
Tôi thấy lời nói dối kỳ quặc ấy được kể lại thật mộc mạc và êm tai; nhưng âu cũng là vì tôi mới nghe lần đầu, mà lần đầu thì bao giờ chẳng khác; chắc hẳn những người khác trước kia, khi câu chuyện còn mới mẻ, cũng từng lấy làm thích thú.
Hiệp sĩ Dinadan kẻ thích pha trò là người thức giấc đầu tiên, và chẳng mấy chốc gã đã đánh thức cả đám bằng một trò đùa dai vô cùng thô thiển. Gã buộc mấy cái ca kim loại vào đuôi một con chó rồi thả nó ra; con vật hoảng loạn cuống cuồng chạy thục mạng vòng quanh sảnh, kéo theo cả bầy chó vừa sủa ầm ĩ đuổi theo vừa đâm sầm, quàng quạc va vào mọi thứ trên đường đi, tạo nên một cảnh tượng hỗn loạn kinh hoàng cùng mớ âm thanh đinh tai nhức óc. Thế mà lũ lượt đàn ông đàn bà ở đó lại cười đến chảy cả nước mắt, có kẻ còn ngã nhào khỏi ghế, lăn lộn dưới sàn trong cơn phấn khích tột cùng. Trông chẳng khác nào một lũ trẻ con. Hiệp sĩ Dinadan đắc chí với chiến tích của mình đến nỗi cứ bô bô kể đi kể lại tới mức phát ngấy về cơ duyên khiến gã nảy ra cái ý tưởng bất hủ ấy; và đúng thói của phường hề hước hạ đẳng, người ta đã dứt cơn cười từ lâu mà gã vẫn còn hềnh hệch một mình.

Gã lên mặt đến độ quyết định đăng đàn diễn thuyết—dĩ nhiên là một bài diễn thuyết hài hước. Tôi đồ rằng cả đời mình chưa từng nghe một tràng những câu chuyện cười cũ rích và nhạt nhẽo đến thế. Gã còn tệ hơn cả bọn hát rong, tệ hơn gã hề trong rạp xiếc. Cảm giác thật sầu não lạ lùng khi phải ngồi đây, vào cái thời điểm mười ba thế kỷ trước khi tôi chào đời, để nghe lại mấy trò đùa rẻ tiền, nhạt thếch, mọt rỗng từng khiến tôi phát ngấy đến đau cả bụng hồi còn là một thằng bé ở mười ba thế kỷ sau. Chuyện này khiến tôi gần như tin chắc rằng trên đời tuyệt nhiên chẳng thể có trò đùa nào thực sự mới mẻ. Ai nấy đều cười nghiêng ngả trước những mẩu chuyện cổ lỗ sĩ ấy—nhưng thiên hạ xưa nay vẫn thế; nhiều thế kỷ sau tôi cũng từng nhận thấy điều này. Dẫu vậy, dĩ nhiên là kẻ hay gièm pha thì chẳng buồn cười—ý tôi là cái thằng nhóc nọ. Không, nó chỉ dè bỉu; chẳng có thứ gì mà nó không giễu cợt cho được. Nó bảo phần lớn mấy câu đùa của Hiệp sĩ Dinadan đều thối hoắc, số còn lại thì đã hóa thạch. Tôi bảo từ "hóa thạch" dùng hay đấy; bởi chính tôi cũng tin rằng cách duy nhất để phân loại niên đại huy hoàng của mấy mẩu chuyện cười kia là dùng các kỷ địa chất. Tiếc thay, cái ý tưởng hóm hỉnh ấy rơi trúng chỗ trống trong đầu thằng bé, vì thời này người ta đã phát minh ra môn địa chất học đâu. Dù sao thì tôi cũng ghi nhớ lời nhận xét ấy, bụng bảo dạ nếu sống sót qua phen này sẽ mở mang đầu óc cho thần dân xứ này hiểu được nó. Chẳng việc gì phải vứt bỏ một điều hay ho chỉ vì thị trường chưa tới độ chín muồi.
Bấy giờ Hiệp sĩ Kay đứng dậy, bắt đầu đốt lò cho cỗ máy bịa chuyện của gã hoạt động, mà nhiên liệu chẳng phải ai khác ngoài tôi. Đã đến lúc tôi phải thấy lo lắng thực sự, và quả tình tôi lo thật. Hiệp sĩ Kay kể lại chuyện gã chạm trán tôi ở một vùng đất man di xa xôi ra sao, nơi tất thảy đều vận thứ y phục nực cười y hệt như tôi—thứ y phục được yểm bùa phép nhằm bảo vệ kẻ mặc khỏi mọi tổn hại do tay người phàm gây ra. Thế nhưng gã đã dùng lời cầu nguyện để vô hiệu hóa pháp thuật ấy, rồi một mình hạ sát mười ba hiệp sĩ của tôi trong trận huyết chiến kéo dài ba giờ đồng hồ và bắt sống tôi, tha mạng cho tôi để đem một sinh vật kỳ dị hiếm thấy như tôi về dâng lên cho đức vua cùng triều đình chiêm ngưỡng và trầm trồ. Gã cứ thản nhiên gọi tôi bằng những mỹ từ như "tên khổng lồ phi thường này", "quái vật cao chọc trời kinh khiếp này", rồi "con yêu tinh ăn thịt người có nanh vuốt này", vậy mà mọi người đều nuốt trôi thứ nhảm nhí ấy một cách ngây thơ nhất trần đời, chẳng một ai mỉm cười hay mảy may nhận ra sự cọc cạch giữa những số liệu thổi phồng kia với con người tôi. Gã bảo lúc cố chạy trốn khỏi gã, tôi đã nhún chân nhảy tót một phát lên ngọn cây cao hai trăm thước, nhưng gã đã dùng một tảng đá to bằng con bò ném tôi rớt xuống, khiến hầu hết xương cốt tôi "vỡ nát vụn", rồi bắt tôi thề phải diện kiến triều đình Arthur để nhận phán quyết. Gã kết thúc câu chuyện bằng việc tuyên án tử hình tôi vào giữa trưa ngày hai mươi mốt; gã dửng dưng với chuyện này đến mức còn dừng lại ngáp một cái rồi mới thèm nêu ngày hành quyết.
Lúc này tôi đã rơi vào tình cảnh thê thảm cùng cực; quả thực đầu óc tôi chẳng còn đủ tỉnh táo để theo dõi cuộc tranh cãi vừa nổ ra về việc nên giết tôi bằng cách nào cho tiện, khi mà vài kẻ còn hồ nghi khả năng giết được tôi vì ma thuật yểm trên bộ quần áo. Ấy thế mà nó chẳng qua chỉ là một bộ đồ may sẵn xoàng xĩnh giá mười lăm đô-la. Dẫu vậy, tôi vẫn còn đủ tỉnh táo để nhận ra chi tiết này, ấy là: rất nhiều từ ngữ được đám đông gồm những bậc quý bà quý ông tôn quý nhất xứ sở này thốt ra một cách hết sức tự nhiên lại thừa sức làm cho một gã da đỏ Comanche cũng phải đỏ mặt tía tai.

Dùng từ "khiếm nhã" thì vẫn còn quá nhẹ để diễn tả điều đó. Tuy nhiên, tôi từng đọc "Tom Jones", "Roderick Random" và những cuốn sách thuộc thể loại ấy, nên tôi biết rằng các quý bà quý ông thuộc tầng lớp cao sang bậc nhất nước Anh vẫn ăn nói chẳng mấy sạch sẽ, cũng như giữ nguyên thứ đạo đức và hành vi gắn liền với lối ăn nói ấy mãi cho đến tận một trăm năm trước; thực ra là mãi tới tận thế kỷ mười chín của chúng tôi—cái thế kỷ mà nói một cách khái quát, những hình mẫu đầu tiên về người phụ nữ đoan trang và đấng trượng phu đích thực mới bắt đầu xuất hiện trong lịch sử nước Anh, hay nói rộng ra là cả lịch sử châu Âu. Thử tưởng tượng xem nếu Ngài Walter, thay vì mớm lời thoại cho các nhân vật, lại để họ tự do cất tiếng xem sao? Chúng ta ắt sẽ nghe thấy những lời lẽ từ miệng Rebecca, Ivanhoe và tiểu thư Rowena dịu dàng đến mức một gã lang thang thời nay cũng phải ngượng chín người. Dẫu sao, với những kẻ khiếm nhã trong vô thức thì mọi sự đều thanh tao cả. Thần dân của Vua Arthur chẳng hề ý thức được rằng mình thô bỉ, còn tôi thì đủ khôn ngoan để không vạch trần điều đó.
Họ bối rối trước bộ quần áo yểm bùa của tôi đến nỗi cuối cùng đã thở phào nhẹ nhõm khi lão phù thủy Merlin gạt phăng mối bận tâm ấy bằng một gợi ý đầy lý lẽ thông thường. Lão hỏi sao mọi người lại ngốc nghếch thế—sao không ai nghĩ đến việc lột sạch đồ của tôi ra. Chỉ trong nửa phút, tôi đã trần như nhộng, chẳng khác nào một đôi kẹp gắp than! Và trời đất ơi, nghĩ mà xem: tôi là người duy nhất cảm thấy ngượng ngùng ở đó. Mọi người xúm lại bàn tán về tôi, thản nhiên như thể tôi là một cây bắp cải. Hoàng hậu Guenever cũng tò mò một cách ngây thơ chẳng kém gì đám đông, bà bảo chưa từng thấy ai có đôi chân giống như của tôi bao giờ. Đó là lời khen duy nhất tôi nhận được—nếu như đó thực sự là một lời khen.
Cuối cùng, người ta khiêng tôi đi một ngả, còn bộ quần áo nguy hiểm của tôi bị mang đi ngả khác. Tôi bị tống vào một xà lanh tối tăm hẹp téo dưới hầm ngục, với vài mẩu thức ăn thừa thãi cho bữa tối, một đống rơm mốc meo làm giường, cùng vô số chuột bọ làm bạn đồng hành.
