãi đến thế. Bọn tôi gặp một kẻ kỳ quái hết chỗ nói ở trên đó.” — “Tôi cứ đâm đầu xuống sông mà chết,” viên chủ quán kêu lên, “nếu đó không phải là Lão Nhân Núi, như thiên hạ vẫn gọi; mà không biết lão có phải là người thật không nữa; chứ tôi biết khối kẻ đinh ninh rằng con quỷ dữ đang sống trên đó cơ.” — “Ừ nhỉ, nghe cũng có lý đấy,” Partridge nói; “và giờ anh nhắc mới nhớ, tôi thực lòng tin sái cổ rằng đó chính là ác quỷ, dẫu tôi chẳng thấy cái móng guốc chẻ đôi nào của hắn; nhưng biết đâu hắn được ban cho phép thuật để che giấu điều đó, vì tà ma vốn có thể hiện hình thành bất cứ hình thù nào chúng muốn.” — “Xin thưa ngài,” viên trung sĩ nói, “tôi không có ý mạo phạm đâu ạ; nhưng cho tôi hỏi ác quỷ là giống người thế nào vậy? Bởi tôi từng nghe mấy vị sĩ quan trong quân ngũ bảo rằng chẳng có con quỷ nào sất; đó chỉ là một mánh khóe của mấy tay mục sư để giữ ghế; vì nếu thiên hạ rành rành ra đấy rằng chẳng có ma quỷ nào cả, thì đám mục sư cũng trở nên vô tích sự hệt như chúng ta trong thời bình vậy thôi.” — “Mấy vị sĩ quan đó chắc hẳn là những bậc uyên bác lắm nhỉ,” Partridge mỉa mai. “Cũng chẳng uyên bác gì cho cam,” viên trung sĩ đáp; “tôi tin là họ chẳng có nổi một nửa học thức của ngài đâu; và dẫu họ nói thế, tôi vẫn đinh ninh rằng phải có ma quỷ chứ, dẫu một trong số họ là đại úy; vì tôi cứ tự nhủ rằng, nếu không có ác quỷ, thì làm sao những kẻ gian ác lại bị đày xuống chỗ hắn được? Tôi đọc tất cả những điều ấy trong sách vở cả rồi đấy.” — “Mấy vị sĩ quan của anh,” viên chủ quán chen vào, “rồi sẽ sớm nhận ra có ma quỷ cho mà xem, thế nào họ cũng phải ngậm đắng nuốt cay thôi. Tôi đố mà trốn được những món nợ cũ mà hắn sắp tính sổ với tôi đấy. Từng có một gã đóng quân nhà tôi suốt nửa năm trời, trơ trẽn chiếm dụng chiếc giường tốt nhất của tôi dẫu ngày tiêu chưa nổi một xu trong quán, lại còn cho đám lính tỳ hưu nướng bắp cải ngay bếp lửa vì tôi không chịu dọn cơm trưa cho chúng vào ngày Chủ nhật. Bất cứ người theo đạo Thiên Chúa chân chính nào cũng phải mong có ác quỷ để trừng trị những ả sở khanh bỉ ổi ấy.” — “Này ngài chủ quán,” viên trung sĩ lên tiếng, “đừng có mà bôi nhọ sắc áo nhà binh, tôi không để yên đâu đấy.” — “Mặc xác cái sắc áo nhà binh ấy đi!” viên chủ quán gầm lên, “Tôi đã khốn khổ đủ đường vì bọn chúng rồi.” — “Các vị ở đây làm chứng cho tôi nhé,” viên trung sĩ hô lớn, “hắn vừa nguyền rủa nhà vua, đó là tội phản quốc đấy.” — “Tao nguyền rủa nhà vua cái con khỉ khô nhà mày! Đồ tiểu nhân,” viên chủ quán quát. “Chính mày vừa lăng mạ đấy chứ,” viên trung sĩ nói; “mày vừa nguyền rủa sắc áo nhà binh, mà nguyền rủa sắc áo thì cũng bằng nguyền rủa nhà vua. Cả hai chỉ là một! Vì bất cứ kẻ nào dám nguyền rủa sắc áo nhà binh cũng sẽ dám nguyền rủa nhà vua nếu hắn dám làm thế; xét cho cùng thì cũng chỉ là một giuộc mà thôi.” — “Xin lỗi anh nhé, ngài trung sĩ,” Partridge đan tay vào cuộc, “đó là một luận điểm non sequitur.” — “Đừng có mà lôi mấy thứ ngôn ngữ ngoại lai ấy ra đây với tôi,” viên trung sĩ gầm lên, vùng dậy khỏi ghế; “Tôi không ngồi yên để nghe người ta bôi nhọ sắc áo quân đội đâu.” — “Anh hiểu lầm tôi rồi, bạn tôi ơi,” Partridge thanh minh. “Tôi nào có ý lăng mạ sắc áo đó; tôi chỉ nói rằng kết luận của anh là một non sequitur[*].” — “Mày cũng chẳng vừa đâu,” viên trung sĩ gầm lên, “nếu mày đã giở thói đó. Chẳng hơn gì tao đâu mà bày đặt. Cả lũ chúng mày đều là đồ vô lại, và tao sẽ chứng minh điều đó; tao sẵn sàng đấu tay đôi với bất cứ tên giỏi võ nhất của tụi mày chấp cả đám luôn với giá hai mươi bảng.” Thách thức này đã lập tức dập tắt cái thói ba hoa của Partridge, kẻ mà sự hăng hái muốn thượng cẳng chân hạ cẳng tay đã vơi đi nhiều sau bữa ăn thịnh soạn vừa rồi; thế nhưng gã đánh xe – kẻ có những khúc xương ít nhức mỏi hơn và cơn thèm đánh nhau có phần bén nhọn hơn – lại không dễ gì nuốt trôi sự nhục mạ mà hắn cho rằng ít nhiều cũng nhắm vào mình. Hắn liền chồm dậy khỏi ghế, tiến thẳng về phía viên trung sĩ, thề rằng hắn coi bản thân chẳng thua kém bất cứ gã nào trong quân đội, và ngỏ ý thượng đài với mức cược một đồng guinea. Viên võ phu lập tức nhận lời thách đấu nhưng từ chối tiền cược; đoạn cả hai cởi phăng áo xông vào giao chiến, cho đến khi kẻ cầm cương bị tay chỉ huy bầm dập tơi bời đến mức phải dốc những hơi thở tàn cuối cùng để cầu xin tha mạng.

Bấy giờ vị tiểu thư nọ sốt ruột muốn lên đường, bèn truyền lệnh chuẩn bị xe ngựa; nhưng mọi nỗ lực đều thành công cốc, bởi người đánh xe đã hoàn toàn mất khả năng chấp nhận thi hành nhiệm vụ cho buổi tối hôm đó. Một kẻ ngoại đạo thời cổ đại có lẽ sẽ quy sự bất lực này cho vị thần rượu chê không kém gì vị thần chiến tranh; bởi trên thực tế, cả hai đấu thủ đều đã dâng hiến tế vật cho vị thần trước cũng như vị thần sau. Nói một cách ngắn gọn, cả hai đều say khướt mèm, và tình trạng của Partridge cũng chẳng khá khẩm hơn là bao. Riêng viên chủ quán của chúng ta, uống rượu vốn là nghề của chàng; chất cồn chẳng tác động gì đến hắn nhiều hơn là đối với bất kỳ cái chum cái vại nào trong nhà.

Bà chủ quán, sau khi được triệu tập để phục vụ trà bánh cho ông Jones cùng người bạn đồng hành của ngài, đã tường thuật lại toàn bộ phần sau của cảnh tượng vừa rồi; đồng thời bày tỏ niềm xót xa khôn tả cho vị tiểu thư nọ, “người,” theo lời mụ, “đang vô cùng bất an vì bị cản trở không thể tiếp tục hành trình. Cô ấy là một sinh linh ngọt ngào xinh xắn,” mụ nói thêm, “và tôi dám chắc mình từng gặp khuôn mặt ấy ở đâu rồi. Tôi đoán cô ta đang vướng vào lưới tình và bỏ trốn khỏi gia đình. Biết đâu có vị công tử bột nào đó đang ngóng chờ cô ấy với một cõi lòng nặng trĩu chẳng kém gì cô ấy đâu chứ?”

Jones kìm nén một tiếng thở dài não nề trước những lời ấy; dẫu bà Waters để tâm đến tiếng thở dài đó, cô ta vẫn làm lơ chừng nào bà chủ quán còn ở trong phòng; thế nhưng, ngay khi người phụ nữ tốt bụng ấy vừa khuất dạng, cô ta liền không kìm được mà bắn ra những bóng gió ám chỉ rằng cô ta đang hoài nghi về một thứ tình địch vô cùng nguy hiểm trong trái tim người hùng của chúng ta. Thái độ vụng về của Mr Jones trong tình huống này đã thuyết phục hoàn toàn cô ta về sự thật đó, dẫu anh chẳng thèm đưa ra câu trả lời trực diện cho bất kỳ câu hỏi nào; nhưng cô ta vốn chẳng phải là kẻ câu nệ trong chuyện ái tình để mà bận tâm hay đau khổ trước phát hiện ấy. Vẻ đẹp của Jones làm say đắm đôi mắt cô ta; song vì chẳng thể thấu thấu tâm can anh, cô ta chẳng mảy may bận lòng về điều đó. Cô ta có thể thoải mái dự tiệc tại bàn tiệc tình yêu mà không mảy may suy tính xem liệu có kẻ nào khác đã từng, hoặc sẽ được, thưởng thức bữa tiệc tương tự trong tương lai. Đó là một quan điểm dẫu chẳng mấy cao sang nhưng lại vô cùng thực tế, ít tính đồng bóng hơn, và có lẽ cũng ít ác ý cùng ích kỷ hơn so với mong muốn của những ả đàn bà sẵn sàng kiềm chế bản thân không chiếm đoạt người tình, miễn là họ chắc mẩm rằng chẳng một ai khác có được hắn ta.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.