
Nếu cứ nghe lời các hiệp sĩ giang hồ thì chẳng phải lâu đài nào cũng là chốn đáng để ghé vào xin tá túc. Mà thực ra, hiệp sĩ giang hồ đâu phải hạng người đáng tin—ấy là nếu đo bằng thước đo chân thật thời hiện đại; chứ còn xét theo chuẩn mực thời của họ rồi quy đổi tương ứng, ta vẫn tóm được sự thật. Đơn giản lắm: cứ bớt đi chín mươi bảy phần trăm lời họ kể, phần còn lại đích thị là sự thật. Sau khi đã trừ hao ngần ấy, một chân lý hiển nhiên hiện ra: tốt nhất là nên dò la chút đỉnh về cái lâu đài trước khi bấm chuông cửa—ý tôi là trước khi gọi lính gác. Thế nên tôi mừng rỡ khi thấy đằng xa một kỵ sĩ đang vòng qua khúc cua dưới chân con đường uốn lượn từ lâu đài đi xuống.
Khi hai bên lại gần nhau, tôi thấy chàng đội mũ giáp cắm lông chim, mình khoác giáp sắt toàn thân, nhưng lại đèo bòng thêm một thứ kỳ quặc—một tấm áo khoác vuông vức, cứng đơ như áo thụng của lính truyền tin. Thế nhưng khi đến gần hơn và đọc dòng chữ trên chiếc áo thụng ấy, tôi chỉ còn biết phì cười trước sự đãng trí của chính mình:
“Xà phòng Persimmon—Đào chính danh ca thảy đều dùng.”
Đó là một sáng kiến nho nhỏ của tôi, nhắm tới vài mục đích lành mạnh nhằm khai hóa và nâng tầm quốc gia này. Trước hết, đó là một đòn ngầm đánh úp vào trò hiệp sĩ giang hồ nhảm nhí, dù ngoài tôi ra chẳng ma nào ngờ tới. Tôi đã phái một số hiệp sĩ lên đường—toàn những tay dũng mãnh nhất tôi tuyển được—mỗi người bị kẹp giữa hai tấm biển quảng cáo mang khẩu hiệu nọ kia. Tôi tính rằng chẳng bao lâu nữa, khi đội ngũ này đông lên, trông họ sẽ lố bịch vô cùng; và rồi ngay cả cái gã ngốc bọc thép nào không đeo biển cũng sẽ tự thấy mình kệch cỡm chỉ vì lỗi mốt.
Thứ hai, những nhà truyền giáo này sẽ dần dà, êm thấm và không gây nghi ngờ hay hoảng sợ, gieo rắc thói quen giữ gìn vệ sinh sơ đẳng vào giới quý tộc; rồi từ đó thói quen ấy sẽ lan xuống tầng lớp bình dân, miễn sao các giáo sĩ cứ chịu ngồi yên. Điều này sẽ làm xói mòn Giáo hội. Ý tôi là, đó sẽ là bước đệm cho việc ấy. Kế tiếp sẽ là giáo dục—rồi đến tự do—và thế là Giáo hội sẽ bắt đầu sụp đổ. Với niềm tin sắt đá rằng bất kỳ một Quốc giáo thế quyền nào cũng là một tội ác thế quyền, một trại giam nô lệ quy mô, tôi chẳng hề đắn đo mà sẵn sàng công kích nó bằng mọi cách hoặc bằng bất cứ vũ khí nào hứa hẹn gây tổn thương cho nó. Kìa, ngay vào thời trước của tôi—vào những thế kỷ xa xôi hãy còn cựa mình trong bụng mẹ thời gian—từng có những ông già người Anh cứ tưởng mình được sinh ra trong một đất nước tự do: một đất nước “tự do” nơi Đạo luật Công ty và Đạo luật Khảo hạch vẫn còn hiệu lực—những thanh gỗ chống tựa vào quyền tự do và lương tri bị chà đạp của con người chỉ để chống đỡ cho một Sự Lạc Thời Thế Quyền.

Các nhà truyền giáo của tôi được dạy cách đánh vần những dòng chữ mạ vàng trên áo thụng—lối mạ vàng phô trương quả là một ý tưởng tuyệt khéo, tôi dám chắc có thể dụ nhà vua đeo biển quảng cáo chỉ nhờ cái vẻ lộng lẫy man dã ấy—họ phải đánh vần các khẩu hiệu này rồi giải thích cho các vương tôn công nương hiểu xà phòng là cái giống gì; nhược bằng quý ông quý bà sợ hãi, cứ bảo họ đem thử lên một con chó. Nước cờ tiếp theo của nhà truyền giáo là tập hợp cả gia đình lại rồi thử lên chính mình; chàng không được từ nan trước bất kỳ thử nghiệm nào, dẫu liều lĩnh đến đâu, cốt sao thuyết phục được đám quý tộc rằng xà phòng vô hại; nếu họ vẫn còn mảy may nghi ngờ, chàng phải tóm lấy một vị ẩn sĩ—trong rừng thì đầy rẫy giống người này; họ tự xưng là thánh nhân, và thiên hạ cũng tin họ là thánh thật. Họ thánh thiện khôn cùng, làm được phép lạ, ai nấy đều nhìn họ với vẻ kính sợ. Nếu một ẩn sĩ mà sống sót qua một lần tắm rửa tễ uế, thế mà vẫn không lay chuyển nổi một vị công tước, thì thôi chịu, cứ mặc xác ông ta.

Mỗi khi các nhà truyền giáo của tôi đả bại một hiệp sĩ giang hồ trên đường, họ liền đè chàng ra tắm rửa sạch sẽ; đợi đối phương bình phục, họ bắt chàng thề phải đi vác lấy một tấm biển quảng cáo, dành trọn phần đời còn lại để truyền bá xà phòng và văn minh. Thành thử lực lượng ngoài thực địa cứ thế tăng dần lên, công cuộc cải cách không ngừng lan rộng. Xưởng xà phòng của tôi sớm cảm nhận được áp lực này. Ban đầu tôi chỉ có hai nhân công; nhưng trước lúc rời nhà, tôi đã thuê tới mười lăm người, xưởng chạy suốt ngày đêm; và cái mùi tỏa ra không khí nồng nặc tới mức nhà vua cứ đi quanh quẩn, thở hắt ra như sắp ngất rồi bảo e là ngài chẳng chịu nổi lâu hơn nữa, còn Ngài Launcelot thì hầu như chẳng làm gì ngoài việc đi đi lại lại trên mái nhà mà chửi thề, dẫu tôi đã bảo trên ấy còn tệ hơn bất cứ chỗ nào khác, nhưng chàng khăng khăng bảo cần hít thở thật nhiều khí trời; chàng luôn mồm cằn nhằn rằng cung điện đâu phải chỗ để đặt xưởng xà phòng, lại còn bảo nếu thằng nào dám mở một cái trong nhà chàng thì có chết chàng cũng bóp cổ nó cho bằng được. Có mặt cả các quý bà quý cô ở đấy, nhưng đám người này xưa nay đâu thèm bận tâm; họ sẵn sàng chửi thề trước mặt con nít nếu hướng gió thổi mùi từ xưởng sang phía họ.
Hiệp sĩ truyền giáo này tên là La Cote Male Taile; chàng cho biết tòa lâu đài kia là nơi ở của Morgan le Fay, em gái Vua Arthur và là vợ của Vua Uriens, người trị vì một vương quốc rộng trạc bằng Đặc khu Columbia—đứng ở giữa đất nước mà ném gạch khéo cũng bay sang tận vương quốc bên cạnh. “Vua” với “Vương quốc” ở đảo Anh nhiều nhung nhúc chẳng khác gì vùng đất Palestine nhỏ bé thời Joshua, khi người ta đi ngủ phải co quắp đầu gối lại vì hễ duỗi chân ra là vượt biên giới cần hộ chiếu.
La Cote ủ rũ thấy rõ, bởi chàng vừa nếm trải thất bại ê chề nhất trong chiến dịch của mình. Chàng chẳng tẩu tán nổi một bánh nào; dù đã giở đủ mọi ngón nghề, thậm chí tắm rửa cho cả một ẩn sĩ; khốn nỗi ông ẩn sĩ lại lăn đùng ra chết. Quả là một vố thất bại thảm hại, bởi sinh vật ấy giờ đây sẽ được tôn làm bậc tử vì đạo, rồi sẽ chiếm một chân trong danh sách các vị thánh của tòa thánh La Mã. Chàng La Cote Male Taile tội nghiệp cứ thế than vãn não nùng, lòng đau như cắt. Thấy vậy, tôi cũng xót xa cho chàng, bèn động lòng tìm lời an ủi, nâng đỡ. Tôi bèn cất lời:
“Xin hiệp sĩ cao quý chớ vội đau buồn, đây nào phải một thất bại. Cả tôi và ngài đều có khối óc; mà với kẻ có đầu óc thì làm gì có thất bại, chỉ toàn những chiến thắng mà thôi. Hãy xem ta biến tai họa nhãn tiền này thành một chiêu quảng cáo ra sao; một quảng cáo cho xà phòng của chúng ta; một chiêu hút khách nhất xưa nay chưa từng có; một quảng cáo sẽ biến thất bại cỡ Núi Washington thành thắng lợi tầm Matterhorn. Ta sẽ đề lên biển quảng cáo của ngài: ‘Được các đấng thánh tuyển tín nhiệm’. Ngài thấy thế nào?”
“Thật tình, sáng kiến này vi diệu khôn xiết!”
“Chà, người ta buộc phải thừa nhận rằng đối với một mẩu quảng cáo ngắn gọn chỉ vỏn vẹn một dòng, nó đúng là đòn chí mạng.”
Thế là nỗi u sầu của chàng bán hàng rong tội nghiệp tan biến sạch. Chàng là một trang nam nhi dũng cảm, từng lập nên biết bao chiến công hiển hách. Danh tiếng lẫy lừng nhất của chàng gắn liền với biến cố trong một chuyến chu du tương tự như chuyến đi này của tôi, dạo ấy chàng đi cùng một trinh nữ tên là Maledisant. Nàng ta miệng lưỡi cũng nhanh nhảu chẳng kém gì Sandy, có điều theo một lối khác: miệng nàng chỉ chực tuôn ra toàn những lời xỉ vả và lăng mạ, trong khi giọng ca của Sandy thì thuộc loại êm dịu hơn. Tôi biết rõ câu chuyện của chàng, thế nên tôi hiểu được ánh mắt ái ngại của chàng khi nói lời từ biệt tôi. Chàng ngỡ tôi đang phải chịu đựng một nỗi khổ ải khôn cùng.

Sandy và tôi vừa đi vừa bàn về câu chuyện của chàng; nàng bảo vận đen của La Cote đã bắt đầu ngay từ ngày đầu tiên của chuyến đi đó; bởi gã hề của nhà vua đã đánh bại chàng ngay hôm mở màn, mà trong những trường hợp như thế thì theo lệ thường, cô gái sẽ đào tẩu sang phe kẻ chiến thắng, nhưng Maledisant lại không làm vậy; nàng cứ nằng nặc bám riết lấy chàng sau mọi thất bại. Tôi hỏi, lỡ kẻ thắng cuộc từ chối nhận chiến lợi phẩm thì sao? Nàng bảo thế thì không xong—hắn buộc phải nhận. Hắn không thể từ chối; làm thế là trái quy củ. Tôi ghi nhận điều này vào đầu. Họa chăng mai này âm nhạc của Sandy có trở nên quá đỗi nặng nề, tôi sẽ cố tình để cho một hiệp sĩ nào đó đánh bại mình, cầu may xem nàng có đào tẩu sang gã đó hay không.
Đúng lúc, lính gác trên tường thành cất tiếng tra hỏi chúng tôi, và sau một hồi thương thuyết, họ mở cửa cho vào. Tôi chẳng có điều gì thú vị để kể về chuyến viếng thăm ấy. Nhưng nó cũng không gây thất vọng, bởi tôi đã biết tiếng bà le Fay từ trước nên chẳng trông mong điều gì tốt đẹp. Cả vương quốc đều khiếp sợ mụ, bởi mụ đã khiến thiên hạ tin mụ là một phù thủy cao cường. Mọi đường đi nước bước của mụ đều tà ác, mọi bản năng đều nhuốm màu ma quỷ. Mụ mang trong mình lòng hiểm độc lạnh lùng ngập đến tận mi mắt. Toàn bộ quá khứ của mụ đen ngòm những tội ác; mà trong số tội ác đó, giết người là chuyện thường ngày. Tôi hết sức tò mò muốn diện kiến mụ; tò mò chẳng kém gì ước muốn được diện kiến Satan. Thật bất ngờ, mụ lại đẹp; những ý nghĩ đen tối không tài nào biến vẻ mặt mụ thành ghê tởm, tuổi tác chẳng thể hằn lên làn da mượt như lụa những nếp nhăn hay làm phai tàn nét tươi nhuận mơn mởn. Trông mụ cứ ngỡ là cháu gái của lão Uriens, hay khéo người ta lại lầm mụ là em gái của chính con trai mụ.
Vừa đặt chân qua cổng thành, chúng tôi đã bị lệnh truyền vào yết kiến. Vua Uriens có mặt ở đó, một ông già mặt mũi hiền từ với dáng vẻ cam chịu; lại có cả người con trai, Ngài Uwaine le Blanchemains, nhân vật mà dĩ nhiên tôi rất để ý bởi truyền thuyết kể rằng chàng từng một mình đọ sức với ba mươi hiệp sĩ, và cũng bởi chuyến đi của chàng cùng Ngài Gawaine và Ngài Marhaus mà Sandy đã kể đến mức làm tôi già đi cả chục tuổi. Nhưng Morgan mới là tâm điểm thu hút, một nhân vật nổi bật nơi đây; mụ là chúa tể đầu sỏ của cái gia môn này, điều đó quá đỗi rõ ràng. Mụ ban cho chúng tôi ngồi, rồi bằng đủ mọi cử chỉ duyên dáng và nhã nhặn, mụ bắt đầu cất tiếng hỏi tôi. Trời đất ơi, tiếng mụ nói chẳng khác nào tiếng chim hót, tiếng sáo thổi, hay một thứ gì đó đại loại thế. Tôi đâm ra tin chắc rằng người phụ nữ này ắt đã bị hàm oan, bị người đời thêu dệt đặt điều. Mụ cứ lảnh lót nói cười, tiếng nói thánh thót vang mãi; chợt một tiểu đồng tuấn tú, xiêm y rực rỡ như cầu vồng, dáng đi uyển chuyển nhẹ nhàng như sóng lượn, bưng một vật phẩm trên chiếc khay vàng tiến lại; khi quỳ xuống dâng lễ, cậu bé vì quá uốn éo làm duyên nên mất thăng bằng, khẽ ngã dựa vào đầu gối mụ. Nhanh như chớp, mụ cắm phập một nhát đoản kiếm vào người cậu bé, với vẻ thản nhiên như thể một người khác vừa phóng lao xiên chết một con chuột!
Tội nghiệp đứa trẻ! Cậu đổ sụp xuống sàn, tứ chi bọc trong lụa là quằn quại trong một cơn co giật dữ dội vì đau đớn, rồi tắt thở. Từ miệng lão vua già bật ra một tiếng “Ôi chao!” xót thương đầy bất giác. Nhưng cái liếc mắt của mụ khiến ông phải ngậm bặt miệng lại ngay tắp lự, không dám kéo dài thêm lấy nửa lời. Ngài Uwaine, nhận được một ám hiệu từ mẹ, liền đi ra tiền sảnh gọi gia nhân vào; trong lúc đó, bà lệnh bà vẫn tiếp tục ríu rít trò chuyện đầy ngọt ngào.
Tôi nhận thấy mụ là một người quản gia cừ khôi, bởi trong lúc trò chuyện, khóe mắt mụ vẫn không ngừng dõi theo đám gia nhân để đoan chắc họ không lúng túng khi xử lý và khiêng cái xác ra ngoài; lúc họ mang khăn sạch đến, mụ bảo mang đổi lấy loại khác; và khi họ lau sàn xong xuôi chuẩn bị lui ra, mụ chỉ tay vào một vệt đỏ thắm chỉ bằng giọt nước mắt mà đôi mắt mờ mịt của họ đã bỏ sót. Tôi hiểu ngay rằng La Cote Male Taile chưa hề được gặp bà chủ của tòa nhà này. Than ôi, nhiều khi những chứng cứ câm lặng tại hiện trường lại lên tiếng to rõ hơn bất kỳ miệng lưỡi nào.
Morgan le Fay vẫn tiếp tục trò chuyện du dương như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Thật là một ả đàn bà kỳ lạ. Và ánh mắt mụ mới ghê gớm làm sao: mỗi khi nó quét qua trách phạt đám gia nhân, họ liền co rúm lại và khiếp đảm như những kẻ yếu bóng vía trước lằn chớp giáng xuống từ đám mây đen. Có khi tôi cũng sắp nhiễm cái thói quen ấy mất thôi. Lão Uriens khốn khổ cũng chung một cảnh ngộ; lão lúc nào cũng ở trong trạng thái âu lo thắc thỏm; mụ chỉ cần quay mặt về phía lão là lão đã giật thót mình.
Giữa cuộc trò chuyện, tôi lỡ buột miệng buông một lời khen ngợi Vua Arthur, nhất thời quên khuấy mất mụ đàn bà này căm ghét người anh trai mình đến nhường nào. Chỉ một lời khen nhỏ nhoi ấy là quá đủ. Mặt mụ sa sầm lại như cơn giông bão; mụ thét gọi lính gác và truyền lệnh:
“Lôi cổ lũ tiện dân này xuống ngục tối cho ta.”
Lời ấy giáng xuống tai tôi lạnh toát, bởi ngục tối của mụ vốn khét tiếng từ lâu. Tôi chẳng nghĩ ra được câu gì để nói—hay việc gì để làm. Nhưng Sandy thì khác. Khi tên lính gác vừa đặt tay lên người tôi, nàng liền the the cất giọng với vẻ tự tin điềm tĩnh tột cùng:
“Khốn kiếp, bộ ngươi muốn rước lấy diệt vong hay sao mà hóa rồ thế hả? Đây là Ngài Sếp đấy!”
Chao ôi, thật là một sáng kiến tuyệt vời!—lại giản đơn biết bao; thế mà tôi chẳng đời nào nghĩ ra được. Tôi vốn sinh ra đã khiêm tốn; không phải toàn thân, mà là từng chỗ một; và chỗ này đúng là một trong những điểm ấy.
Hiệu ứng giáng lên bà lệnh bà hệt như bị điện giật. Nét mặt mụ lập tức rạng rỡ trở lại, nụ cười cùng tất cả những vẻ duyên dáng đầy sức thuyết phục và ngọt ngào đã quay về; dẫu vậy mụ vẫn không tài nào che giấu nổi sự thật rằng mình vừa kinh hồn bạt vía. Mụ cất lời:
“Chà, hãy nghe lời thị nữ của ngài kìa! Lẽ nào một kẻ mang pháp lực như ta lại có thể nói những lời ấy với bậc tôn sư đã từng đả bại Merlin mà không phải là nói đùa sao. Nhờ ma thuật, ta đã tiên liệu trước chuyến đi của ngài, và cũng nhờ ma thuật mà ta nhận ra ngài ngay khi ngài bước chân vào đây. Ta chỉ bày trò đùa nhỏ này với hy vọng khiến ngài bất ngờ mà trổ chút tài nghệ, bởi ta tin chắc ngài sẽ dùng ngọn lửa huyền bí thiêu rụi lũ lính gác, biến chúng thành tro bụi ngay tại chỗ, một phép màu vượt xa khả năng của ta, nhưng là điều mà từ lâu ta vẫn ôm lòng tò mò con trẻ muốn được tận mắt chứng kiến.”
Lũ lính gác thì ít tò mò hơn nhiều, và chúng chuồn thẳng cẳng ngay khi vừa được phép lui ra.
