
Ở Camelot, người ta liên miên tổ chức những hội đấu thương long trọng; đó là những màn đấu bò phiên bản người vô cùng huyên náo, ngoạn mục mà cũng nực cười khôn xiết, dẫu với một khối óc thực tế thì có phần hơi mệt mỏi. Dẫu vậy, tôi thường xuyên có mặt—vì hai lẽ: phàm là người muốn được lòng thiên hạ, nhất là bậc chính khách, thì chớ có đứng ngoài những trò mà bạn hữu cùng bàn dân thiên hạ đang say mê; vả lại, dưới cả góc độ doanh nhân lẫn chính khách, tôi muốn quan sát hội đấu thương xem liệu mình có thể cải tiến nó được đôi phần chăng. Tiện đây cũng xin nói thêm, việc công vụ đầu tiên tôi làm trong nhiệm kỳ của mình—ngay ngày đầu tiên nhậm chức—chính là lập ra một cục văn bằng sáng chế; bởi tôi thừa hiểu một đất nước thiếu đi cục sáng chế và luật bằng sáng chế tử tế thì chẳng khác nào một con cua, muôn đời chỉ có nước bò ngang hoặc thụt lùi.
Mọi việc cứ thế trôi đi, gần như tuần nào cũng có một cuộc tỉ thí; đám anh em thỉnh thoảng lại rủ tôi vào cuộc—ý tôi là ngài Launcelot cùng những người khác—nhưng tôi bảo cứ thong thả đã; chẳng việc gì phải vội, vả lại còn quá nhiều bộ máy triều chính cần tra dầu, chỉnh đốn và vận hành cho trơn tru.

Chúng tôi từng có một kỳ đấu thương kéo dài liên miên từ ngày này qua ngày khác suốt hơn một tuần, tổng cộng có tới năm trăm hiệp sĩ tham gia từ đầu chí cuối. Họ phải mất hàng tuần mới tụ hội đông đủ. Họ cỡi ngựa từ khắp bốn phương kéo về; từ những nơi cùng trời cuối đất của vương quốc, và thậm chí từ tận bên kia bờ biển; lắm kẻ mang theo cả các phu nhân, và ai nấy đều dẫn theo đoàn tùy tùng gồm võ sinh cùng lũ lượt gia nhân. Xét về xiêm y phục sức, đó là một đám đông rực rỡ và lộng lẫy tột cùng, lại mang đậm nét đặc trưng của xứ sở và thời đại bấy giờ: tràn trề sinh lực thú tính, buông những lời tục tĩu đến ngây thơ, và thản nhiên trước luân thường đạo lý một cách vô tư lự. Suốt ngày này qua ngày khác, họ chỉ việc đánh nhau hoặc đứng xem; rồi đêm nào cũng đàn hát, cờ bạc, khiêu vũ và chè chén say sưa tới nửa đêm. Họ hưởng thụ một thú vui quý tộc tột đỉnh. Bạn chưa từng thấy những con người như thế bao giờ đâu. Từng hàng giai nhân tuyệt sắc ngời sáng trong vẻ lộng lẫy man dại, chứng kiến một hiệp sĩ ngã sõng soài khỏi lưng ngựa trên đấu trường với một ngọn thương to bằng cổ chân cắm xuyên qua người, máu phun xối xả, vậy mà chẳng ai ngất xỉu, trái lại họ còn vỗ tay tán thưởng rồi chen lấn nhau để nhìn cho rõ hơn; họa hoằn lắm mới có nàng vùi mặt vào khăn tay, làm bộ đau đớn đứt ruột đứt gan một cách phô trương, và khi ấy bạn có thể cá hai ăn một rằng ắt hẳn có vụ bê bối tình ái nào đó ở đây mà nàng ta sợ thiên hạ chưa kịp nhận ra.
Những tiếng ồn ào về đêm thường sẽ làm tôi bực mình, nhưng trong hoàn cảnh này tôi lại chẳng màng, bởi nhờ nó mà tôi khỏi phải nghe tiếng lũ lang băm cưa chân cắt tay những thương binh tàn phế trong ngày. Chúng đã phá hỏng của tôi một cái cưa xẻ gỗ loại tốt hiếm có, lại còn làm gãy cả giá cưa, nhưng tôi cũng tặc lưỡi bỏ qua. Còn về cây rìu của tôi—chà, tôi tự nhủ lần sau có cho thầy thuốc mượn rìu thì cũng phải chọn đúng thế kỷ mà cho mượn.
Tôi không chỉ theo dõi hội đấu thương từ ngày này qua ngày khác, mà còn điều động một vị giáo sĩ thông minh từ Bộ Phong hóa Công cộng và Nông nghiệp của tôi sang, hạ lệnh cho ông ta tường thuật lại sự kiện; bởi dự định tương lai của tôi là khi đã khai hóa dân trí tới mức độ cần thiết, tôi sẽ cho xuất bản một tờ báo. Ở một xứ sở mới mẻ, điều đầu tiên bạn cần là một cục sáng chế; kế đến là gầy dựng hệ thống trường học; và sau đó, hãy cho ra lò một tờ báo. Tờ báo có thể có những thiếu sót, thậm chí rất nhiều là đằng khác, nhưng chẳng sao cả, đó chính là tiếng gọi hồi sinh từ cõi chết cho một dân tộc đang lụi tàn, điều đó xin chớ bao giờ quên. Thiếu nó, bạn chẳng thể nào vực dậy một quốc gia đã chết; tuyệt đối không còn cách nào khác. Bởi vậy, tôi muốn thử nghiệm trước đôi chút, cốt để thăm dò xem mình có thể gom góp được chất liệu phóng viên kiểu gì từ thế kỷ thứ sáu này khi cần đến.

Phải nói rằng vị giáo sĩ nọ làm việc khá ổn, nếu xét theo hoàn cảnh. Ông ta ghi nhận đủ mọi chi tiết, mà đó lại là phẩm chất đáng quý đối với một bản tin địa phương: số là hồi trẻ ông từng làm chân sổ sách cho ban tang lễ của giáo xứ, mà ở chốn đó, như bạn biết đấy, tiền bạc đều nằm cả trong các chi tiết; càng nhiều chi tiết thì bổng lộc càng lắm: người khiêng linh cữu, kẻ hộ tang nín lặng, nến thắp, kinh cầu—thứ gì cũng tính thành tiền; nếu gia quyến không mua đủ kinh cầu, người ta sẽ dùng bút chì hai đầu mà kê khống giá nến lên, thế là hóa đơn khắc khớp ngay. Ông ta cũng rất có tài chêm vào vài lời tâng bốc đây đó về một vị hiệp sĩ có tiềm năng mua quảng cáo—ấy chết, ý tôi là một hiệp sĩ có thế lực; ông ta còn có hoa tay phóng đại rất cừ, bởi thuở trước ông từng làm chân gác cổng cho một ẩn sĩ ngoan đạo sống trong chuồng lợn chuyên làm phép màu.
Dĩ nhiên bản tường thuật của tay lính mới này còn thiếu những pha reo hò, va chạm nảy lửa cùng lối miêu tả giật gân, nên chưa có được cái âm hưởng chân thực hùng tráng; nhưng văn phong cổ kính của nó lại kỳ lạ, ngọt ngào và mộc mạc, đượm nồng hương sắc của thời đại, và những ưu điểm nho nhỏ ấy đã bù đắp phần nào cho những thiếu sót trọng yếu hơn. Dưới đây là một đoạn trích từ bản tường thuật:
Bấy giờ Ngài Brian de les Isles và Grummore Grummorsum, các hiệp sĩ của lâu đài, giao chiến cùng Ngài Aglovale và Ngài Tor, và Ngài Tor đánh ngã Ngài Grummore Grummorsum xuống đất. Kế đó Ngài Carados của tháp sầu bi và Ngài Turquine, các hiệp sĩ của lâu đài tiến ra, đụng độ cùng Ngài Percivale de Galis và Ngài Lamorak de Galis, vốn là hai anh em ruột; Ngài Percivale giao chiến với Ngài Carados, cả hai đều gãy thương tới tận đốc, rồi Ngài Turquine đối đầu Ngài Lamorak, đôi bên cùng đánh ngã nhau, cả người lẫn ngựa đều nhào xuống đất, rồi quân hai phía cứu viện cho nhau và đỡ họ lên ngựa lại. Đoạn Ngài Arnold và Ngài Gauter, các hiệp sĩ của lâu đài, giao chiến cùng Ngài Brandiles và Ngài Kay, bốn hiệp sĩ ấy giáp chiến dũng mãnh, thương đều gãy vụn tới tận đốc. Liền đó Ngài Pertolope từ lâu đài xông ra, đụng độ cùng Ngài Lionel, và Ngài Pertolope tức Hiệp sĩ Lục sắc đã đánh ngã Ngài Lionel, bào đệ của Ngài Launcelot. Mọi sự đều được các sứ giả truyền lệnh cao quý ghi nhận tường tận, ai là kẻ lập công lớn nhất, cùng danh tánh của họ. Bấy giờ Ngài Bleobaris đâm gãy thương vào người Ngài Gareth, nhưng trúng đòn ấy Ngài Bleobaris lại ngã lăn xuống đất. Khi Ngài Galihodin thấy vậy, bèn thét bảo Ngài Gareth hãy phòng thân, song Ngài Gareth đánh ngã chàng xuống đất. Rồi Ngài Galihud cầm thương toan báo thù cho huynh đệ, Ngài Gareth cũng hạ gục chàng y như vậy, rồi đến Ngài Dinadan cùng bào đệ là La Cote Male Taile, lại thêm Ngài Sagramore le Desirous và Ngài Dodinas le Savage; hết thảy những người ấy đều bị ngài dùng một ngọn thương đánh ngã. Khi Vua Anguish xứ Ireland thấy Ngài Gareth tung hoành như thế bèn lấy làm kinh ngạc chẳng rõ ngài là ai, lúc thì hiện ra sắc xanh lục, lúc quay trở lại lại thấy sắc xanh lam. Cứ mỗi hiệp ruổi ngựa qua lại ngài lại đổi màu giáp, khiến cả vua lẫn hiệp sĩ đều chẳng thể nhận ra diện mạo. Bấy giờ Ngài Anguish, Vua xứ Ireland giao chiến cùng Ngài Gareth, và Ngài Gareth đánh bạt ngài khỏi lưng ngựa, văng cả yên cương. Kế đó Vua Carados xứ Scotland tiến lên, Ngài Gareth đánh ngã cả người lẫn ngựa. Ngài cũng trừng trị Vua Uriens xứ Gore theo cách y như vậy. Rồi Ngài Bagdemagus xông vào, Ngài Gareth đánh chàng ngã lăn cả người lẫn ngựa xuống đất. Con trai của Bagdemagus là Meliganus bèn đâm gãy thương vào người Ngài Gareth một cách dũng mãnh đúng bậc hiệp sĩ. Bấy giờ Hoàng tử cao quý Galahault lớn tiếng gọi: Hỡi hiệp sĩ muôn màu, ngươi đã đấu thương cừ lắm; nay hãy chuẩn bị để ta so tài cùng ngươi. Ngài Gareth nghe thấy, bèn vác lấy ngọn thương lớn, đôi bên cùng lao vào nhau; hoàng tử bị gãy thương, còn Ngài Gareth đánh trúng mạn trái mũ giáp của chàng, khiến chàng lảo đảo ngả nghiêng, suýt nữa ngã nhào nếu không có gia nhân kịp thời đỡ lấy. Vua Arthur phán: Quả thật hiệp sĩ muôn màu kia là một dũng sĩ cừ khôi. Bởi thế nhà vua bèn gọi Ngài Launcelot đến, khuyên ngài ra giao đấu cùng hiệp sĩ ấy. Launcelot thưa: Tâu bệ hạ, lòng thần thiết nghĩ lúc này nên nương tay với ngài ấy, bởi hôm nay ngài đã hao tổn nhiều công sức, vả lại khi một hiệp sĩ tài ba đã lập chiến công hiển hách dường ấy trong một ngày, bậc dũng sĩ không nên tước đoạt vinh quang của người ta, nhất là khi thấy người ấy đã nhọc nhằn quá đỗi; bởi biết đâu chừng, Ngài Launcelot nói, cớ sự tranh đấu của chàng là ở chốn này hôm nay, và biết đâu chàng lại là người được vị phu nhân nơi đây yêu thương nhất trần đời, vì thần thấy rõ chàng đã gắng hết sức mình để lập nên đại công; vậy nên, Ngài Launcelot nói, phần thần xin nhường vinh dự ngày hôm nay cho chàng; dẫu thần có đủ sức tước đoạt đi chăng nữa, thần cũng quyết không làm.
Hôm ấy có một sự cố nhỏ chẳng mấy dễ chịu, mà vì lý do thể diện quốc gia nên tôi đã gạch bỏ khỏi bản báo cáo của thầy giáo sĩ. Hẳn bạn đã nhận thấy Garry đã đánh những trận tuyệt hay trong đợt giao tranh đó. Khi nói Garry là tôi ám chỉ Ngài Gareth. Garry là tên thân mật riêng tôi đặt cho ngài; nó cho thấy tôi có một tình cảm yêu mến sâu sắc dành cho ngài, và quả đúng là như vậy. Nhưng đó chỉ là cái tên riêng tư thầm kín, chưa từng được thốt ra trước mặt ai, càng không bao giờ nói trước mặt ngài; bởi là một quý tộc, ngài đời nào chịu để tôi suồng sã đến thế. Thôi, xin tiếp tục câu chuyện: Lúc ấy tôi đang ngồi trong lô ghế danh dự dành riêng cho mình với tư cách là thừa tướng của nhà vua. Trong lúc Ngài Dinadan đang đợi đến lượt vào đấu trường, ngài liền bước vào đó ngồi xuống và bắt đầu trò chuyện; ngài lúc nào cũng tìm cách xun xoe bắt chuyện với tôi, bởi tôi là người xứ khác và ngài thích có một mảnh đất mới để gieo những câu chuyện cười của mình, phần lớn trong số đó đã mòn vẹt đến mức người kể phải tự cười lấy một mình trong khi người nghe thì mặt mày xanh xao ốm nghén. Xưa nay tôi vẫn luôn cố hết sức hưởng ứng những nỗ lực của ngài, lại cũng dành cho ngài một thiện cảm chân thành và sâu sắc, chỉ vì cái lẽ: nếu chẳng may số trời run rủi mà ngài có biết đến cái câu chuyện tiếu lâm duy nhất tôi từng nghe nhiều nhất, ghét cay ghét đắng và kinh tởm nhất trần đời, thì ít ra ngài cũng đã tha cho tôi món đó. Đó là mẩu chuyện mà tôi từng thấy người ta gán cho mọi nhân vật hài hước từng đặt chân lên đất Mỹ, từ Columbus cho đến Artemus Ward. Chuyện kể về một diễn giả hài hước nọ tuôn ra hàng tràng những câu đùa hóm hỉnh nhất quả đất suốt một tiếng đồng hồ cho một đám khán giả dốt nát nghe mà chẳng nhận lại lấy một tiếng cười; thế rồi khi ông ta chuẩn bị ra về, mấy lão già lẩm cẩm mới nắm chặt tay ông ta đầy biết ơn mà bảo rằng đó là chuyện buồn cười nhất trần đời mà họ từng được nghe, và “chúng tôi phải bấm bụng ghê lắm mới khỏi bật cười toe toét ngay giữa buổi họp đấy ạ”. Mẩu chuyện ấy chưa bao giờ đáng giá một xu để đem ra kể lại; vậy mà tôi đã phải ngồi nghe người ta kể nó hàng trăm, hàng ngàn, hàng triệu rồi hàng tỷ lần, vừa nghe vừa khóc thầm và rủa sả suốt buổi. Thế thì ai mà thấu hiểu nổi tâm can tôi, khi phải nghe cái gã mặc giáp sắt dở hơi này bắt đầu nhai lại nó một lần nữa, ngay giữa buổi hoàng hôn mờ mịt của truyền thuyết, trước cả buổi bình minh của lịch sử, cái thuở mà ngay cả cụ Lactantius cũng chỉ đáng gọi là “người mới quá cố”, còn các cuộc Thập tự chinh thì phải năm trăm năm nữa mới ra đời? Ngay khi ngài ta vừa dứt lời thì có người đến gọi vào đấu; thế là vừa cười hô hố như quỷ sứ, ngài ta vừa loảng xoảng bước ra ngoài như một thùng chứa đồ sắt vụn, còn tôi thì ngất lịm đi chẳng biết gì nữa. Phải mất vài phút sau tôi mới hoàn hồn, và khi tôi vừa mở mắt ra thì đúng lúc thấy Ngài Gareth giáng cho ngài ta một cú trời giáng, tôi buột miệng thốt lên lời cầu nguyện trong vô thức: “Lạy trời lạy phật cho hắn chết quách đi!” Nhưng rủi thay, lời còn chưa dứt khỏi miệng thì Ngài Gareth đã tông sầm vào Ngài Sagramor le Desirous, hất văng ngài ta ngã như sấm sét qua mông ngựa, và Ngài Sagramor lại nghe trọn câu nói của tôi rồi cứ đinh ninh rằng tôi đang rủa ngài ta.

