Hầu Cận Xứ Connecticut Tại Triều Đình Vua Arthur

Lượt đọc: 546 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 37
Một Tình Thế Nguy Kịch

❊ ❊ ❊

Ngủ ư? Chuyện đó là bất khả thi. Đương nhiên là không tài nào chợp mắt nổi trong cái hôi hám, nhơ nhớp của chục giam ấy, nơi chen chúc một lũ vô lại gầy guộc, say xỉn, hay cãi cọ và suốt ngày hò hát. Nhưng điều khiến giấc ngủ trở thành một thứ hoàn toàn xa vời chính là sự nôn nóng đến cuồng dại muốn thoát khỏi chốn này, để rồi tìm hiểu cho ra ngô ra khoai xem chuyện gì đã xảy ra đằng kia – ở khu nô lệ – hậu quả từ cái vụ lỡ lầm không thể dung thứ đó của tôi.

Đó là một đêm dài đằng đẵng, nhưng cuối cùng buổi sáng cũng tới. Tôi trình bày rõ ràng và thành khẩn trước quan tòa. Tôi khai mình là nô lệ, là tài sản của vị bá tước đại nhân Grip, người vừa đến quán trọ Tabard ở ngôi làng bên kia sông vào lúc trời tối mịt, và phải dừng chân qua đêm do đột ngột lâm bệnh nặng với những triệu chứng kỳ lạ. Tôi được lệnh vượt sông vào thành cấp tốc để mời vị danh y giỏi nhất; tôi đang làm hết sức mình; dĩ nhiên là tôi phải chạy hết tốc lực; trời thì tối đen, tôi va phải gã dân thường này đây, và hắn liền chộp cổ họng tôi rồi đấm đá tơi bời, mặc cho tôi đã giải thích rõ cơ sự và van xin hắn vì tính mạng ngàn cân treo sợi tóc của đại nhân chủ nhân tôi—

Gã dân thường liền xen vào, lớn tiếng bảo đó là lời nói dối; và định kể lể rằng tôi đã lao vào hắn, tấn công hắn vô cớ ra sao—

“Im mồm, đồ tiểu nhân!” Quan tòa quát. “Dẫn hắn đi và quất cho hắn vài roi để lần sau hắn biết cách đối xử với gia nhân của một bậc quý tộc cho phải phép. Đi đi!”

Đoạn, quan tòa hướng sang tôi bày tỏ sự cáo lỗi, và hy vọng tôi sẽ không quên tâu lại với ngài bá tước rằng sự việc ngang ngược vừa rồi hoàn toàn không phải lỗi của tòa. Tôi đáp rằng tôi sẽ dàn xếp ổn thỏa mọi chuyện, rồi xin phép cáo lui. Cũng may mà chuồn kịp; bởi ngài quan tòa lại chuẩn bị cất lời hỏi tại sao tôi không khai ra những chi tiết ấy ngay từ khoảnh khắc bị bắt. Tôi đáp rằng nếu tôi nghĩ ra thì tôi đã khai rồi – điều đó hoàn toàn là sự thật – nhưng ngài thấy đấy, tôi bị gã kia đánh cho nhừ tử đến mức hồn vía lên mây mất cả rồi – vân vân và vân vân, thế là tôi cứ lầm bầm rồi chuồn thẳng.

Tôi chẳng thèm đợi bữa sáng. Chân không chạm đất, tôi mau chóng có mặt ở khu nô lệ. Trống hoác – chẳng còn một móng! Ý tôi là, chẳng còn ai ngoài một cái xác – xác của lão chủ nô. Nó nằm đó, dập nát bươm như một nhúm bột; và xung quanh là những dấu tích của một trận chiến vô cùng khốc liệt. Ngay trước cửa, người ta đặt một cỗ quan tài bằng ván thô kệch trên một chiếc xe đẩy, và mấy người thợ cùng cảnh sát đang cố dẹp đường giữa đám đông đang há hốc mồm đứng xem để đưa nó vào trong.

Tôi chọn một gã có vẻ thấp cổ bé họng, hẳn sẽ sẵn lòng hạ cố trò chuyện với một kẻ ruồi bu rách rưới như tôi, và gặng hỏi gớm gớm đầu đuôi sự việc.

“Nơi này vốn có mười sáu mạng nô lệ. Đêm qua chúng nổi loạn chống lại chủ nhân, và ngươi thấy đấy, kết cục là thế này đây.”

“Ừ. Mọi chuyện bắt đầu thế nào vậy?”

“Chẳng có nhân chứng nào ngoài lũ nô lệ cả. Chúng khai rằng tên nô lệ có giá trị nhất đã tự cởi bỏ xiềng xích và tẩu thoát bằng một cách kỳ lạ nào đó – người ta bảo là do tà thuật, bởi hắn vốn không có chìa khóa, mà ổ khóa thì chẳng hề suy suyển hay bị phá hỏng chút nào. Khi phát hiện ra mất người, lão chủ điên cuồng vì tuyệt vọng, liền cầm gậy lớn lao vào đàn nô lệ của mình; bọn họ chống trả, đánh gãy xương sống lão và giáng cho lão đủ thứ đòn chí mạng khiến lão chết tươi tại chỗ.”

“Thật là khủng khiếp. Chắc chắn lũ nô lệ sẽ gặp hiểm họa lớn trong phiên tòa sắp tới.”

“Ấy chà, phiên tòa xong xuôi rồi còn gì.”

“Xong rồi ư?”

“Bộ ngươi nghĩ họ sẽ kéo dài tới cả tuần sao – trong khi sự việc rành rành ra đấy? Họ chỉ mất chưa đầy một phần tư giờ cho vụ này.”

“Ồ, ta không hiểu làm thế nào họ có thể phán quyết kẻ nào có tội trong một khoảng thời gian ngắn ngủn như vậy.”

“Kẻ nào á? Quả thực, họ chẳng thèm bận tâm đến mấy chi tiết lặt vặt như thế. Họ kết án cả bọn. Ngươi không biết luật lệ hay sao? – luật mà người ta nói do đám người La Mã để lại nơi này từ thuở họ rời đi – rằng hễ một tên nô lệ sát hại chủ nhân thì toàn bộ nô lệ của kẻ đó đều phải chịu chung cái chết.”

“Phải. Ta quên mất. Thế khi nào thì những kẻ này phải chịu hình phạt?”

“Chắc là trong vòng hai mươi bốn giờ tới; dẫu vài kẻ đồn rằng họ sẽ hoãn lại thêm dăm ba ngày nữa, nhỡ đâu trong lúc đó họ tìm được kẻ trốn trại.”

Tên trốn trại! Nghe xong tôi thấy lạnh cả sống lưng.

“Liệu họ có tìm ra hắn không?”

“Trước khi ngày tàn – có chứ. Họ lùng sục hắn khắp nơi. Họ canh gác ở các cổng thành, mang theo vài tên nô lệ có thể nhận diện và chỉ mặt điểm tên hắn nếu hắn xuất hiện, và đố ai bước ra khỏi thành mà không bị kiểm tra trước tiên.”

“Liệu có thể tới thăm nơi giam giữ những kẻ còn lại không?”

“Bên ngoài thì được – vâng. Còn bên trong – nhưng chắc ngươi chẳng muốn nhìn thấy đâu.”

Tôi ghi lại địa chỉ nhà ngục đó để phòng hờ rồi thong thả bước đi. Tại tiệm bán đồ cũ đầu tiên bắt gặp trên một con hẻm nhỏ phía sau, tôi mua một bộ đồ thô ráp thích hợp cho một gã thủy thủ bình thường sắp phải thực hiện một chuyến hải trình lạnh lẽo, rồi dùng một miếng băng quấn thật dày quanh mặt, miệng kêu ca là bị nhức răng. Cách này che giấu được những vết bầm tím thảm hại nhất trên mặt tôi. Quả là một màn lột xác. Trông tôi chẳng còn chút nào giống với bản thân mình trước đây nữa. Bấy giờ, tôi hướng thẳng đến đường dây điện báo, tìm ra nó và lần theo cho đến tận sào huyệt. Đó là một căn phòng nhỏ nằm trên một cửa hàng thịt – điều đó có nghĩa là công việc làm ăn bên mảng điện báo chẳng mấy khấm khrả gì cho cam. Cậu thanh niên gác máy đang gật gà gật gù bên chiếc bàn làm việc. Tôi khóa trái cửa lại và nhét chiếc chìa khóa to tướng vào ngực áo. Hành động này khiến cậu ta hoảng hốt và định la lên, nhưng tôi liền chặn họng:

“Đỡ tốn hơi đi; há miệng ra là mày mất mạng như chơi đấy. Vào việc ngay lập tức! Gọi Camelot đi.”

“Thật kinh ngạc! Làm sao một kẻ như ngươi lại biết tới những chuyện thế này—”

“Gọi Camelot! Ta đang ở đường cùng rồi. Gọi Camelot ngay, hoặc tránh xa cái máy ra để ta tự làm.”

“Hả – ngươi ư?”

“Đúng thế – mau lên. Đừng lải nhải nữa. Gọi hoàng cung đi.”

Cậu ta đành phải làm theo.

“Được rồi, giờ thì gọi Clarence.”

“Clarence nào?”

“Khỏi cần biết Clarence nào. Cứ bảo là mày muốn tìm Clarence; thế nào cũng có kẻ trả lời.”

Cậu ta làm theo lời tôi. Chúng tôi chờ đợi trong hồi hộp suốt năm phút, rồi mười phút – sao mà dài đằng đẵng thế không biết! – và cuối cùng tiếng lách cách quen thuộc như giọng nói của con người vang lên; bởi Clarence vốn là học trò ruột của tôi.

“Này cậu nhóc, nhường chỗ nào! Có thể bọn họ sẽ nhận ra cách đánh máy của ta, nên cậu gọi là chắc ăn nhất; nhưng giờ thì ta ổn rồi.”

Cậu ta đứng dậy, vểnh tai nghe ngóng – nhưng chẳng thu được gì. Tôi dùng mật mã. Tôi không lãng phí dù chỉ một giây để trò chuyện xã giao với Clarence, mà đi thẳng vào vấn đề chính ngay lập tức – thế này:

“Nhà vua đang ở đây và gặp nguy hiểm. Chúng ta bị bắt và đưa tới đây dưới thân phận nô lệ. Chúng ta không thể chứng minh được thân phận của mình – và thực ra, ta cũng chẳng ở vào thế có thể làm điều đó. Hãy gửi một bức điện về hoàng cung ở đây để xác thực thân phận của ta.”

Cậu ta đáp lại ngay lập tức:

“Họ chẳng biết gì về điện báo cả; họ chưa có kinh nghiệm nào, đường dây tới London còn mới quá. Tốt hơn là đừng liều lĩnh. Họ có thể treo cổ anh đấy. Nghĩ cách khác đi.”

Có thể treo cổ chúng tôi ư! Cậu ta chẳng hề hay biết viễn cảnh đó sát thực tế đến nhường nào. Nhất thời tôi chẳng nghĩ ra được kế sách gì. Rồi một ý chợt lóe lên trong đầu, và tôi liền truyền lệnh đi:

“Hãy cử năm trăm kỵ sĩ ưu tú do Launcelot dẫn đầu; và bắt họ xuất phát ngay lập tức. Bảo họ tiến vào từ cổng phía tây nam, và chú ý tìm người có quấn khăn trắng quanh bắp tay phải.”

Câu trả lời tới rất nhanh:

“Họ sẽ xuất phát trong nửa tiếng nữa.”

“Được rồi, Clarence; giờ hãy bảo với cậu nhóc ở đây rằng ta là bạn cậu và là người nhà; rằng cậu ta phải kín miệng và không được hé nửa lời về chuyến viếng thăm này của ta.”

Thiết bị bắt đầu truyền đạt lại với cậu thanh niên nọ, còn tôi thì vội vã rời đi. Tôi bắt đầu nhẩm tính thời gian. Nửa tiếng nữa là đúng chín giờ. Kỵ sĩ và ngựa mặc giáp nặng chắc chắn không thể di chuyển quá nhanh. Họ sẽ cố gắng di chuyển với tốc độ tối đa, và giờ này đường sá đang khô ráo, không có tuyết hay bùn lầy, có lẽ họ sẽ duy trì được tốc độ bảy dặm một giờ; họ sẽ phải đổi ngựa đôi ba lần; họ sẽ đến nơi vào khoảng sáu giờ, hoặc muộn hơn một chút; lúc đó trời vẫn còn khá sáng; họ sẽ nhìn thấy dải vải trắng mà tôi đã buộc quanh bắp tay phải, và tôi sẽ lên nắm quyền chỉ huy. Chúng ta sẽ bao vây nhà ngục đó và đưa nhà vua ra ngoài trong chớp mắt. Xét cho cùng, mọi chuyện sẽ vô cùng hoành tráng và đẹp mắt, dẫu tôi vẫn thích làm vào ban ngày hơn vì nó mang lại hiệu ứng sân khấu hoành tráng hơn.

Giờ thì, để tăng thêm phương án cứu vãn tình thế, tôi nghĩ mình nên đi tìm vài người quen cũ để nhờ họ nhận diện giúp. Điều đó sẽ giúp chúng tôi thoát nạn mà không cần đến sự can thiệp của đám kỵ sĩ. Nhưng tôi phải tiến hành thật cẩn trọng, bởi đây là một việc vô cùng mạo hiểm. Tôi phải khoác lên mình những bộ cánh sang trọng, và không thể cứ thế lao vào mặc ngay được. Không, tôi phải tiến hành từng bước một, mua hết bộ quần áo này đến bộ quần áo khác ở những cửa hàng cách xa nhau, mỗi lần thay đổi lại chọn những trang phục tinh xảo hơn một chút, cho đến khi cuối cùng chạm tay được vào lụa là nhung lụa và sẵn sàng cho kế hoạch của mình. Thế là tôi lên đường.

Nhưng kế hoạch phá sản nhanh chóng như chớp giật! Vừa rẽ qua góc phố đầu tiên, tôi đụng mặt ngay một tên nô lệ của chúng tôi đang lảng vảng cùng một tên lính canh. Lúc ấy tôi vô tình ho lên một tiếng, và hắn liền ném cho tôi một ánh sắc lẹm thấu tận xương tủy. Tôi đoán chắc hắn thấy tiếng ho đó quen quen. Tôi lập tức rẽ vào một cửa hàng, giả vờ đi dọc quầy hàng hỏi giá và liếc mắt quan sát qua kẽ mắt. Hai kẻ đó đã dừng lại, thì thầm to nhỏ với nhau rồi ngó vào trong cửa hàng. Tôi tự nhủ phải tìm lối thoát hiểm ở cửa sau, nếu có lối sau, và liền hỏi người phụ nữ bán hàng rằng tôi có thể ra phía sau để tìm tên nô lệ trốn trại được cho là đang ẩn náu ở đâu đó ngoài đó không, đồng thời bịa chuyện rằng tôi là một mật vụ cải trang, còn cộng sự của tôi đang đứng ở ngoài cửa cùng một tên tội phạm giết người, nhờ bà ấy ra đó nhắn nhủ hắn không cần phải đợi nữa mà hãy nhanh chóng đến tận cùng con hẻm phía sau để chặn đầu khi tôi lùa tên kia ra.

Bà ta hào hứng đến mức sáng cả mắt khi nghe tới việc sắp được tận mắt thấy một trong những kẻ sát nhân đang gây xôn xao kia, và lập tức chạy đi làm nhiệm vụ. Tôi lẩn ra cửa sau, khóa trái cửa lại, nhét chìa khóa vào túi rồi thong thả bước đi, trong lòng cười thầm đắc ý.

Chà, tôi lại vừa tự tay phá hỏng mọi chuyện, lại mắc thêm một sai lầm nữa. Thậm chí là sai lầm kép. Rõ ràng có vô số cách đơn giản và hợp lý để chuồn khỏi tên lính canh đó, thế mà không, tôi cứ thích chọn một cách thật ly kỳ; đó chính là cái tật xấu chết người trong tính cách của tôi. Thêm nữa, tôi lại phỏng đoán hành động của tên lính canh dựa trên phản ứng thông thường của con người; trong khi ngặt một nỗi, đôi khi vào lúc bạn ít ngờ tới nhất, một kẻ nào đó lại cứ thích làm cái điều bất thường nhất. Lẽ ra trong trường hợp này, phản ứng tự nhiên của tên lính canh là bám sát gót tôi; và hắn sẽ chỉ nhìn thấy một cánh cửa gỗ sồi dày cộp được khóa chặt nằm chắn giữa hai chúng tôi; trước khi hắn kịp phá được cửa thì tôi đã đi xa lắm rồi, bận rộn khoác lên mình những lớp cải trang thoắt ẩn thoắt hiện để rồi cuối cùng ẩn mình trong thứ trang phục có thể bảo vệ tôi khỏi lũ chó săn pháp luật ở đất nước Britain này tốt hơn bất kỳ sự ngây thơ hay phẩm giá trong sạch nào. Thế nhưng, thay vì hành động theo lẽ tự nhiên, tên lính canh lại tin sái cổ những gì tôi nói và răm rắp làm theo chỉ dẫn của tôi. Thế nên, khi tôi vừa phớ lớ bước ra từ cái ngõ cụt ấy với sự tự mãn tràn trề về sự thông minh của mình, thì hắn vừa khéo rẽ tới góc đường và thế là tôi tự nguyện bước thẳng vào còng số tám của hắn. Ước gì lúc đó tôi biết đó là một ngõ cụt – dẫu sao thì, chẳng có lời bào chữa nào cho một trò ngớ ngẩn đến thế, cứ coi như vứt đi đi. Coi như khoản lỗ trong kinh doanh vậy.

Dĩ nhiên là tôi tỏ ra vô cùng phẫn nộ, lớn tiếng thề thốt rằng mình vừa mới cập bến sau một chuyến hải trình dài ngày, và đủ thứ chuyện tương tự thế – chỉ để xem liệu có lừa được tên nô lệ đó hay không. Nhưng không thành công. Hắn nhận ra tôi. Thế là tôi trách móc hắn vì đã phản bội mình. Hắn tỏ ra ngạc nhiên hơn là đau đớn. Trợn tròn hai mắt, hắn thốt lên:

“Sao cơ, ngươi tưởng ta sẽ thả cho ngươi – trong số tất cả mọi người – trốn thoát và rồi để tụi ta phải lên đoạn đầu đài một mình, trong khi chính ngươi mới là nguyên nhân khiến chúng ta mang trọng tội này ư? Thôi đi cho mẻ!”

“Thôi đi cho mẻ” là cách bọn họ dùng để nói “Cười chết mất!” hoặc “Nghe hay ho thật đấy!”. Lũ người này nói năng thật quái dị.

Chà, lập luận của hắn nghe ra cũng có chút công lý quái đản nào đó, thế nên tôi đành nín thinh. Khi bạn không thể giải quyết một thảm họa bằng lý lẽ, thì việc đôi co còn có nghĩa lý gì nữa? Đó vốn chẳng phải phong cách của tôi. Thế nên tôi chỉ nhún vai đáp:

“Các ngươi sẽ không bị treo cổ đâu. Chẳng ai trong chúng ta phải chết cả.”

Cả hai gã cùng cười phá lên, và tên nô lệ cất lời:

“Trước nay ngươi đâu có mang tiếng là kẻ ngốc. Tốt hơn là nên giữ lấy chút danh dự ấy đi, dẫu sao thì khoảng thời gian còn lại cũng chẳng còn bao lâu nữa đâu.”

“Ta nghĩ nó vẫn chống cự được thôi. Trước ngày mai, chúng ta sẽ được ra tù, hơn nữa còn được tự do đi đến bất cứ nơi nào mình muốn.”

Tên lính canh láu cá dùng ngón cái gãi gãi tai trái, phát ra một tiếng rít ghê rợn trong cổ họng rồi bảo:

“Ra tù – phải – ngươi nói chí lý. Và cũng tự do đi đến bất cứ nơi nào ngươi muốn, miễn là đừng bước chân ra ngoài vương quốc ngập tràn hơi ấm của ngài Quỷ Vương.”

Tôi cố nén giận, điềm nhiên đáp:

“Giờ thì chắc là các ngươi thực sự nghĩ rằng chúng ta sẽ bị treo cổ trong một hai ngày tới nhỉ.”

“Cách đây mấy phút thì ta chưa nghĩ thế, bởi chuyện đó vốn đã được định đoạt và thông báo rõ ràng rồi.”

“Ồ, thế ra các ngươi đã đổi ý rồi à?”

“Chính xác là thế. Lúc trước ta chỉ nghĩ vậy thôi; còn bây giờ thì ta biết chắc.”

Cảm thấy máu châm biếm nổi lên, tôi liền nói:

“Ồ, vị sứ giả thông thái của công lý ơi, xin hãy hạ cố cho chúng tôi biết những gì anh đã biết đi nào.”

“Đó là tất cả các ngươi sẽ bị treo cổ vào chiều nay! Ổ ho! Nhát dao đó cắm trúng tim đen rồi đấy! Dựa vào ta đi nào.”

Thực lòng mà nói, lúc đó tôi thực sự cần phải dựa vào ai đó. Đám kỵ sĩ của tôi không thể đến kịp giờ. Họ sẽ đến muộn hơn ít nhất là ba tiếng. Trên đời này chẳng gì cứu nổi Quốc vương nước Anh; và cả tôi nữa, điều đó còn quan trọng hơn. Quan trọng hơn, không chỉ đối với riêng tôi, mà đối với cả quốc gia này – quốc gia duy nhất trên trái đất đang sẵn sàng vươn mình bước vào nền văn minh. Tôi thấy lả đi. Tôi không nói thêm lời nào nữa, bởi có gì để mà nói đâu. Tôi thừa hiểu ngụ ý của gã đó; rằng nếu tìm được tên nô lệ trốn trại, lệnh hoãn thi hành án sẽ bị hủy bỏ, và buổi tử hình sẽ diễn ra ngay trong ngày hôm nay. Chà, tên nô lệ trốn trại đã được tìm thấy.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.