
Vừa chớp được cơ hội, tôi liền lẻn sang một bên, vỗ vai một cụ già trông hết sức bình dân rồi cất giọng dò hỏi đầy vẻ kín đáo:
“Này bác, làm ơn làm phước cho tôi hỏi chút. Bác là người của nhà thương điên này, hay cũng chỉ đến thăm nom như tôi vậy?”
Cụ già ngơ ngác nhìn tôi từ đầu đến chân rồi buột miệng:
“Lạy trời, thưa quý nhân, thảo dân trộm nghĩ—”
“Được rồi,” tôi cắt lời; “tôi hiểu rồi, bác là bệnh nhân.”
Tôi lảng ra xa, vừa trầm ngâm suy tính vừa đảo mắt dòm quanh xem có người qua đường nào trông tỉnh táo đặng nhờ vả khai sáng đôi điều. Chẳng mấy chốc, tôi ngỡ đã tìm được đúng đối tượng; thế là tôi kéo người nọ sang một góc rồi ghé tai thì thào:
“Nếu tôi muốn gặp ông quản đốc một phút thôi—chỉ xin đúng một phút—”
“Xin ngài chớ cản trở bần nhân.”
“Cản cái gì cơ?”
“Thì chớ làm vướng chân bần nhân, nếu ngài ưng nghe chữ ấy hơn.” Đoạn gã phân trần rằng mình chỉ là phụ bếp, đang bận tối mắt không rảnh buôn chuyện, dẫu phen khác thì gã rất sẵn lòng; bởi gã đang sướng râm ran trong bụng, tò mò muốn chết xem tôi kiếm đâu ra bộ đồ này. Vừa cất bước đi, gã vừa chỉ tay bảo đằng kia có một kẻ rảnh rỗi thừa sức giúp tôi, mà chắc hẳn kẻ ấy cũng đang dáo dác tìm tôi đấy thôi. Đó là một thiếu niên mảnh khảnh, dáng vẻ phởn phơ, vận chiếc quần bó chẽn màu tôm luộc khiến trông chẳng khác nào củ cà rốt chẻ đôi; phần phục sức còn lại tuyền bằng lụa xanh biếc điểm đăng ten và viền bèo điệu đà; cậu ta để món tóc xoăn vàng óng dài thõng, đầu đội chiếc mũ sa-tanh hồng cài lông vũ vênh vênh bên vành tai ra chiều đắc chí lắm. Nhìn mặt thì thấy dễ tính; nom dáng điệu lại tỏ vẻ rất tự mãn về bản thân. Trông cậu ta bảnh bao đến mức lồng khung kính được. Cậu tiến lại gần, ngắm nghía tôi bằng vẻ tò mò xấc xược nhưng tươi cười; bảo rằng mình đến tìm tôi, rồi tự giới thiệu là một tiểu đồng hầu cận.
“Thôi đi nhóc,” tôi đáp; “cỡ chú mày cùng lắm chỉ đáng làm một mẩu chú thích thôi.”

Câu nói ấy kể cũng hơi cay nghiệt, nhưng tôi đang bực mình. Ngặt nỗi cậu chàng chẳng mảy may bận tâm; dường như còn chẳng nhận ra mình vừa bị xỏ xiên. Dọc đường đi, cậu ta bắt đầu liến thoắng trò chuyện và cười đùa với vẻ hồn nhiên, vô tư lự của con trẻ, thoắt cái đã làm quen như đôi bạn tri giao tự thuở nào; cậu hỏi tôi đủ thứ chuyện về bản thân cùng mớ quần áo kỳ dị, nhưng tuyệt nhiên chẳng đợi trả lời—cứ thế huyên thuyên một mạch, tựa hồ chẳng biết mình vừa hỏi hoặc cũng chẳng màng nghe đáp, cho tới khi cậu tình cờ buột miệng kể rằng mình sinh vào đầu năm 513.
Nghe đến đó, tôi thấy ớn lạnh cả sống lưng! Tôi khựng lại, cất giọng hơi run:
“Có lẽ tai tôi nghe nhầm. Cậu nói lại xem nào—thong thả từng chữ thôi nhé. Năm bao nhiêu cơ?”
“Năm 513.”
“Năm 513 ư! Trông cậu đâu có già đến thế! Này nhóc, tôi là kẻ đất khách quê người lại chẳng quen thân ai; hãy ăn ở thành thật và đàng hoàng với tôi. Đầu óc cậu có bình thường không đấy?”

Cậu ta khẳng định mình hoàn toàn tỉnh táo.
“Thế những người khác ở đây có tỉnh táo cả không?”
Cậu bảo họ cũng vậy.
“Và nơi này không phải nhà thương điên chứ? Ý tôi là, đây không phải nơi chuyên chữa trị cho người mất trí đấy chứ?”
Cậu quả quyết không phải.
“Vậy thì,” tôi nói, “hoặc tôi là kẻ điên, hoặc đã có chuyện gì kinh hoàng khôn xiết vừa giáng xuống đầu tôi. Giờ thì nói thật lòng đi, tôi đang ở cái xó nào thế này?”
“Tại triều đình của vua Arthur.”
Tôi sững người chừng một phút để cái sự thật rợn tóc gáy ấy ngấm dần vào tâm trí, rồi gặng hỏi:
“Thế theo ý cậu, năm nay là năm nào?”
“Năm 528—ngày mười chín tháng Sáu.”
Lòng tôi chùng xuống nặng trĩu thê lương, miệng lẩm bẩm: “Thế là vĩnh viễn chẳng còn ngày gặp lại bạn bè nữa rồi—nghìn thu vĩnh biệt. Phải hơn một nghìn ba trăm năm nữa họ mới cất tiếng chào đời cơ mà.”
Chẳng hiểu vì cớ gì mà tôi lại tin lời thằng bé. Một linh cảm vô hình nào đó trong tôi mách bảo phải tin—có thể gọi đó là trực giác; dẫu lý trí tôi kịch liệt phản đối. Lý trí tôi lập tức gào thét phản kháng; âu cũng là lẽ thường tình. Tôi chẳng biết làm sao để dập tắt nỗi hoài nghi, bởi tôi thừa hiểu lời khai của những kẻ quanh đây chẳng có giá trị gì—lý trí tôi sẽ gạt đi ngay, phán rằng lũ này toàn phường điên loạn. Nhưng rồi thật may mắn làm sao, tôi chợt vớ được một cái phao cứu sinh. Tôi nhớ rất rõ hiện tượng nhật thực toàn phần duy nhất trong nửa đầu thế kỷ thứ sáu xảy ra vào ngày 21 tháng Sáu năm 528 Công nguyên theo lịch cũ, và bắt đầu vào lúc 12 giờ 3 phút trưa. Tôi cũng biết chắc rằng trong năm nay theo thời đại của tôi—tức năm 1879—chẳng hề có vụ nhật thực toàn phần nào cả. Thành thử, nếu tôi có thể ghìm giữ nỗi hoang mang và tò mò không để nó thiêu đốt tâm can trong suốt bốn mươi tám giờ tới, tôi sẽ biết đích xác thằng nhóc này có nói thật hay không.
Thế nên, với bản tính thực tế của một người dân xứ Connecticut, tôi quyết định tống khứ toàn bộ mối bận tâm ấy ra khỏi đầu cho đến ngày giờ định mệnh, cốt để dồn trọn tâm trí vào hoàn cảnh trước mắt, luôn tỉnh táo và sẵn sàng xoay xở hòng trục lợi tối đa từ tình thế hiện tại. Phương châm sống của tôi là: chuyện nào ra chuyện nấy—cứ phải chơi hết mình với quân bài đang có trong tay, dẫu chỉ là đôi hai với một con bồi. Tôi tự vạch sẵn hai hướng đi: nếu đây vẫn là thế kỷ mười chín và tôi bị kẹt giữa một lũ tâm thần mà không sao trốn thoát, tôi sẽ sớm ngoi lên làm trùm cái trại điên này, bằng không thì cứ liệu hồn; còn nếu quả thực đã trôi về thế kỷ thứ sáu, thì âu cũng tốt, tôi chẳng thèm cầu một canh bạc dễ dãi hơn: tôi sẽ thâu tóm toàn bộ giang sơn này trong vòng ba tháng; bởi tôi lượng tính mình đã đi trước kẻ có học thức nhất vương quốc này tới hơn một nghìn ba trăm năm. Tôi vốn không phải hạng người lãng phí thời giờ một khi đã quyết chí và có việc cần làm; bởi vậy tôi quay sang bảo chú tiểu đồng:
“Này Clarence, cậu em—nếu đó đúng là tên chú mày—làm ơn thông não cho tôi đôi chút nhé. Cái bóng ma đã tha tôi về đây tên là gì vậy?”
“Chủ nhân của ta và cũng là của ngươi ư? Đó chính là vị hiệp sĩ đức độ và là bậc lãnh chúa vĩ đại, Quan quản gia Sir Kay, dưỡng huynh của đấng quân vương tôn kính của chúng ta.”
“Tốt lắm; nói tiếp đi, kể tuốt tuột cho tôi nghe.”
Cậu ta dông dài một thôi một hồi; nhưng điều tôi quan tâm sát sườn lúc này là: cậu bảo tôi hiện là tù binh của Sir Kay, và theo đúng thông lệ, tôi sẽ bị tống vào ngục tối, bị bỏ đói với khẩu phần đìu hiu chờ ngày bạn bè đem tiền chuộc tới—trừ phi tôi mục xương rục xác trước lúc ấy. Tôi thừa hiểu vế sau khả dĩ hơn nhiều, nhưng chẳng buồn bận tâm; thời giờ quý báu vô ngần. Chú tiểu đồng kể thêm rằng bữa tiệc nơi đại sảnh lúc này sắp tàn, và ngay khi tiết mục thù tạc cùng những chầu rượu bí tỉ bắt đầu, Sir Kay sẽ điệu tôi ra trưng bày trước mặt vua Arthur cùng các hiệp sĩ lừng danh đang tề tựu quanh Bàn Tròn; ngài sẽ ba hoa về chiến tích bắt sống được tôi, hẳn là sẽ thêm mắm dặm muối đôi phần, nhưng phận tôi chớ dại mà vạch họng ngài, chẳng phải phép tí nào mà khéo còn rước họa vào thân; màn thị chúng kết thúc cũng là lúc tôi khăn gói xuống ngục; dẫu vậy, Clarence hứa sẽ tìm cách lén tới thăm nuôi, chuyện trò khuây khỏa và giúp tôi bắn tin về cho bè bạn.
Bắn tin cho bè bạn cơ đấy! Tôi rối rít cảm ơn; không làm vậy sao cho phải đạo; đúng lúc ấy có tên gia nhân đến báo có lệnh đòi tôi; thế là Clarence dẫn tôi vào sảnh, dắt tôi nép sang một góc rồi ngồi xuống bên cạnh.
Chà, quả là một cảnh tượng kỳ quặc và đầy thú vị. Đó là một gian phòng thênh thang bát ngát, trông khá trơ trọi—phải, và chan chứa những nét tương phản gay gắt. Trần nhà cao chót vót; cao đến nỗi những lá cờ treo lơ lửng trên các xà vòm tít trên kia dập dờn trong một thứ ánh sáng lờ mờ như tranh tối tranh sáng; ở hai đầu sảnh, trên cao có hai dãy hành lang lan can đá, một bên dành cho dàn nhạc công, bên kia quy tụ các bậc phu nhân xúng xính trong những bộ cánh rực rỡ đến lóa mắt. Sàn nhà lát những phiến đá lớn xếp thành các ô vuông đen trắng xen kẽ, nom đã sứt sẹo vì dấu vết thời gian và gót chân người qua lại, đang rất cần được tu bổ. Nói về đồ trang trí thì thực tình chẳng có gì đáng kể; dẫu trên vách có treo vài tấm thảm dệt khổng lồ hẳn được liệt vào hàng kiệt tác nghệ thuật; đó là những bức tranh chiến trận, với những con ngựa mang hình thù như tranh cắt giấy của trẻ con hay nặn bằng bánh gừng; bên trên là những chiến binh mặc giáp vảy cá mà từng chiếc vảy lại được biểu thị bằng những lỗ tròn vo—khiến tấm giáp nom chẳng khác nào miếng bột bánh quy bị đục lỗ. Có một lò sưởi vĩ đại đến mức cắm trại bên trong cũng vừa; phần gờ nhô ra và chụp khói bằng đá chạm trổ có cột chống trông tựa hồ cổng vào một thánh đường. Dọc theo các bức tường, đám quân hầu mang giáp ngực và mũ sắt morion đứng sừng sững, vũ khí duy nhất là những ngọn kích—bất động như tượng; và trông họ hệt như tượng thật.
Ở chính giữa quảng trường công cộng có trần vòm giao nhau này kê một chiếc bàn bằng gỗ sồi mà người ta gọi là Bàn Tròn. Nó to ngang ngửa một sàn đấu xiếc; vây quanh bàn là một đám đông khoác trên mình những trang phục muôn màu lộng lẫy đến cay cả mắt. Họ cứ đội nguyên những chiếc mũ gắn lông vũ lộng lẫy ấy, chỉ trừ lúc ai đó muốn thưa gửi trực tiếp với nhà vua thì mới khẽ nhấc vành mũ lên một chút trước khi mở lời.
Họ chủ yếu là nốc rượu—uống bằng nguyên cả chiếc sừng bò tót; song cũng có dăm kẻ vẫn đang nhồm nhoàm nhai bánh mì hay gặm xương bò. Tính trung bình cứ mỗi người lại có chừng hai con chó chầu chực; lũ chó ngồi im trong tư thế ngóng đợi cho đến khi một khúc xương gặm dở được ném xuống, thế là chúng lập tức xông vào như những lữ đoàn, sư đoàn xung trận, tạo nên một cuộc hỗn chiến biến khung cảnh thành mớ bòng bong nhốn nháo những đầu, mình và đuôi ngoe nguẩy tứ tung, tiếng gầm gừ sủa ẳng ẳng đinh tai nhức óc át cả tiếng chuyện trò; cơ mà chẳng ai bận lòng, vì trò chó cắn nhau bao giờ cũng cuốn hút hơn nhiều; thỉnh thoảng các quý ông lại đứng bật dậy để nhìn cho rõ mà cá cược, các quý bà cùng đám nhạc công cũng nhoài người qua lan can chung niềm phấn khích; chốc chốc cả bọn lại ồ lên những tiếng reo hò khoái trá. Cuối cùng, con chó thắng cuộc nằm ườn ra đầy khoan khoái, kẹp chặt khúc xương giữa hai chân trước, bắt đầu gầm gừ giữ của, ra sức gặm mòn và bôi mỡ bóng nhẫy ra sàn, y hệt như năm mươi con khác đang làm; còn triều đình lại quay về với những thú vui và công việc dang dở ban nãy.
Nhìn chung, lời ăn tiếng nói và cử chỉ của những con người này đều nhã nhặn, đúng mực cung đình; tôi nhận thấy họ là những người biết lắng nghe một cách chăm chú và nghiêm túc mỗi khi có ai kể chuyện—ý tôi là vào những khoảng lặng hiếm hoi giữa các trận chó cắn nhau. Và rõ ràng, họ là một lũ người ngây thơ như con trẻ; thản nhiên thêu dệt những chuyện dối trá hoang đường nhất với vẻ chất phác, đáng yêu đến mê hồn, đồng thời cũng sốt sắng, sẵn lòng lắng nghe lời nói dối của kẻ khác rồi tin sái cổ. Thật khó lòng mà gán cho họ bất cứ nét gì tàn độc hay ghê rợn; vậy mà họ lại hào hứng kể những câu chuyện đẫm máu me và chết chóc với một sự khoái trá hồn nhiên đến mức suýt chút nữa khiến tôi quên cả rùng mình.
Tôi không phải tù nhân duy nhất có mặt tại đó. Còn chừng hai mươi người nữa hoặc hơn. Thật tội nghiệp cho những kẻ khốn khổ, nhiều người bị tàn phế, bị chém đâm, xẻ thịt đến rùng rợn; tóc tai, mặt mũi, quần áo của họ đóng từng mảng máu đen khô cứng ngắc. Dĩ nhiên họ đang phải oằn mình chịu đựng những cơn đau thể xác xé thịt xé da; chưa kể đến nỗi mệt mỏi rã rời, cơn đói khát cồn cào; và ít nhất cũng chẳng ai đoái hoài rửa ráy giùm, hay bố thí cho chút thuốc mỡ xoa dịu vết thương; thế nhưng tuyệt nhiên chẳng nghe thấy một tiếng rên la hay thở dài, cũng chẳng thấy ai cựa quậy bồn chồn hay có biểu hiện oán thán. Một ý nghĩ bất giác choán lấy tâm trí tôi: “Cái lũ khốn này—xưa kia chúng cũng từng đối xử tàn bạo với người khác như thế; giờ đến lượt mình, chúng đâu dám mong manh đòi hỏi sự đối đãi tử tế hơn; thế nên thái độ bình thản kia chẳng phải kết quả của sự rèn luyện tâm tính, dũng khí trí tuệ hay suy xét lý trí gì cho cam; đó thuần túy là thói quen của loài thú hoang dã; chúng đích thị là những tên Da Đỏ da trắng.”
