
Vào buổi sáng ngày thứ tư, khi trời vừa hửng sáng và chúng tôi đã bước đi suốt một giờ trong làn sương sớm giá lạnh, tôi đi đến một quyết định: nhà vua cần phải được huấn luyện; mọi chuyện không thể cứ tiếp diễn thế này mãi được. Ngài phải được uốn nắn một cách cẩn thận và tận tâm, nếu không chúng tôi sẽ chẳng bao giờ dám bén mảng vào một ngôi nhà nào cả; ngay cả lũ mèo cũng có thể nhận ra kẻ giả mạo này là một tên bịp bợm chứ chẳng phải dân thường. Thế là tôi ra hiệu dừng lại và nói:
“Tâu Bệ hạ, nếu xét về trang phục và diện mạo thì ngài hoàn toàn ổn, không có gì chênh lệch cả; nhưng nếu xét giữa y phục và dáng điệu của ngài thì lại sai bét, có một sự chênh lệch trông thấy rõ. Sải bước hiên ngang của một binh sĩ, dáng đi uy nghi của một ông vua — những thứ đó không ổn chút nào. Ngài đứng thẳng quá, ánh mắt quá cao ngạo và tự tin. Những lo toan của vương triều không làm gù đôi vai, không cúi gằm cằm xuống, không hạ thấp tầm nhìn, không gieo rắc nghi ngờ và sợ hãi vào tim rồi phơi bày những dấu hiệu đó qua một thân hình lờ đờ và bước đi thiếu chắc chắn. Chính những nỗi lo toan bần tiện của kẻ hạ tiện mới tạo ra những điều đó. Ngài phải học lấy cái mánh khóe ấy; ngài phải bắt chước những đặc điểm quen thuộc của đói nghèo, khốn khổ, áp bức, lăng nhục, cùng những nỗi bất hạnh chung khác vốn rút sạch tính nam nhi của một con người để biến anh ta thành một thần dân trung thành, ngoan ngoãn, đáng mặt và làm vừa lòng các ông chủ của mình, bằng không thì ngay cả những đứa trẻ cũng sẽ nhận ra ngài không đơn thuần như lớp cải trang, và chúng ta sẽ tiêu đời ngay tại túp lều đầu tiên ta đặt chân tới. Xin ngài hãy thử đi thế này.”

Nhà vua chăm chú quan sát, rồi thử bước theo.
“Khá lắm — khá lắm. Cằm thấp xuống một chút nữa thưa ngài — đấy, rất tốt. Mắt nhìn cao quá; xin ngài đừng nhìn ra đường chân trời, hãy nhìn xuống mặt đất, cách mười bước chân trước mặt. À — thế thì tốt hơn, tốt lắm rồi. Khoận đã, thưa ngài; ngài bộc lộ sự sung sức và quyết đoán quá mức; ngài cần phải lê lết nhiều hơn nữa. Xin hãy nhìn tôi — đây là điều tôi muốn nói.... Giờ thì ngài bắt được nhịp rồi đấy; ý là như thế — ít ra thì cũng xấp xỉ thế rồi.... Vâng, khá lắm. Nhưng! Vẫn còn thiếu một cái gì đó lớn lắm, tôi không rõ chính xác là cái gì. Xin ngài hãy đi chừng ba mươi thước, để tôi có thể nhìn tổng thể xem sao.... Được rồi — đầu đúng rồi, tốc độ đúng, vai đúng, mắt đúng, cằm đúng, dáng đi, tư thế, phong thái chung đều đúng — mọi thứ đều đúng! Thế nhưng thực tế vẫn rành rành ra đó, tổng thể lại sai. Phép tính không khớp. Xin làm lại lần nữa đi.... Giờ thì hình như tôi bắt đầu hiểu ra vấn đề rồi. Vâng, tôi tìm ra rồi. Ngài thấy đấy, thiếu đi cái vẻ chán đời đích thực; rắc rối nằm ở chỗ đó đấy. Mọi thứ hãy còn rất nghiệp dư — các chi tiết cơ khí đều chuẩn xác, gần như hoàn hảo đến từng sợi tóc; mọi thứ về sự đánh lừa đều hoàn hảo, chỉ có điều nó không đánh lừa được ai cả.”
“Vậy, ta phải làm gì để qua mặt được họ đây?”
“Để tôi suy nghĩ đã... Hình như tôi vẫn chưa nắm bắt được chính xác. Thực ra, chẳng có cách nào khắc phục ngoài việc luyện tập. Đây là một nơi thích hợp cho việc đó: rễ cây và đất đá sẽ làm hỏng dáng đi uy nghi của ngài, một vùng đất ít bị quấy rầy, chỉ có một cánh đồng và một túp lều trong tầm mắt, lại ở xa đến mức chẳng ai có thể nhìn thấy chúng ta từ đằng kia. Tốt hơn là chúng ta nên rời khỏi con đường mòn một chút và dành trọn cả ngày để huấn luyện ngài, thưa Bệ hạ.”
Sau khi việc huấn luyện diễn ra được một lát, tôi nói:
“Bây giờ, thưa Bệ hạ, xin ngài hãy tưởng tượng chúng ta đang đứng trước cửa túp lều đằng kia, và gia chủ đang ở trước mặt chúng ta. Xin mời ngài tiếp tục — hãy bắt chuyện với chủ nhà.”
Nhà vua vô thức ưỡn người thẳng băng như một bức tượng đài, và cất giọng lạnh lùng nghiêm nghị:
“Hỡi kẻ tôi tớ, hãy mang ghế ra đây; và dọn cho ta chút thức ăn ngươi có.”
“À, thưa ngài, làm như vậy là không ổn.”
“Nó còn thiếu sót điều gì?”
“Những người này không gọi nhau là kẻ tôi tớ.”
“Ồ, thế ra vậy ư?”
“Vâng; chỉ có những kẻ bề trên mới gọi họ như thế.”
“Vậy ta phải thử lại. Ta sẽ gọi hắn là kẻ hèn mọn.”
“Không, không; vì biết đâu hắn là một thường dân tự do.”
“À — ra thế. Vậy có lẽ ta nên gọi hắn là hiền giả.”
“Như vậy cũng được, thưa ngài, nhưng sẽ còn hay hơn nữa nếu ngài gọi là bạn, hoặc anh em.”
“Anh em! — với thứ rác rưởi ấy ư?”
“À, nhưng chúng ta cũng đang giả vờ làm thứ rác rưởi ấy mà.”
“Quả đúng là vậy. Ta sẽ nói thế. Này anh em, hãy mang ghế ra, và kèm theo chút thức ăn ngươi có. Giờ thì ổn rồi chứ.”
“Chưa hẳn, vẫn chưa hoàn toàn đúng. Ngài vừa đòi hỏi cho một người, chứ không phải cho cả hai chúng ta — cho một người, chứ không phải cho cả hai; thức ăn cho một người, ghế cho một người.”

Nhà vua có vẻ bối rối — trí tuệ của ngài không mấy uyên bác cho lắm. Đầu óc ngài giống như một chiếc đồng hồ cát; nó có thể dung nạp một ý tưởng, nhưng phải nhét vào từng chút một chứ không thể tiếp nhận toàn bộ ý tưởng cùng một lúc.
“Chẳng lẽ ngươi cũng muốn có một chiếc ghế — và ngồi xuống nữa sao?”
“Nếu tôi không ngồi, người ta sẽ nhận ra chúng ta chỉ đang giả vờ bình đẳng với nhau — và cái màn kịch lừa dối ấy cũng diễn xuất kém quá.”
“Lời nói thật hay và chuẩn xác làm sao! Chân lý mới kỳ diệu làm sao, dù nó xuất hiện dưới bất kỳ hình thức bất ngờ nào! Vâng, hắn phải mang ghế và thức ăn ra cho cả hai, và khi phục vụ chúng ta, không được dâng chậu rửa tay và khăn ăn với vẻ kính trọng người này hơn người kia.”
“Và vẫn còn một chi tiết cần phải chỉnh sửa nữa. Hắn không được mang thứ gì ra ngoài cả; chúng ta sẽ bước vào — bước vào nơi bùn đất ấy, và có lẽ cả những thứ gớm ghiếc khác nữa, — rồi cùng ăn uống với gia chủ theo phong cách của họ, tất cả đều trên nền tảng bình đẳng, trừ khi người đàn ông đó thuộc tầng lớp nô lệ; và cuối cùng, sẽ không có chậu rửa tay hay khăn ăn nào hết, dù hắn là nô lệ hay tự do. Xin mời Bệ hạ bước đi lần nữa. Đấy — khá hơn rồi — là lần tốt nhất từ nãy đến giờ; nhưng vẫn chưa hoàn hảo. Đôi vai ấy chưa từng biết đến gánh nặng nào tầm thường hơn chiếc áo giáp sắt, nên chúng không chịu cúi xuống.”

“Vậy thì, hãy đưa ta chiếc túi. Ta sẽ học lấy cái tinh thần đi liền với những gánh nặng không có vinh quang. Ta cho rằng chính tinh thần mới làm gù đôi vai chứ không phải sức nặng; bởi vì áo giáp tuy nặng, nhưng đó là một gánh nặng kiêu hãnh, và người ta đứng thẳng trong đó.... Thôi nào, đừng có nhưng với chớ, đừng đưa ra phản đối gì với ta nữa. Ta sẽ mang nó. Hãy buộc nó lên lưng ta.”
Giờ đây, với chiếc ba lô trên lưng, trông ngài đã hoàn thiện và chẳng khác nào một gã thường dân chính hiệu, giống một kẻ vô danh tiểu tốt nhất mà tôi từng thấy. Nhưng đôi vai ấy thật bướng bỉnh; chúng có vẻ không sao học được cái mánh cúi xuống với bất kỳ vẻ tự nhiên đánh lừa nào. Buổi huấn luyện vẫn tiếp tục, tôi vừa nhắc nhở vừa chỉnh sửa:
“Bây giờ, hãy giả vờ như ngài đang ngập đầu trong nợ nần và bị những chủ nợ ráo riết săn đuổi; ngài đang thất nghiệp — chẳng hạn như nghề đóng móng ngựa — mà chẳng kiếm được việc làm nào; và vợ ngài đang ốm, lũ trẻ thì đang khóc thét vì đói lòng—”
Cứ thế, cứ thế. Tôi huấn luyện ngài lần lượt hóa thân thành đủ loại người đang gặp vận rủi, chịu đựng những cơ hàn và bất hạnh cùng cực. Nhưng trời ạ, đó chỉ là những lời nói rỗng tuếch — chúng chẳng có chút ý nghĩa gì với ngài cả, tôi thà huýt sáo còn hơn. Lời nói chẳng thể hiện thực hóa được điều gì, chẳng làm cho điều gì sống động đối với ngài, trừ khi chính bản thân ngài đã từng trải qua cái cảnh mà lời nói đang cố miêu tả. Có những kẻ thông minh cứ hay bàn luận một cách đầy hiểu biết và tự đắc về “tầng lớp lao động”, rồi tự mãn cho rằng một ngày lao động trí óc vất vả thì mệt nhọc hơn rất nhiều so với một ngày lao động chân tay cực nhọc, và đương nhiên xứng đáng được trả thù lao cao hơn hẳn. Chà, họ thực sự nghĩ thế đấy, ngài biết đấy, bởi vì họ hiểu rõ về cái này, nhưng chưa hề thử qua cái kia. Trái lại, tôi hiểu rõ cả hai; và đối với tôi, chẳng có số tiền nào trên đời này đủ để thuê tôi vác cuốc bổ đất suốt ba mươi ngày, nhưng tôi sẵn sàng làm những công việc trí óc nặng nhọc nhất với mức thù lao rẻ mạt hết mức mà ngài có thể tính toán được — và tôi cũng vẫn cảm thấy thỏa mãn nữa là khác.
“Công việc” trí óc đã bị gọi sai tên; đó là một niềm vui, một sự tiêu khiển, và là phần thưởng cao quý nhất cho chính nó. Kẻ được trả lương thấp nhất trong số các kiến trúc sư, kỹ sư, tướng lĩnh, nhà văn, nhà điêu khắc, họa sĩ, diễn giả, luật sư, nhà lập pháp, diễn viên, nhà thuyết giáo, ca sĩ — về mặt bản chất đều đang ở trên thiên đường khi họ làm việc; còn về phần người nhạc sĩ với cây vĩ cầm trong tay đang ngồi giữa một dàn nhạc lớn với những dòng thủy triều âm thanh thần thánh dâng trào ôm lấy anh ta — ừ thì, anh ta đang làm việc đấy, nếu ngài muốn gọi nó là thế, nhưng lạy Chúa, đó cũng chỉ là một lời mỉa mai cay đắng mà thôi. Quy luật lao động quả thực có vẻ vô cùng bất công — nhưng sự thật là thế, và chẳng có gì thay đổi được nó: người lao động càng nhận được nhiều niềm vui từ công việc bao nhiêu, thì thù lao bằng tiền mặt anh ta nhận được cũng sẽ cao bấy nhiêu. Và đó cũng chính là bản chất của những mánh lới bịp bợm rõ mười mươi, như chế độ quý tộc truyền đời và chế độ quân chủ vậy.
