
Thế nhưng, sự chú ý của tôi bỗng chốc bị kéo ra khỏi những chuyện đó; đứa con nhỏ của chúng tôi lại bắt đầu yếu đi, và bệnh tình trở nên nghiêm trọng đến mức chúng tôi phải thức trắng đêm để chăm sóc con bé. Chúng tôi không tài nào chịu nổi ý định để bất cứ ai nhúng tay vào việc này, thế là hai vợ chồng cứ phiên nhau túc trực ngày này qua ngày khác. Chà, Sandy, nàng mới có một trái tim làm sao, mới giản dị, chân chất và tốt bụng làm sao! Nàng là một người vợ, người mẹ hoàn hảo không tì vết; vậy mà khi ấy, tôi cưới nàng chẳng vì lý do đặc biệt nào ngoài việc theo luật lệ của giới hiệp sĩ, nàng thuộc về tôi cho đến khi có một hiệp sĩ nào đó chiến thắng tôi trên chiến trường. Nàng đã lùng sục khắp nước Anh để tìm tôi; đã tìm thấy tôi trong vụ treo cổ bên ngoài thành London, rồi cứ thế đường hoàng quay lại bên cạnh tôi một cách vô cùng bình thản như một lẽ đương nhiên. Tôi là một người New England, và theo suy nghĩ của tôi, kiểu kết hợp thế này sớm muộn gì cũng gây tai tiếng cho nàng. Nàng thì chẳng thấy có vấn đề gì, nhưng tôi gạt phắt mọi tranh luận đi và chúng tôi tổ chức đám cưới.
Lúc đó tôi nào biết mình đang vớ được một giải thưởng lớn, nhưng thực tế là tôi đã vớ được. Chưa đầy một năm sau, tôi đã trở thành kẻ si mê nàng; và tình nghĩa vợ chồng chúng tôi là mối thắm thiết, hoàn mỉ nhất từng có trên đời. Người ta hay ca tụng những tình bạn đẹp giữa hai kẻ cùng phái. Nhưng thứ tình cảm đó có thấm tháp gì so với tình bạn giữa vợ và chồng, khi mà những thôi thúc tốt đẹp nhất và lý tưởng cao cả nhất của cả hai là một? Chẳng thể có sự so sánh nào giữa hai thứ tình bạn ấy; một bên thuộc về trần thế, bên kia mang ơn thiêng liêng.
Trong những giấc mơ, thuở mới đầu, tôi vẫn lang thang trôi dạt về mười ba thế kỷ trước, và tâm hồn khao khát của tôi cứ cất tiếng gọi và ngóng trông khắp những khoảng không vô vọng của một thế giới đã lùi vào dĩ vãng. Không ít lần Sandy nghe thấy tiếng kêu cầu khẩn ấy thốt ra từ môi tôi trong lúc ngủ. Với một sự cao thượng tuyệt vời, nàng đã gán tiếng kêu đó cho đứa con của chúng tôi, đinh ninh rằng đó là tên của một người thân yêu nào đó đã mất của tôi. Điều đó làm tôi cảm động đến rơi nước mắt, đồng thời cũng khiến tôi gần như ngã quỵ, khi nàng ngẩng mặt lên cười chờ đợi phần thưởng xứng đáng và dành cho tôi một điều bất ngờ kỳ lạ và đáng yêu:
“Tên của người từng được chàng quý mến đã được lưu giữ ở đây, được tôn kính ở đây, và âm thanh của nó sẽ mãi mãi vướng vít bên tai chúng ta. Giờ thì chàng hãy hôn em đi, coi như đã biết cái tên mà em đã đặt cho con.”
Thế nhưng tôi nào có biết cái tên ấy. Tôi hoàn toàn mù tịt; nhưng thú nhận điều đó thì thật tàn nhẫn và sẽ phá hỏng trò chơi dễ thương của nàng; thế nên tôi đành vờ như biết, rồi nói:
“Ừ, anh biết rồi, em yêu — em thật là chu đáo và tốt bụng biết bao! Nhưng anh muốn nghe chính cái miệng này của em, vốn cũng là của anh, thốt lên trước đã — khi ấy âm thanh của nó mới thực sự trọn vẹn.”
Phần phật vì sung sướng, nàng thì thào:
“Xin chào tổng đài!”

Tôi đã không cười — tôi luôn thầm tạ ơn vì điều đó — nhưng sự gắng gượng ấy làm đứt gãy từng sợi sụn trong người tôi, và suốt mấy tuần sau đó, mỗi khi bước đi tôi lại nghe thấy tiếng xương cốt mình kêu lục cục. Nàng không hề hay biết về sự nhầm lẫn của mình. Lần đầu tiên nghe thấy câu chào đó được dùng qua điện thoại, nàng đã ngạc nhiên và không mấy hài lòng; nhưng tôi bảo rằng chính tôi đã ra lệnh như thế: rằng từ nay về sau, điện thoại bắt buộc phải được gọi bằng cái nghi thức trang nghiêm ấy, nhằm đời đời ghi nhớ và tôn vinh người bạn quá cố của tôi cùng cô con gái nhỏ mang tên người ấy. Điều đó chẳng có gì là thật cả. Nhưng nó lại hiệu quả.
Chà, suốt hai tuần rưỡi trời chúng tôi túc trực bên chiếc nôi, và vì quá lo lắng nên chúng tôi hoàn toàn quên bẵng thế giới bên ngoài căn phòng bệnh ấy. Rồi phần thưởng cũng đến: tâm điểm của vũ trụ đã vượt qua cơn bĩ cực và bắt đầu hồi phục. Biết ơn ư? Từ đó chưa đủ nghĩa. Chẳng có từ nào diễn tả nổi đâu. Tự bạn cũng biết điều đó, nếu bạn từng thức canh đứa con qua Thung lũng Bóng tối và nhìn nó quay trở lại với cuộc sống, xua tan bóng đêm khỏi mặt đất bằng một nụ cười rạng rỡ đến mức bạn có thể lấy bàn tay che trọn.
Chao ôi, chúng tôi đã trở lại với thế giới này chỉ trong chớp mắt! Rồi ngay khoảnh khắc ấy, chúng tôi nhìn vào mắt nhau với cùng một nỗi bàng hoàng: hơn hai tuần trôi qua rồi, mà con tàu kia vẫn chưa về!
Chỉ một phút sau, tôi đã có mặt trước đoàn tùy tùng của mình. Bọn họ suốt thời gian qua đã chìm đắp trong nỗi lo âu trĩu nặng — gương mặt ai nấy đều lộ rõ điều đó. Tôi gọi một đội hộ vệ và chúng tôi phi ngựa suốt năm dặm đến một đỉnh đồi hướng ra biển. Đâu rồi những thương thuyền vĩ đại của tôi, thứ vốn vừa mới đây còn khiến những vùng nước mênh mông này tấp nập và xinh đẹp với những cánh buồm trắng xóa của chúng? Tiêu tan hết cả, không sót một chiếc! Chẳng còn một cánh buồm nào từ tận chân trời này sang chân trời khác, chẳng còn một dải khói nào — chỉ là một cõi hoang vắng chết chóc và trống rỗng, thay thế cho cả một bầu sinh khí rộn ràng và lộng gió trước kia.
Tôi lập tức quay gót trở về, không nói với ai một lời nào. Tôi đem tin khủng khiếp này kể cho Sandy nghe. Chúng tôi chẳng tài nào nghĩ ra nổi một lời giải thích hợp lý. Đã có một cuộc xâm lược ư? Hay một trận động đất? Hay dịch hứa? Phải chăng cả dân tộc đã bị quét sạch khỏi cõi đời này? Nhưng đoán già đoán non chẳng ích gì. Tôi phải đi — ngay lập tức. Tôi mượn chiếc chiến thuyền của nhà vua — một “con tàu” chẳng lớn hơn chiếc ca-nô hơi nước là bao — và nhanh chóng chuẩn bị lên đường.
Cuộc chia ly — ả, phải, điều đó thật khó khăn. Khi tôi đang ngấu nghiến ôm hôn con bé lần cuối, nó bỗng tươi tỉnh hẳn lên và tuôn ra đủ mọi từ vựng! — lần đầu tiên sau hơn hai tuần lễ, và nó khiến hai vợ chồng tôi ngớ ngẩn vì vui sướng. Những lời nói ngọng ngịu đáng yêu của tuổi thơ! — trời ạ, chẳng có âm thanh nào lay động lòng người hơn thế; và người ta mới đau đớn làm sao khi những âm thanh ấy phai nhạt dần rồi trôi vào sự tròn vành rõ chữ, với ý thức rằng chúng sẽ chẳng bao giờ ghé tai kẻ đang chịu tang ấy một lần nào nữa. Chà, thật tuyệt biết bao khi có thể mang theo ký ức dịu dàng ấy lên đường!
Sáng hôm sau, tôi tiến vào vùng biển nước Anh với cả một đại lộ nước mặn thênh thang chỉ thuộc về riêng mình. Có những con tàu nằm trong cảng Dover, nhưng chúng trơ trụi chẳng bóng buồm, và xung quanh chẳng hề có một dấu hiệu sự sống nào. Hôm ấy là Chủ nhật; thế mà ở Canterbury, đường phố vắng ngắt; kỳ lạ nhất là chẳng thấy bóng dáng một linh mục nào, và không một tiếng chuông nào gióng lên bên tai tôi. Nỗi buồn thảm của cõi chết hiện hữu ở khắp mọi nơi. Tôi không sao hiểu nổi. Cuối cùng, ở rìa phía bên kia thị trấn, tôi thấy một đám tang nhỏ — chỉ có một gia đình và vài người bạn đang tiễn đưa một cỗ quan tài — không có linh mục; một đám tang không chuông, không sách thánh, không nến; có một nhà thờ nằm sát ngay đó, nhưng họ vừa đi vừa khóc lướt qua chứ không bước vào; tôi ngước nhìn lên láp chuông, và chiếc chuông đang treo ở đó, bị quấn vải đen che khuất, với cái lưỡi gà đã bị buộc chặt lại. Giờ thì tôi đã hiểu! Giờ thì tôi đã thấu suốt thảm họa kinh hoàng giáng xuống nước Anh này. Xâm lược ư? Xâm lược chỉ là chuyện vặt vãnh so với thứ này. Đó chính là Lệnh cấm vận!
Tôi không gặng hỏi ai; mà cũng chẳng cần phải hỏi. Giáo hội đã ra đòn; việc tôi phải làm bây giờ là cải trang và hành động thật thận trọng. Một trong những người hầu đưa cho tôi một bộ quần áo, và khi chúng tôi đã ra khỏi thị trấn an toàn, tôi liền thay vào, từ đó một mình tôi lèo lái; tôi không thể mạo hiểm mang theo người đi cùng để vướng víu.

Một chuyến đi khốn khổ. Sự tĩnh lặng hoang vắng bao trùm khắp nơi. Ngay cả ở London cũng vậy. Giao thông đình trệ; người ta không nói cười, không đi thành từng nhóm, hay thậm chí từng đôi; họ lang thang không mục đích, ai nấy cắm chặt đầu xuống đất, mang theo nỗi thống khổ và kinh hoàng trong tim. Tòa Tháp London lộ ra những vết tích chiến tranh mới đây. Quả thực, rất nhiều chuyện đã xảy ra.
Dĩ nhiên, tôi định bắt tàu hỏa để đi Camelot. Tàu hỏa ư? Chà, nhà ga trống hoác chẳng khác gì một cái hang động. Tôi tiếp tục lên đường. Cuộc hành trình đến Camelot chỉ là sự lặp lại những gì tôi đã chứng kiến. Ngày thứ Hai và thứ Ba chẳng có gì khác biệt so với ngày Chủ nhật. Tôi đến nơi khi đêm đã khuya. Từ chỗ là một thị trấn được thắp sáng bằng điện đẹp nhất vương quốc và giống như một vầng thái dương đang nằm nghỉ ngơi hơn bất cứ thứ gì bạn từng thấy, nơi đây giờ chỉ còn là một vết nhọ — một vết nhọ giữa màn đêm — nghĩa là nó tối tăm và đặc quánh hơn phần còn lại của màn đêm, nhờ thế mà bạn có thể nhận ra nó rõ hơn một chút; nó khiến tôi có cảm giác như thể đó là một điềm báo — một thứ dấu hiệu cho thấy Giáo hội sắp giành lại thế thượng phong và bóp nghẹt toàn bộ nền văn minh tươi đẹp của tôi cứ thế là xong. Tôi chẳng tìm thấy chút sự sống nào đang cựa quậy trên những con đường ảm đạm. Tôi dò dẫm bước đi với cõi lòng nặng trĩu. Lâu đài nguy nga sừng sững một màu đen kịch trên đỉnh đồi, chẳng một đốm lửa nhỏ nào lấp lánh xung quanh. Cầu treo đã hạ xuống, cổng lớn mở toang, tôi bước vào mà không bị ai thách thức, chính tiếng bước chân của tôi là âm thanh duy nhất vang lên — và nó đủ mang màu sắc tang tóc trong những khoảng sân rộng lớn và trống trải ấy.
