
“Thế là tôi bỗng dưng thành chủ nhân của mấy chàng hiệp sĩ,” tôi vừa giục ngựa bước đi vừa nói. “Ai mà ngờ được có ngày tôi lại đi kiểm kê khối tài sản kiểu này cơ chứ. Tôi cũng chẳng biết phải làm gì với họ, trừ phi đem ra bốc thăm trúng thưởng. Có bao nhiêu người cả thảy thế, Sandy?”
“Bẩm ngài, bảy người ạ, cùng các cận vệ của họ.”
“Một mẻ lưới ra trò đấy. Họ là ai thế? Thường đóng đô ở đâu?”
“‘Đóng đô’ là sao cơ ạ?”
“Thì là họ sống ở đâu ấy?”
“A, thiếp chẳng hiểu ý ngài. Lát nữa thiếp sẽ tỏ bày ngay.” Đoạn nàng lẩm bẩm vẻ trầm ngâm, khẽ uốn ba tấc lưỡi nhấm nháp từng con chữ: “‘Đóng đô’—‘đóng đô’—đóng ở đâu—họ đóng đô ở đâu; chà, chí lý thay; họ đóng đô ở đâu. Quả thực câu từ nghe vừa thanh tao lại vừa duyên dáng, lời lẽ đẹp đẽ biết bao. Những lúc rảnh rỗi thiếp sẽ ngâm đi ngâm lại, may chăng học thuộc được chăng. Họ đóng đô ở đâu. Thật thế! Giờ nó đã trơn tru nơi đầu lưỡi của thiếp rồi, và bởi chưng—”
“Đừng quên đám cao bồi đấy nhé, Sandy.”
“Cao bồi là ai cơ ạ?”
“Thì mấy tay hiệp sĩ ấy mà: Nàng vừa bảo kể cho tôi nghe về họ còn gì. Mới lúc nãy thôi, nhớ không. Nói theo lối ẩn dụ là trận đấu bắt đầu rồi đấy.”
“Trận đấu—”
“Phải, phải, phải! Đến lượt nàng cầm gậy đánh bóng rồi. Ý tôi là, bắt tay vào báo cáo số liệu đi, đừng có đốt cả đống bùi nhùi chỉ để nhen một que diêm nữa. Kể tôi nghe về mấy gã hiệp sĩ ấy xem nào.”
“Thiếp xin vâng lời, và sẽ mở đầu ngay đây. Vậy là hai người bèn khởi hành, ruổi ngựa tiến vào một khu rừng rậm. Và—”
“Chúa tôi ơi!”
Đấy, tôi nhận ra sai lầm của mình ngay lập tức. Tôi đã trót lên dây cót cho cỗ máy của nàng; tại tôi cả thôi; thể nào nàng cũng mất toi ba mươi ngày mới đi vào trọng tâm vấn đề. Mà thói đời nàng mở đầu chẳng bao giờ có nhập đề, kết thúc lại chẳng thấy kết quả đâu. Hễ bị ngắt lời, một là nàng cứ thao thao bất tuyệt coi như không nghe thấy, hai là đáp lại đôi ba câu rồi quay ngoắt về vạch xuất phát đọc lại từ đầu. Thành thử, ngắt lời nàng chỉ tổ rước vạ; thế nhưng tôi vẫn cứ phải ngắt lời, thậm chí ngắt lời liên tục, cốt để giữ lấy mạng mình; chứ ai mà chịu nổi cảnh để cái giọng đều đều buồn ngủ ấy rỉ rả rót vào tai suốt cả ngày trời mà không phát điên cơ chứ.
“Chúa tôi ơi!” Tôi rên rỉ trong tuyệt vọng. Nàng liền quay ngoắt lại từ đầu, bắt đầu y như cũ:
“Vậy là hai người bèn khởi hành, ruổi ngựa tiến vào một khu rừng rậm. Và—”
“Hai người nào cơ?”
“Ngài Gawaine và ngài Uwaine. Rồi họ đến một tu viện và được đón tiếp nồng hậu. Sáng hôm sau, nghe xong thánh lễ trong tu viện, họ lại ruổi ngựa đi tiếp cho đến khi tới một khu rừng rậm; bấy giờ nơi thung lũng bên một ngọn tháp nhỏ, ngài Gawaine trông thấy mười hai trinh nữ tuyệt sắc cùng hai hiệp sĩ mang giáp trụ cưỡi trên lưng những chiến mã lực lưỡng, còn các trinh nữ thì cứ đi đi lại lại quanh một thân cây. Rồi ngài Gawaine nhận thấy có một tấm khiên trắng treo trên cây ấy, và mỗi lần các trinh nữ đi ngang qua đều nhổ nước bọt vào khiên, có nàng lại ném bùn nhơ vào đó—”

“Này Sandy, nếu tôi chưa từng tận mắt chứng kiến những chuyện tương tự ở cái xứ này, có chết tôi cũng chẳng tin đâu. Nhưng tôi thấy rồi, và tôi mường tượng ra ngay cảnh mấy ả kia lượn lờ trước tấm khiên rồi làm mấy trò như thế. Đàn bà con gái xứ này hành xử như ma làm ấy. Ừ, mà tôi nói cả tầng lớp thượng lưu tinh hoa nhất của các người đấy nhé. Đến một cô nhân viên trực tổng đài điện thoại nhỏ bé nhất trên mạng lưới mười ngàn dặm dây thép cũng thừa sức dạy cho vị nữ công tước quyền quý nhất cõi Arthur này một bài học về sự dịu dàng, kiên nhẫn, khiêm nhường và phép lịch sự.”
“Cô nhân viên trực tổng đài là ai cơ ạ?”
“Ừ, nhưng đừng có bảo tôi giải thích; đó là một mẫu phụ nữ thời đại mới; xứ này chưa có đâu; người ta thường gắt gỏng với họ ngay cả khi họ chẳng có lỗi lầm gì, để rồi suốt một nghìn ba trăm năm sau vẫn không nguôi ân hận và xấu hổ vì cái thói cư xử đê tiện, vô cớ ấy; thực tế thì chẳng có người đàn ông lịch thiệp nào làm thế cả—dẫu rằng tôi—thôi thì, nếu phải thú thật—”
“Họa chăng nàng ấy—”
“Thôi đừng bận tâm đến cô ấy nữa; tôi bảo rồi, có giải thích thế nào nàng cũng chẳng hiểu nổi đâu.”
“Vậy thì đành thế, nếu ngài đã muốn vậy. Bấy giờ ngài Gawaine và ngài Uwaine tiến lại chào hỏi họ, đoạn hỏi cớ sao lại sỉ nhục tấm khiên dường ấy. Thưa các ngài, các trinh nữ đáp, chúng thiếp xin tỏ tường. Xứ này có một hiệp sĩ là chủ nhân tấm khiên trắng kia, chàng vốn là trang hảo hán võ nghệ phi phàm, ngặt nỗi lại khinh ghét mọi bậc phu nhân cùng các quý cô, bởi thế chúng thiếp mới trút hết nỗi nhục nhằn lên tấm khiên này. Ta xin bảo cho các nàng hay, ngài Gawaine nói, một hiệp sĩ giỏi giang mà lại khinh khi giới phụ nữ đoan trang thì thật chẳng xứng chút nào, song biết đâu chàng ghét các nàng cũng có nguyên do, và họa chăng nơi nao đó chàng vẫn đem lòng yêu thương các bậc giai nhân và khát khao được đáp lại mối thâm tình, vả chăng một trang dũng liệt như lời các nàng vừa ca tụng—”
“Trang dũng liệt—phải rồi, hạng người ấy mới làm vừa lòng họ, Sandy ạ. Còn kẻ có trí óc ư—đời nào họ thèm đoái hoài tới. Tom Sayers—John Heenan—John L. Sullivan—tiếc thay các ông lại chẳng có mặt ở đây. Chỉ trong vòng hai mươi tư tiếng đồng hồ, các ông ắt đã có chân trong Bàn Tròn và được gắn thêm tước ‘Hiệp sĩ’ trước tên mình; rồi chỉ hai mươi tư tiếng nữa thôi, các ông thừa sức phân chia lại toàn bộ đám công chúa cùng nữ công tước đã có chồng chốn triều đình này. Thực chất cái chốn này chẳng khác nào một phiên bản hào nhoáng của bộ tộc da đỏ Comanche, và chẳng có mụ đàn bà nào ở đây lại không chực chờ ngả vào lòng gã chiến binh sở hữu chuỗi da đầu dài nhất treo bên thắt lưng ngay khi có cơ hội.”
“‘—và vả chăng một trang dũng liệt như lời các nàng vừa ca tụng,’ ngài Gawaine nói tiếp. ‘Vậy danh tính chàng là chi?’ Thưa ngài, họ đáp, chàng tên là Marhaus con trai vua xứ Ireland.”
“Ý nàng là Hoàng tử xứ Ireland chứ gì, nói trẹo quẹo thế ai mà hiểu. Cẩn thận bám chắc vào nhé, chúng ta phải nhảy qua con mương này đấy... Rồi, ổn cả rồi. Con ngựa này sinh nhầm thời thật, lẽ ra nó phải đi diễn xiếc mới đúng.”

“Ta biết rõ chàng, ngài Uwaine bảo, chàng là một hiệp sĩ xuất chúng chẳng kém bất kỳ ai còn tại thế.”
“‘Tại thế’. Này Sandy, nếu trên đời nàng có khuyết điểm nào, thì đó là nàng dùng từ cổ hủ quá mức đấy. Nhưng mà thôi, sao cũng được.”
“‘—bởi ta từng thấy chàng trổ tài tại một hội thương thuật tụ hội vô số hiệp sĩ, và dạo ấy chẳng ai đương cự nổi chàng. Than ôi, ngài Gawaine nói, hỡi các trinh nữ, ta e rằng các nàng đáng trách lắm thay, bởi lẽ kẻ treo tấm khiên kia ắt chẳng đi đâu xa, và chừng ấy các hiệp sĩ kia có thể so tài cùng chàng trên lưng ngựa, như thế mới rạng danh các nàng hơn là làm trò này; chứ ta chẳng thể đứng nhìn tấm khiên của một hiệp sĩ bị xúc phạm thêm nữa.’ Dứt lời, ngài Uwaine và ngài Gawaine bèn lùi lại đôi chút, chợt trông thấy ngài Marhaus đang cưỡi một con chiến mã lực lưỡng phi thẳng về phía họ. Trông thấy ngài Marhaus, mười hai trinh nữ hốt hoảng tháo chạy vào tháp như phát cuồng, đến nỗi có người ngã dúi dụi giữa đường. Bấy giờ một hiệp sĩ trong tháp nâng khiên thủ thế, rồi thét lớn: ‘Ngài Marhaus, hãy đỡ đòn!’ Thế rồi đôi bên cùng lao vào nhau dữ dội đến nỗi ngọn giáo của viên hiệp sĩ gãy tan tành trên người Marhaus, còn ngài Marhaus giáng một đòn sấm sét đến mức bẻ gãy cổ chàng ta và làm gãy cả lưng ngựa—”
“Đấy, cái khổ của cái trò này là thế đấy, làm hỏng mất bao nhiêu là ngựa tốt.”
“Hiệp sĩ thứ hai nơi ngọn tháp thấy vậy liền giương thương nhắm thẳng Marhaus xông tới, đôi bên lao vào nhau ác liệt đến nỗi viên hiệp sĩ của ngọn tháp nhanh chóng bị đánh ngã lăn quay, cả người lẫn ngựa đều chết tốt—”
“Lại toi một con ngựa nữa; tôi nói thật cái hủ tục này đáng bị dẹp bỏ từ lâu rồi. Chẳng hiểu sao những kẻ có lương tri lại có thể vỗ tay tán thưởng và cổ xúy cho nó được.”
“Thế là hai hiệp sĩ lại xông vào nhau một cách mù quáng—”
Tôi nhận ra mình vừa ngủ gật mất một đoạn, nhưng tôi chẳng buồn hé răng. Tôi đoán lúc này hiệp sĩ xứ Ireland đang gặp rắc rối với hai vị khách kia rồi, và quả nhiên đúng như thế thật.
“—đến nỗi ngài Uwaine đâm mạnh vào ngài Marhaus khiến ngọn giáo vỡ vụn trên mặt khiên, còn ngài Marhaus giáng đòn hiểm hóc đến mức hất văng cả người lẫn ngựa đối phương xuống đất, làm ngài Uwaine bị thương bên sườn trái—”
“Nói thật nhé Alisande, mấy cái từ ngữ cổ lỗ sĩ này đơn điệu quá; vốn từ thì nghèo nàn, thành thử phần miêu tả chẳng có chút phong phú nào cả; chúng cứ phẳng lì như sa mạc Sahara chỉ toàn sự kiện trần trụi, thiếu hẳn những chi tiết sống động; điều đó khoác lên câu chuyện một vẻ tẻ ngắt; thực tế thì trận nào cũng y như trận nào: hai kẻ lao vào nhau một cách mù quáng—‘mù quáng’ là một từ hay đấy, cũng như từ ‘chú giải’ vậy, hay như ‘hỏa tai’, ‘thụt két’, ‘quyền hoa lợi’ cùng hàng trăm từ khác, nhưng lạy Chúa! người ta phải biết chọn lọc chứ—họ lao vào nhau một cách mù quáng, rồi ngọn giáo gãy tan, một bên vỡ khiên còn bên kia ngã nhào, cả người lẫn ngựa lộn qua đuôi ngựa gãy cả cổ, rồi ứng viên tiếp theo lại mù quáng lao vào, gãy thương, bên kia lại vỡ khiên, rồi lại ngã lăn quay cả người lẫn ngựa qua đuôi ngựa gãy cả cổ, rồi lại một kẻ khác được chọn, rồi kẻ nữa, kẻ nữa, kẻ nữa mãi cho đến khi hết sạch người; và khi tổng kết lại kết quả, đố ai phân biệt được trận này với trận kia, cũng chẳng biết rốt cuộc ai thắng ai thua; xét về mặt khắc họa một trận chiến sống động, nảy lửa, gầm vang thì ôi thôi, nó nhợt nhạt và câm lặng làm sao—chẳng khác nào mấy bóng ma đang vật lộn trong sương mù. Trời đất ơi, cái vốn từ nghèo nàn này sẽ miêu tả cảnh tượng vĩ đại nhất ra sao đây?—chẳng hạn như vụ cháy thành Rome thời bạo chúa Nero ấy? Chắc nó chỉ buông được một câu: ‘Thành phố cháy rụi; không có bảo hiểm; thằng bé làm vỡ cửa sổ, lính cứu hỏa gãy cổ!’ Thế mà gọi là tranh vẽ cảnh tượng được à!”

Tôi ngỡ mình vừa thuyết giảng một bài ra trò, nhưng Sandy chẳng hề mảy may bận tâm, sợi lông tơ cũng không thèm động đậy; hơi nước trong nồi lại bốc lên ngùn ngụt ngay giây phút tôi vừa nhấc nắp vung ra:
“Bấy giờ ngài Marhaus ghìm ngựa quay lại, giương giáo phi thẳng về phía ngài Gawaine. Thấy vậy, ngài Gawaine liền nâng khiên thủ thế, hạ ngọn giáo chúc xuống, rồi họ dốc toàn lực chiến mã lao vào nhau, đâm sầm vào giữa khiên đối phương mãnh liệt đến mức ngọn giáo của ngài Gawaine gãy lìa—”
“Biết ngay mà.”
“—nhưng ngọn giáo của ngài Marhaus vẫn đứng vững; và thế là ngài Gawaine cùng chiến mã ngã rầm xuống đất—”
“Chuẩn luôn—và gãy lưng ngựa chứ gì.”
“—nhưng ngài Gawaine thoăn thoắt bật dậy, tuốt gươm khỏi vỏ, thủ thế nghênh chiến ngài Marhaus trên bộ, đôi bên hung hãn lao vào nhau, vung gươm chém chan chát khiến khiên vỡ thành từng mảnh vụn, mũ cối cùng áo giáp lưới nát bấy, cả hai đều mang thương tích đầy mình. Nhưng ngài Gawaine, từ sau chín giờ sáng, trong suốt ba canh giờ sau đó sức lực cứ thế tăng dần lên gấp ba lần. Thấy vậy, ngài Marhaus lấy làm kinh ngạc trước sức mạnh phi thường ấy, đôi bên tiếp tục đả thương nhau chí mạng; rồi khi giờ ngọ điểm—”
Cái giọng đều đều như tụng kinh ấy bỗng đưa tôi quay ngược thời gian, trôi về những thanh âm và khung cảnh của thời niên thiếu:
“N-e-e-ew Haven! Mười phút nghỉ ngơi ăn uống—người soát vé sẽ gõ chuông hai phút trước khi tàu chạy—hành khách đi tuyến Bờ Biển xin mời chuyển sang toa sau, toa này không đi tiếp nữa đâu—táooo đâ-â-y, ca-a-am, chuốốối, bánh mì kẹp, bỏng ngô-ô-ô!”
“—và khi bóng chiều ngả về phía hoàng hôn, sức lực ngài Gawaine suy giảm rõ rệt, ngài kiệt sức đến nỗi khó lòng trụ nổi nữa, trong khi ngài Marhaus thì ngày càng dũng mãnh hơn—”
“Thế thì bộ giáp nứt toác ra mất thôi; nhưng mấy kẻ này đời nào thèm bận tâm đến chuyện vặt vãnh ấy.”
“—bấy giờ ngài Marhaus bèn cất lời: ‘Hỡi Hiệp sĩ, ta biết rõ ngài là một hiệp sĩ tài ba xuất chúng, một trang dũng sĩ phi thường bậc nhất ta từng giáp mặt trong lúc ngài còn sung sức, vả lại giữa chúng ta cũng chẳng có thù oán chi sâu nặng, bởi thế nếu đả thương ngài thì thật đáng tiếc, bởi ta thấy ngài đã quá đỗi rã rời.’ Than ôi, ngài Gawaine đáp: ‘Hỡi hiệp sĩ cao quý, ngài đã nói đúng những lời ta muốn giãi bày.’ Dứt lời, họ cùng tháo mũ cối, ôm hôn nhau và thề nguyền trước trời đất sẽ coi nhau như huynh đệ ruột thịt—”
Đến đoạn này thì tôi mất dấu câu chuyện, rồi thiếp đi lúc nào chẳng hay. Trong cơn mơ màng, tôi thầm nghĩ thật uổng phí biết bao khi những kẻ sở hữu sức mạnh phi thường dường ấy—thứ sức mạnh giúp họ khoác lên mình lớp sắt thép nặng trĩu đến tàn nhẫn, mồ hôi đầm đìa, rồi chém giết nện nhau túi bụi suốt sáu tiếng đồng hồ không nghỉ—lại không được sinh ra vào thời buổi mà họ có thể đem sức lực ấy ra cống hiến cho những việc có ích. Lấy con lừa làm ví dụ: một con lừa cũng có thứ sức mạnh như thế, nhưng nó dùng vào việc có ích, và nó có giá trị đối với cõi đời này chính là vì nó là một con lừa; chứ một quý tộc thì chẳng thể nào có giá trị chỉ vì hắn là một con lừa được. Sự kết hợp trớ trêu ấy xưa nay chẳng bao giờ mang lại kết quả tốt đẹp, và đáng lẽ ngay từ đầu không nên thử làm gì. Khổ nỗi, một khi đã gieo mầm sai lầm, rắc rối ắt sẽ nảy sinh và chẳng ai lường trước được hậu quả sẽ đi về đâu.
Khi tôi tỉnh táo trở lại và lắng tai nghe, tôi nhận ra mình lại bỏ lỡ thêm một chương nữa, còn Alisande thì đã đưa các nhân vật của nàng đi xa lắc xa lơ rồi.
“Thế là họ ruổi ngựa đến một thung lũng sâu đầy đá sỏi, tại đó họ trông thấy một dòng suối trong lành; phía trên thượng nguồn là một đài nước tuyệt đẹp, có ba trinh nữ đang ngồi bên bờ. Nơi xứ sở này, ngài Marhaus bảo, từ thuở được rửa tội đến nay chưa từng có hiệp sĩ nào đặt chân tới mà lại không gặp những cuộc phiêu lưu kỳ lạ—”
“Thế này là không đúng điệu rồi, Alisande ạ. Ngài Marhaus con trai vua xứ Ireland mà ăn nói y hệt những người khác; nàng phải cho chàng ta một chút chất giọng địa phương, hoặc chí ít là một câu cửa miệng đặc trưng chứ; có thế người ta mới vừa nghe đã nhận ra ngay mà chẳng cần gọi tên. Đó là thủ pháp văn chương kinh điển của các đại văn hào đấy. Nàng phải để chàng ta nói thế này này: ‘Nơi xứ sở này, mẹ kiếp, từ thuở được rửa tội đến nay chưa từng có hiệp sĩ nào đặt chân tới mà lại không gặp những cuộc phiêu lưu kỳ lạ, mẹ kiếp.’ Nàng thấy nghe xuôi tai hơn hẳn không?”
“‘—chưa từng có hiệp sĩ nào đặt chân tới mà lại không gặp những cuộc phiêu lưu kỳ lạ, mẹ kiếp.’ Quả thực nghe hay hơn hẳn, thưa lãnh chúa tôn kính, dẫu rằng thốt ra những lời ấy thật khó khăn biết bao, song có lẽ dùng riết rồi cũng sẽ quen miệng thôi. Đoạn họ tiến lại phía các trinh nữ và cất lời chào nhau, người lớn tuổi nhất đội một vòng hoa bằng vàng trên đầu, tuổi đã ngoài sáu mươi mùa đông—”
“Trinh nữ mà thế cơ à?”
“Vâng đúng thế, thưa lãnh chúa—và mái tóc nàng đã bạc trắng dưới vòng hoa—”
“Chắc lại đeo hàm răng giả bằng nhựa celluloid giá chín đô một bộ chứ gì—cái loại lỏng lẻo cứ thụt lên thụt xuống như cửa sập mỗi khi nhai, rồi văng cả ra ngoài mỗi bận cười lớn ấy.”
“Trinh nữ thứ hai tuổi độ ba mươi mùa đông, đội một chiếc vòng vàng mảnh trên đầu. Còn trinh nữ thứ ba mới tròn mười lăm tuổi—”
Những con sóng ký ức cuộn trào xâm chiếm tâm hồn tôi, và giọng nói của nàng dần tan biến khỏi tai tôi!
Mười lăm! Trái tim tôi như vỡ vụn! Ôi, người em dấu yêu đã mất của tôi! Đúng bằng tuổi em ngày ấy, một người con gái dịu dàng, đáng yêu xiết bao, là cả thế giới đối với tôi, người mà tôi sẽ chẳng bao giờ còn cơ hội gặp lại nữa! Ý nghĩ về em đưa tôi vượt qua đại dương ký ức mênh mông, trở về một thời xa xăm mờ ảo, một thời hạnh phúc của biết bao nhiêu thế kỷ về sau, cái thời mà mỗi sớm mai mùa hè êm ả, tôi thường bừng tỉnh sau những giấc mơ ngọt ngào về em, rồi cất tiếng gọi: ‘Xin chào, Tổng đài đấy à!’ chỉ để nghe giọng nói thân thương đầy trìu mến của em đáp lại: ‘Chào anh Hank!’—tiếng nói êm ái tựa khúc nhạc thiên đường rót vào đôi tai say đắm của tôi. Lương tuần của em vỏn vẹn ba đô la, nhưng em hoàn toàn xứng đáng với từng xu ấy.
Giờ đây tôi chẳng còn bụng dạ nào mà theo dõi xem rốt cuộc Alisande giải thích mấy gã hiệp sĩ bị chúng tôi bắt sống là ai nữa—ý tôi là ngộ nhỡ nàng có ý định giải thích thật. Hứng thú của tôi đã tan biến sạch trơn, tâm trí tôi trôi dạt về một nơi xa xăm, trĩu nặng u sầu. Qua những mẩu chuyện chắp vá bập bõm trôi qua tai, tôi chỉ láng máng nhận ra ba hiệp sĩ nọ, mỗi người đón một trinh nữ lên ngồi sau yên ngựa, rồi một người ruổi sang hướng bắc, một người về hướng đông, người kia xuôi về phương nam để tìm kiếm những cuộc phiêu lưu, hẹn ước sau một năm lẻ một ngày sẽ gặp lại nhau. Một năm lẻ một ngày—mà chẳng mang theo lấy một chút hành lý. Thật đúng là phong cách giản đơn thái quá của cái xứ này.
Mặt trời lúc này đã bắt đầu lặn. Alisande bắt đầu kể cho tôi nghe về danh tính của đám cao bồi từ khoảng ba giờ chiều; tính ra nàng cũng đã tiến bộ vượt bậc rồi đấy—xét theo tiêu chuẩn của riêng nàng. Thể nào rồi nàng cũng sẽ nói tới đích thôi, nhưng nàng tuyệt đối không phải mẫu người mà ta có thể hối thúc được.

Chúng tôi đang tiến gần đến một tòa lâu đài tọa lạc trên một khu đất cao; đó là một công trình đồ sộ, kiên cố và cổ kính, những tòa tháp xám xịt cùng lỗ châu mai được phủ kín bởi những dải thường xuân duyên dáng, và toàn bộ khối kiến trúc uy nghiêm ấy như đang đắm mình trong ánh hoàng hôn rực rỡ từ vầng thái dương đang khuất dần. Đó là tòa lâu đài nguy nga nhất mà chúng tôi từng thấy kể từ đầu chuyến đi, thế nên tôi đồ rằng có thể đó chính là nơi chúng tôi đang tìm kiếm, nhưng Sandy lắc đầu. Nàng không biết ai là chủ nhân của nó; nàng bảo bận trước xuôi về Camelot, nàng chỉ đi ngang qua chứ không ghé vào.
