Hầu Cận Xứ Connecticut Tại Triều Đình Vua Arthur

Lượt đọc: 542 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
Các Hiệp Sĩ Bàn Tròn

❊ ❊ ❊

Các cuộc đàm luận quanh Bàn Tròn phần lớn là những màn độc thoại—những lời kể lể dông dài về các chiến tích bắt sống đám tù binh kia, cũng như hạ sát rồi lột sạch chiến mã, áo giáp của bè bạn và vây cánh của họ. Xét đại thể—theo chừng mực tôi hiểu được—những chuyến phiêu lưu đẫm máu ấy chẳng phải là những cuộc đột kích nhằm trả mối thù xưa, cũng chẳng phải để dàn xếp xích mích cũ hay những nỗi bất hòa bột phát; không, về bản chất, đó chỉ đơn thuần là những trận giác đấu giữa những kẻ xa lạ—những kẻ thậm chí chưa từng được giới thiệu với nhau lấy một lời, và giữa đôi bên tuyệt nhiên không hề có chút hiềm khích. Đã bao lần tôi từng thấy hai đứa trẻ con xa lạ tình cờ chạm mặt, đồng thanh bảo nhau: “Tao đấm gục được mày đấy,” rồi lao vào đấm đá túi bụi ngay tắp lự; song xưa nay tôi vẫn đinh ninh trò ấy chỉ dành cho con nít, là dấu hiệu và đặc trưng của tuổi ấu thơ; vậy mà ở đây, một lũ to đầu ngốc nghếch lại cứ bám riết lấy trò đó và lấy làm hãnh diện cho đến tận lúc đứng tuổi, thậm chí già khọm. Dẫu vậy, những sinh linh to xác mà bụng dạ chất phác này vẫn có nét gì đó rất mực cuốn hút, đáng mến và dễ thương. Cứ như thể trí khôn của cả cái “nhà trẻ” này gom lại cũng chẳng đủ dính nổi một đầu lưỡi câu; nhưng ở lâu một chút bạn sẽ chẳng buồn bận tâm nữa, bởi bạn sẽ sớm nhận ra rằng trong một xã hội như thế này, trí khôn là thứ hoàn toàn thừa thãi, thậm chí nếu có chỉ tổ phá hỏng, ngáng trở và làm méo mó tính cân xứng hài hòa của nó—mà biết đâu chừng, còn khiến nó chẳng thể nào tồn tại nổi.

Hầu như trên gương mặt nào cũng toát lên vẻ nam nhi cương trực; ở vài người còn phảng phất nét cao quý và dịu dàng đến mức khiến mọi lời chê bai dè bỉu của bạn phải tự thẹn thùng mà im bặt. Một vẻ nhân từ và thanh khiết vô ngần ngự trị trên dung nhan của bậc trượng phu được gọi là Hiệp sĩ Galahad, và nơi đức vua cũng rạng ngời cốt cách ấy; còn vóc dáng khổng lồ cùng phong thái hiên ngang của Hiệp sĩ Launcelot xứ Hồ lại toát lên uy nghi tột bậc và khí phách phi phàm.

Liền đó xảy ra một sự biến khiến mọi sự chú ý đều đổ dồn về phía Hiệp sĩ Launcelot này. Theo hiệu lệnh của một viên quan coi sóc nghi lễ, chừng sáu hay tám tù binh đồng loạt đứng dậy, tiến lên phía trước rồi quỳ phục xuống sàn, giương hai tay về phía khán đài của các quý bà và khẩn xin ân huệ được thưa chuyện cùng vương hậu. Người phụ nữ ngự ở vị trí nổi bật nhất giữa vườn hoa nhung lụa và trang sức kiều diễm ấy khẽ gật đầu chuẩn tấu; thế rồi kẻ đại diện cho đám tù binh bèn xin dâng nộp bản thân cùng các bạn đồng ngũ cho vương hậu tùy ý định đoạt: tha bổng, đòi tiền chuộc, giam cầm hay xử tử, hoàn toàn thuận theo thánh ý của Người; gã nói thêm rằng mình làm vậy là tuân theo mệnh lệnh của Quan tổng quản Sir Kay, chủ nhân bắt giữ họ sau khi một tay ngài tả xung hữu đột, dùng thần lực và lòng quả cảm phi thường đánh bại tất cả trong một trận kịch chiến nơi sa trường.

Sự kinh ngạc và sững sờ chớp giật liên hồi trên khắp các gương mặt trong gian phòng; nụ cười hài lòng của vương hậu vụt tắt ngay khi nghe nhắc đến tên Sir Kay, thay vào đó là nét mặt thất vọng tràn trề; còn chú tiểu đồng ghé sát tai tôi thì thầm bằng một giọng điệu và cử chỉ lộ rõ vẻ giễu cợt quá trớn—

“Sir Kay cơ đấy, thật khôi hài! Ôi, gọi tôi bằng cái tên nịnh đầm nào đi, em yêu, gọi tôi là chú lính thủy ngây thơ đi! Có gom hết trí tưởng tượng quái đản của loài người trong hai ngàn năm tới cũng chẳng đẻ ra nổi một lời dối trá nào hùng vĩ sánh bằng!”

Mọi ánh mắt nghiêm nghị đầy nghi vấn đều găm chặt vào Sir Kay. Nhưng ngài ta cũng chẳng phải tay vừa trước tình thế ấy. Ngài đứng bật dậy, chơi một ván bài như một viên thiếu tá lão luyện—và ăn trọn cả canh. Ngài dõng dạc tuyên bố sẽ trình bày sự việc chuẩn xác theo đúng sự thật; ngài sẽ kể một câu chuyện mộc mạc, thẳng thắn, tuyệt không thêm thắt nửa lời bình luận; “và sau đó,” ngài nói, “nếu chư vị thấy vinh quang và danh dự này thuộc về ai, xin hãy trao trọn cho bậc dũng sĩ vô song dưới trần thế, người từng mang khiên vung gươm tung hoành trong hàng ngũ của các chiến binh Cơ Đốc giáo—chính là người đang ngồi đằng kia!” rồi ngài trỏ tay về phía Hiệp sĩ Launcelot. Chà, ngài ta đã hớp hồn được tất cả; một đòn tuyệt chiêu đích đáng. Đoạn ngài thao thao bất tuyệt kể về chuyện cách đây ít lâu, trong lúc đi tìm kiếm phiêu lưu, Sir Launcelot chỉ bằng một nhát gươm đã hạ sát bảy tên khổng lồ, giải thoát một trăm bốn mươi hai trinh nữ bị giam cầm; rồi chàng lại tiếp tục dấn bước tìm kiếm hiểm nguy, và bắt gặp ngài (tức Sir Kay) đang tuyệt vọng chống trả chín hiệp sĩ ngoại bang; chẳng chút chần chừ, chàng một mình nhảy vào gánh trọn cuộc chiến và đè bẹp cả chín tên; đêm hôm ấy, Sir Launcelot lặng lẽ trở dậy, khoác lên mình bộ giáp của Sir Kay, dắt chiến mã của Sir Kay rồi phi nước đại đến những miền đất xa xôi, hạ gục mười sáu hiệp sĩ trong một trận giáp lá cà và ba mươi tư tên khác trong một trận kế tiếp; chàng bắt tất thảy đám này cùng chín kẻ bại trận trước đó phải thề rằng, nội trong dịp Lễ Hiện Xuống, họ phải thân hành đến triều đình Arthur đầu hàng Vương hậu Guenever, chịu phận làm tù binh của Quan tổng quản Sir Kay, như chiến lợi phẩm từ lòng dũng cảm hiệp sĩ của ngài; và giờ đây nửa tá đầu tiên đã có mặt tại đây, số còn lại sẽ lập tức đến trình diện ngay khi những vết thương chí mạng của họ vừa kịp lành miệng.

Chà, trông vương hậu lúc ấy thật cảm động: nàng đỏ mặt mỉm cười, vẻ vừa ngượng ngùng vừa sung sướng, rồi kín đáo liếc trộm Sir Launcelot bằng những ánh nhìn âu yếm mà nếu ở Arkansas, tay hiệp sĩ kia nắm chắc phần mười sẽ bị bắn vỡ sọ.

Ai nấy đều hết lời ca ngợi lòng quả cảm và khí phách hào hiệp của Sir Launcelot; còn tôi thì trố mắt kinh ngạc, không hiểu làm sao một người đơn thương độc mã lại có thể đè bẹp và bắt sống cả những đạo quân gồm toàn những tay thiện chiến dạn dày đến thế. Tôi đem nỗi thắc mắc này nói với Clarence; nhưng cái đầu óc nông nổi và thích chế giễu ấy chỉ buông một câu:

“Ví thử Sir Kay có thêm thời gian nốc thêm một bầu rượu chua nữa, đằng ấy sẽ thấy con số kia tăng lên gấp đôi ngay thôi.”

Tôi ái ngại nhìn chú bé; và đúng lúc tôi nhìn, một đám mây chán chường sâu sắc bỗng phủ bóng lên gương mặt non nớt ấy. Dõi theo hướng mắt của chú, tôi thấy một lão già râu tóc bạc phơ, vận chiếc áo choàng thụng màu đen, vừa gượng đứng dậy bên bàn trên đôi chân run rẩy; lão khẽ lắc lư cái đầu già nua và đảo đôi mắt kèm nhem, lờ đờ nhìn khắp cử tọa. Nét mặt đau khổ nơi chú tiểu đồng cũng xuất hiện trên khắp các gương mặt chung quanh—vẻ cam chịu của những con vật câm lặng biết mình phải cắn răng chịu đựng mà chẳng dám hé răng kêu rên.

“Trời đất ơi, lại sắp phải nghe nữa rồi,” chú bé thở dài sườn sượt; “lại cái câu chuyện cũ rích phát ngấy mà lão đã tua đi tua lại cả nghìn lần chẳng sai một chữ, và sẽ còn kể cho tới lúc chết, cứ mỗi bận lão nốc đầy một bụng rượu và thấy cái cối xay bốc phét trong đầu bắt đầu quay tít mù. Cầu Chúa cho con chết đi còn hơn phải chứng kiến cái ngày này!”

“Ai đấy?”

“Merlin, tên đại bịp bợm kiêm phù thủy đấy, quỷ tha ma bắt lão đi cho rảnh nợ đời vì nỗi ngán ngẩm mà cái câu chuyện độc nhất của lão gây ra! Nếu người ta không sợ lão có thể hô mưa gọi gió, sai khiến sấm sét và điều động toàn bộ quỷ dữ dưới địa ngục, thì từ nhiều năm trước người ta đã mổ bụng moi gan lão ra để bóp chết cái câu chuyện ấy rồi. Lão toàn kể bằng ngôi thứ ba, giả bộ như mình khiêm tốn lắm, chẳng thèm tự đề cao bản thân—nguyền rủa giáng xuống đầu lão, tai ương vận vào thân lão đi cho rảnh! Này bạn hiền, làm ơn đến giờ kinh chiều thì lay tôi dậy nhé.”

Chú bé rúc đầu vào vai tôi vờ nhắm mắt ngủ. Lão già bắt đầu cất giọng kể; và chỉ một thoáng sau, chú nhóc đã chìm vào giấc ngủ thật sự; rồi lũ chó, cả triều đình, đám gia nhân, cùng những hàng lính vũ trang cũng đều thiếp đi như thế. Giọng nói đều đều ê a cứ thế rền rĩ kéo dài; tiếng ngáy khe khẽ rộ lên khắp bốn phía như một khúc đệm trầm lắng của dàn kèn hơi phụ họa theo. Kẻ thì gục đầu lên đôi tay khoanh tròn, người thì ngửa cổ ra sau, há hốc mồm tấu lên những thanh âm vô thức; lũ ruồi tha hồ vo ve châm chích chẳng ai buồn xua, lũ chuột từ hàng trăm cái hang êm ả túa ra, chạy lăng xăng và mặc sức tung hoành như chốn không người; một con chuột thậm chí còn ngồi xổm như một chú sóc ngay trên đỉnh đầu nhà vua, hai chân trước ôm mẩu pho mát gặm nhấm ngon lành, rồi thản nhiên rỏ những vụn bánh xuống mặt đức vua với một vẻ xấc xược ngây thơ đến cùng cực. Quả là một khung cảnh thanh bình, đem lại sự thư thái cho đôi mắt mỏi mệt và tâm hồn rệu rã.

Và đây là câu chuyện của lão già. Lão kể rằng:

“Đoạn, đức vua cùng Merlin cáo biệt, tìm đến chỗ một vị ẩn sĩ vốn là bậc nhân từ lại giỏi nghề y dược. Vị ẩn sĩ bèn xem xét mọi vết thương của ngài rồi ban thuốc tiên xoa bóp; đức vua lưu lại nơi ấy ba ngày, thương tích đã lành lặn đến độ có thể cưỡi ngựa dong ruổi, bèn từ tạ lên đường. Đang lúc ruổi dong, Arthur phán rằng: ‘Trẫm chẳng có gươm.’ Merlin đáp: ‘Chẳng hề gì,* [*Chú thích của Mark Twain: Không sao cả.] gần đây có một thanh gươm sẽ thuộc về người nếu lão đây trổ tài.’ Cứ thế họ đi cho tới khi gặp một hồ nước mênh mông phẳng lặng, và ngay giữa lòng hồ, Arthur chợt thấy một cánh tay vận lụa trắng muốt vươn lên, tay cầm một thanh bảo kiếm tuyệt mỹ. Merlin bảo: ‘Kìa, thanh kiếm lão từng nói ở đằng kia.’ Vừa lúc ấy, họ trông thấy một thiếu nữ đang bước đi trên mặt nước. Arthur hỏi: ‘Thiếu nữ kia là ai vậy?’ Merlin thưa: ‘Đó là Nàng Tiên của Hồ Nước; bên trong hồ có một hòn non bộ, nơi ấy là cảnh tiên trần thế chẳng đâu sánh bằng, trang hoàng vô cùng tráng lệ; lát nữa nàng sẽ đến gần, xin người hãy lựa lời ân cần để nàng trao cho thanh bảo kiếm.’ Thiếu nữ tức thì tiến đến trước Arthur cất lời chào, và ngài cũng đáp lễ cung kính. Arthur bảo: ‘Này trang thiếu nữ, thanh kiếm mà cánh tay đằng kia đang giơ trên mặt nước là kiếm chi vậy? Trẫm ước gì có được nó, bởi trẫm không có gươm.’ Thiếu nữ thưa: ‘Tâu Vua Arthur, thanh kiếm ấy là của thiếp, nếu người thuận hứa ban cho thiếp một đặc ân khi thiếp cất lời cầu xin, người sẽ có được nó.’ Arthur phán: ‘Bằng danh dự của trẫm, nàng xin gì trẫm cũng chuẩn tấu.’ Thiếu nữ đáp: ‘Vậy xin người hãy bước xuống chiếc thuyền đằng kia, chèo ra chỗ thanh kiếm mà lấy cả gươm lẫn bao mang về; còn ân huệ thì khi thuận tiện thiếp sẽ đòi sau.’ Vậy là Vua Arthur cùng Merlin xuống ngựa, buộc cương vào hai gốc cây, rồi bước xuống thuyền; khi đến chỗ cánh tay đang cầm thanh kiếm, Vua Arthur bèn nắm lấy chuôi rút lên, đem theo mình.

Đoạn, cánh tay cùng bàn tay lặn mất tăm dưới làn nước; hai người bèn quay lại bờ rồi lên ngựa đi tiếp. Bấy giờ Vua Arthur trông thấy một khu lều trại lộng lẫy. Ngài hỏi: ‘Khu lều kia có ý nghĩa gì?’ Merlin thưa: ‘Đó là trướng trại của Sir Pellinore, hiệp sĩ mà người vừa giao đấu trận trước; song ngài ta hiện vắng mặt, không có ở đó; ngài ta đang mắc bận giao tranh với một hiệp sĩ của người tên là Egglame; đôi bên đã kịch chiến, nhưng cuối cùng Egglame phải tháo chạy, bằng không đã mất mạng; ngài ta đuổi riết đối phương đến tận Carlion, và chốc nữa ta sẽ giáp mặt ngài ta ngay trên đường cái quan.’ Arthur bảo: ‘Nói hay lắm, nay trẫm đã có gươm, trẫm sẽ giao chiến với hắn để rửa mối hận này.’ Merlin can: ‘Thưa đức vua, người chớ nên làm vậy; bởi vị hiệp sĩ ấy đã mỏi mệt vì đánh dẹp và truy đuổi, người dẫu có giao đấu cũng chẳng vẻ vang gì; vả lại, trên cõi đời này khó có hiệp sĩ nào một chọi một mà thắng nổi ngài ta; vì thế lão khuyên người hãy bỏ qua, bởi chẳng bao lâu nữa ngài ta cùng các con trai sẽ lập cho người nhiều công trạng lớn. Lại nữa, chẳng mấy chốc sẽ đến ngày người hoan hỉ gả em gái mình cho ngài ấy kết tóc xe duyên.’ Arthur phán: ‘Khi nào giáp mặt, trẫm sẽ làm theo lời khuyên của khanh.’ Bấy giờ Vua Arthur ngắm nghía thanh gươm, trong lòng vô cùng ưng ý. Merlin hỏi: ‘Người chuộng thanh gươm hơn hay chuộng chiếc bao hơn?’ Arthur đáp: ‘Trẫm chuộng thanh gươm hơn.’ Merlin bảo: ‘Người thật chưa thấu đáo, bởi chiếc bao gươm quý gấp mười lần thanh kiếm; chừng nào người còn đeo chiếc bao ấy bên mình, dẫu có bị thương nặng đến đâu người cũng tuyệt đối không hề mất một giọt máu; vậy nên, hãy luôn mang chiếc bao gươm bên mình.’ Thế rồi họ dong ngựa vào Carlion, trên đường đi có giáp mặt Sir Pellinore; song Merlin đã làm phép khiến Pellinore chẳng nhìn thấy Arthur, cứ thế lướt qua mà không nói một lời. Arthur ngạc nhiên bảo: ‘Trẫm lấy làm lạ sao hiệp sĩ ấy chẳng cất lời chào.’ Merlin thưa: ‘Tâu đức vua, ngài ta đâu có thấy người; chứ nếu ngài ta thấy, người khó lòng mà đi qua yên ổn.’ Sau đó họ về đến Carlion, các hiệp sĩ của ngài mừng rỡ khôn xiết. Khi nghe kể về những chuyến phiêu lưu của ngài, ai nấy đều kinh ngạc vì ngài dám liều mình đơn thương độc mã đến thế. Nhưng mọi đấng trượng phu đều ngợi khen rằng thật vinh hạnh xiết bao khi được phò tá một minh chủ dám dấn thân vào hiểm nguy chẳng khác nào một hiệp sĩ bần hàn phong trần.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.