Cô Nàng Montana

Lượt đọc: 92 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 23
Vĩnh Biệt.

❊ ❊ ❊

“Ôi, ’Tana, thật khủng khiếp—quá ư khủng khiếp!” và tội nghiệp thay bà Huzzard tự ôm lấy thân mình trong cơn thổn thức. “Và nghĩ đến việc cháu chẳng chịu hé răng nửa lời—dù chỉ một lời duy nhất! Cháu làm tim ta tan nát mất thôi.”

“Thôi nào, thôi nào! Cháu sẽ nói rất nhiều điều nếu cô chịu nói chuyện gì khác ngoài mấy vụ giết người. Và cháu sẽ hàn gắn trái tim tan vỡ của cô khi rắc rối này qua đi, cô cứ chờ mà xem!”

“Qua đi ư! Ta sợ rằng nó chỉ mới bắt đầu thôi. Lại thêm cái vẻ điềm tĩnh, dửng dưng của cháu đủ sức làm cho người ta phát điên lên được! Ồ, giá như Dan Overton có ở đây lúc này.”

Cô gái mỉm cười. Cả đêm dài đã trôi qua. Anh ấy đã đi trước ít nhất mười hai tiếng đồng hồ, và những người trong trại vẫn chưa mảy may nghi ngờ anh dù chỉ trong khoảnh khắc. Họ đã thẩm vấn Harris, và ông ra hiệu cho họ rằng không có ai đi qua lều của mình, không có bóng người nào lui tới kể từ khi trời tối; nhưng ông có nghe thấy tiếng động ở căn phòng bên. Con dao thì ông đã thấy ’Tana mang vào phòng trong từ rất lâu trước khi trời tối.

“Và biết đâu có ai đó cãi cọ với tay Holly này—hoặc bám theo hắn—rồi vô tình vớ lấy nó và dùng đến nó,” Lyster biện bạch; anh vừa tức giận, hoang mang lại vừa bối rối trước ’Tana, chẳng kém gì việc phát hiện ra cỗ xác. Mọi câu trả lời của cô trước mọi câu hỏi đều ngoan cố tự đẩy bản thân vào thế bất lợi.

“Đừng lo lắng—họ sẽ chẳng treo cổ cháu đâu,” cô trấn an anh. “Thử nghĩ đến chuyện họ đem treo cổ ai đó vì tội giết Lee Holly mà xem! Kẻ đã làm việc đó—nếu hắn biết rõ mình đang giải quyết ai—thật là ngốc nghếch khi không đường hoàng bước ra trước trại để nhận lấy công trạng. Mọi người đàn ông ở đây sẽ bắt tay chúc mừng hắn. Nhưng chỉ vì ở đây có chút ít bíร ẩn xung quanh vụ việc, họ lại cố xé ra thành trọng tội. Thật vớ vẩn!”

“Ôi, cô bé!” bà Huzzard kêu lên, vô cùng phẫn nộ. “Một vụ mưu sát! Dĩ nhiên đó là một tội ác—tội ác lớn nhất chứ.”

“Cháu không nghĩ vậy. Đưa một linh hồn đến với thế gian rồi lại bỏ mặc nó—để nó trôi dạt vào bất kỳ địa ngục trần gian nào giăng bẫy—còn là tội ác lớn hơn nhiều so với việc tiễn một linh hồn rời khỏi thế gian để đến với thiên đàng, nếu nó xứng đáng. Có những lúc hành vi giết người là có thể chánh đáng, nhưng lại có một số tội ác khác mà chẳng gì có thể biện minh nổi.”

“Sao cơ, ’Tana!” và bà Huzzard nhìn cô với vẻ bất lực. Nhưng cô Slocum lại nhìn cô gái với ánh mắt thấu hiểu hơn.

“Em nói năng rất cay đắng đối với một thiếu nữ; cứ như thể em đã trăn trở rất nhiều về vấn đề này vậy.”

“Cháu có ạ,” cô nhanh chóng thừa nhận; “cô nghĩ đây không phải là một đề tài hay ho gì cho các cô gái nghiên cứu đúng không? Vâng, nó chẳng hay ho gì đâu, nhưng đó là sự thật. Cháu tình cờ là một trong những linh hồn bị kéo lê vào cõi đời này bởi những kẻ vốn chẳng mảy may nghĩ rằng mình có trách nhiệm. Cô Slocum, có lẽ đó là lý do tại sao cháu lại tỏ ra cay độc hơn mức bình thường về đề tài này.”

“Nhưng không—không phải là chống lại cha mẹ mình chứ, ’Tana?” bà Huzzard hoảng hốt hỏi.

Nét mặt cô gái bỗng trở nên cứng đờ và khó coi trước câu hỏi ấy.

“Cháu không biết nhiều về tôn giáo,” một lát sau, cô nói, “và cháu cũng chẳng biết nó có quan trọng lắm không—giờ thì đừng ngất ra đấy nhé, bà Huzzard! nhưng cháu khá chắc chắn rằng những gã đàn ông đã có vợ và gia đình mới chính là những kẻ đặt ra luật lệ về trẻ con trong Kinh Thánh. Họ bảo rằng ‘thương cho roi cho vọt’ rồi lại bảo ‘hãy hiếu kính cha mẹ các ngươi’. Họ dường như mặc nhiên cho rằng mọi người cha người mẹ đều đáng kính—nhưng sự thật không phải vậy; và rằng mọi đứa trẻ đều cần phải bị đánh đòn—nhưng chúng đâu có cần.”

“Ôi, ’Tana!”

“Và cháu nghĩ chính cái điều răn một chiều ấy khiến thiên hạ đinh ninh rằng mọi nghĩa vụ đều phải từ con cái hướng về cha mẹ, thế mà chẳng có nổi một lời nhắc đến nghĩa vụ mà con người ta nợ những linh hồn do chính mình mang đến thế gian này. Cháu thấy điều đó thật bất công.”

“Bất công ư! Trời ơi, ’Tana!”

“Chẳng lẽ không phải vậy sao?” cô ủ rũ hỏi. “Cô nghĩ một cô gái là kẻ hư hỏng nếu không dành sự kính trọng và làm tròn bổn phận với cha mẹ mình, đúng không? Nhưng giả sử họ là kiểu người mà chẳng ai có thể kính nổi—thì sao nào? Cháu thấy nghĩa vụ trước tiên phải là từ phía cha mẹ đối với con cái—nghĩa vụ chăm sóc, yêu thương và dạy dỗ chúng nên người. Một đứa trẻ không thể mang nợ nghĩa vụ khi nó chưa từng nhận được những bổn phận đáng lẽ nó phải được nhận trước tiên. Ồ, có lẽ cháu diễn đạt không được rành mạch như cảm xúc trong lòng.”

“Nhưng em biết đấy, ’Tana,” cô Slocum nói, “nếu không có điều răn nào nói về việc cha mẹ phải chăm sóc con cái, thì đó chỉ vì đó là một điều hiển nhiên trong tự nhiên đến mức chẳng cần phải ra lệnh.”

“Cũng tự nhiên chẳng kém gì việc một đứa trẻ kính trọng bất kỳ ai đáng kính, hay yêu mến người cha người mẹ biết yêu thương và dạy dỗ nó nên người. Hừ! Nếu một đứa trẻ không thể yêu thương và kính trọng cha mẹ mình, thì chính đứa trẻ đó mới là kẻ thiệt thòi nhiều nhất.”

Cô Slocum nhìn cô với vẻ buồn bã.

“Cô không thể mắng em như cách cô vẫn định mắng bao kẻ khác ở hoàn cảnh của em,” cô nói, “vì cô cảm thấy em hẳn đã phải trải qua một con đường dài đầy chông gai và khốn khó, trước khi có thể mang trong mình tâm trạng này. Nhưng, ’Tana, hãy nghĩ đến những điều tươi sáng hơn; các cô gái trẻ không bao giờ nên sa đà vào những câu hỏi hóc búa ấy. Chúng sẽ khiến em u sầu nếu em cứ mãi nghiền ngẫm những chuyện đó.”

“U sầu ư? Cháu nghĩ là không đâu,” cô mỉm cười và nhún vai. “Cháu thấy mình có lẽ là kẻ ít ủ rũ nhất trong trại sáng nay đấy. Tất cả các người đều trông cứ như thể ông Holly là tri kỷ tâm giao của mình vậy.”

Cô nói về vụ án mạng một cách bất chấp—điều mà họ cho là nhẫn tâm—và hai người phụ nữ nghiêng hẳn về ý nghĩ rằng cú sốc của vụ việc đã làm hại đến thần kinh của cô, bởi cô chẳng hề tỏ ra bận tâm chút nào về hoàn cảnh của chính mình, mà lại coi đó như một trò đùa. Và khi nhận ra bản thân đang ở mức độ nào đó bị canh chừng, cô dường như cũng tìm thấy sự thú vị trong chuyện đó. Những lời lẽ của cô, mỗi khi hai người họ hàng tỏ ra xót xa trước gương mặt tuấn tú của Holly, đều phảng phất ý chế giễu.

“Cháu tự hỏi liệu có gã đàn ông nào quá đê tiện và hèn hạ đến mức không thể nhận được sự thương hại từ đàn bà, miễn là hắn có một gương mặt ưa nhìn hay không,” cô cay độc nói. “Nếu hắn là một lão già xấu xí, tầm thường, các cô đã chẳng thèm đưa ra những phỏng đoán mềm lòng nào về việc hắn có thể trở thành người thế nào trong những hoàn cảnh khác nhau. Hắn đã hủy hoại cuộc đời của mấy người phụ nữ đa cảm như các cô—vậy mà các cô lại đi thương xót cho hắn!”

“’Tana, ta chưa từng thấy cháu căm ghét ai đến thế như đối với người đàn ông xấu số đã khuất ấy,” bà Huzzard lên tiếng. “Chẳng trách sao mọi người lại nghĩ cháu biết rõ ngọn nguồn câu chuyện, bởi vì cháu luôn dành những lời giúp đỡ cho cả những gã thang lang tệ hại nhất hay những tên da đỏ ăn mày lang thang bén mảng tới đây; thế nhưng đối với người đàn ông này thì cháu toàn dành những lời cay nghiệt.”

“Vâng,” cô thừa nhận, “và các người thì lại muốn coi hắn như một nạn nhân lãng mạn của ai đó, chỉ vì hắn có bề ngoài ưa nhìn. Cháu đi nói chuyện với Harris đây. Ông ấy chắc chắn sẽ không đồng tình với phe sai trái đâu.”

Ông ngước lên đầy vẻ mong đợi khi cô bước vào, đôi mắt đong đầy những câu hỏi lo âu. Cô ân cần chạm vào tay ông và ngồi sát bên cạnh khi trò chuyện.

“Ông muốn biết tất cả mọi chuyện phải không?” cô dịu dàng hỏi. “Vâng, mọi chuyện đã chấm dứt rồi. Hắn vẫn còn sống, rốt cuộc là vậy đấy, và cháu đã không tin điều đó. Nhưng giờ thì ông không cần phải dò theo dấu vết của hắn nữa, ông có thể nghỉ ngơi được rồi, vì hắn đã chết. Lại có người khác... cũng từng có mối thù với hắn. Họ nghĩ cháu chính là kẻ đó, nhưng ông không tin điều đó chứ?”

Ông kiên quyết lắc đầu.

“Không,” cô nói tiếp; “dù có khoảnh khắc, Joe, cháu đã từng nghĩ rằng người đó có thể là ông. Vâng, cháu đã nghĩ thế; vì cháu thừa biết rằng chỉ có sự yếu đuối mới ngăn cản ông ra tay, nếu ông ở trong tầm với của hắn. Nhưng cháu chợt nhớ ra ngay rằng điều đó không thể xảy ra, bởi vì bàn tay giáng đòn xuống hắn rất mạnh mẽ.”

Ông gật đầu theo cách im lặng quen thuộc của mình, và chăm chú quan sát khuôn mặt cô, như thể muốn đọc lấy những bóng tối suy tư hằn lên qua cảm xúc của cô.

“Thật khủng khiếp phải không?” cô thì thầm. “Đó là điều mà cháu từng nói là mình hằng mong ước, thế mà ngay lúc này đây cháu lại chẳng thể buồn nổi—cháu không thể! Nhưng, sau khi sự náo động này qua đi, cháu biết nó sẽ làm cháu bận lòng, khiến cháu thấy buồn vì bây giờ mình lại không buồn. Cháu chẳng thể khóc nổi, nhưng cháu lại có cảm giác muốn thét lên. Và nhìn kìa! cứ cách một khoảng thời gian là tay cháu lại run lên; toàn thân cháu run lẩy bẩy. Ồ, thật là khủng khiếp!”

Cô vùi khuôn mặt vào hai bàn tay. Chỉ trước mặt ông, cô mới bộc lộ một phần cảm xúc mà cái chết của người đàn ông kia tác động đến mình.

“Và ông không thể nói cho cháu biết vụ việc đã diễn ra thế nào sao?” cuối cùng cô cất lời. “Ông ở gần thế cơ mà—ông có thấy ai không?”

Cô rất khao khát muốn hỏi xem ông có nhìn thấy Overton không, nhưng lại không dám thốt lên cái tên ấy, sợ rằng ông sẽ hoài nghi giống như mình. Quãng thời gian trôi qua từng giờ chính là một khoảng lợi thế thêm cho cô đối với anh. Dĩ nhiên là anh đã ra tay mà không hề biết kẻ đó là ai. Nếu anh biết, thì việc nói rằng “Tôi phát hiện hắn đang đột nhập lều trộm cắp. Tôi đã giết hắn” sẽ vô cùng đơn giản, và sẽ chẳng còn câu hỏi nào được đặt ra thêm về chuyện đó nữa.

“Nhưng nếu tất cả những rào cản khác giữa chúng ta có bị dẹp bỏ đi chăng nữa, thì điều này cũng sẽ ngăn cản tôi không bao giờ bắt tay lại với anh ấy một lần nào nữa. Tại sao lại cứ phải là anh ấy trong số tất cả mọi người ở trại cơ chứ? Ôi, tim tôi đau thắt lại!”

Trong lúc cô ngồi đó với những suy nghĩ đầy đau khổ, có tiếng bước chân đến bên cửa, và khi ngước lên, cô nhìn thấy Akkomi đang đăm đăm nhìn mình bằng đôi mắt sắc bén và đầy vẻ buộc tội.

“Không—đó không phải sự thật đâu, Akkomi,” cô nói bằng thứ ngôn ngữ pha tạp của ông ta. “Hãy giữ im lặng một thời gian ngắn về những điều mà những con người này chưa biết—chỉ một lát thôi, rồi cháu sẽ cho ông biết ai là người mà cháu đang che chở, nhưng chưa phải lúc này.”

“Hắn!” và đôi mắt người da đỏ hướng về phía người đàn ông bị liệt.

“Không—không phải ông ấy; thực sự không phải,” cô nhiệt thành đáp. “Đó là một người mà nếu biết rõ, ông cũng sẽ muốn giúp đỡ—một người đang bước đi rất nhanh trên con đường rời xa những con người này. Họ sẽ sớm nhận ra đó không phải là cháu; nhưng cho đến lúc đó, hãy cứ giữ im lặng.”

“Dan—đâu?” ông cộc lỏn hỏi, và khuôn mặt cô bỗng tái nhợt đi trước câu hỏi ấy.

Liệu ông ta có lý do gì để hoài nghi nỗi sợ hãi đang ẩn giấu trong tâm trí cô không? Nhưng chỉ một thoáng suy nghĩ đã giúp cô trấn tĩnh lại. Ông hỏi đơn giản chỉ vì đối với ông, Overton luôn là nhân vật kiểm soát mọi việc trong trại, và Overton là người ông sẽ trao đổi trước tiên nếu có chuyện gì.

“Overton đã rời đi tối qua để đến vùng hồ,” Lyster giải thích; anh vừa bước vào và nghe thấy tên Dan cùng chất giọng nghi vấn. Ngay sau đó, tấm chăn được mang đến cho Akkomi—tấm chăn của chính ông mà kẻ xấu đã ngã xuống khi quấn trên người.

“Tôi bán nó cho người da trắng—chỉ vậy thôi,” ông đáp qua lời dịch của ’Tana; và ngoài điều đó ra, ông nhất định không chịu nói thêm gì nữa, ngoại trừ việc thông báo rằng mình sẽ đợi Dan. Kỳ thực, đó cũng là mong muốn chung của ủy ban được lập ra để điều tra.

Tất cả bọn họ dường như đều đang chờ đợi Dan. Lyster hoàn toàn không thể lấp đầy vị trí của anh, đơn giản vì sự quan tâm mà Lyster dành cho ’Tana quá lộ liễu, và trong thái độ của anh đối với vụ án kỳ bí này hầu như chẳng có chút lý trí điềm tĩnh nào. Anh không tin chiếc nhẫn cô đang đeo từng thuộc về Holly, mặc dù cô nhất quyết không chịu tiết lộ nguồn gốc chiếc nhẫn đến từ đâu. Anh không tin lời gã đàn ông khai nhận đã nghe thấy cuộc cãi vã nảy lửa tại lều của cô vào buổi tối—ít nhất là khi có mặt những người khác, anh cư xử như thể mình không tin chuyện đó. Nhưng khi chỉ có anh và ’Tana tình cờ ở bên nhau, cô cảm nhận được mối hoài nghi hẳn đang tồn tại trong tâm trí anh, và một niềm tiếc nuối cho anh thoáng qua trong cô. Vì anh, cô cảm thấy áy náy, nhưng chưa đủ áy náy để đánh đổi việc giải mã bí ẩn ấy bằng cái giá của người đàn ông khác mà cô đinh ninh mình đang che chở.

Đại úy Leek đã được phái đi gấp đến công trình vùng hồ, để Seldon, Haydon và Overton hay tin về rắc rối trong trại và mau chóng quay về giải quyết. Việc cho gọi họ là giải pháp duy nhất mà Lyster nghĩ đến, bởi vì bản thân anh cảm thấy bất lực trước đám đông những người đàn ông—họ chẳng hề thô lỗ hay gay gắt gì, nhưng chỉ muốn biết “tại sao”—quá nhiều chữ “tại sao” mà anh chẳng tài nào đáp nổi.

Càng phiền muộn hơn cho anh khi có vài người cứ khăng khăng quả quyết rằng cô đã làm được một việc đáng khen ngợi—rằng cả vùng đất này phải biết ơn cô, bởi vì gã đàn ông đó đã gây ra rắc rối dọc theo dòng Columbia suốt nhiều năm trời. Hắn cùng đồng của mình từng làm những chuyện tồi tệ dọc theo vùng biên giới, v.v. và v.v.

“Anh tiếc vì đã hỏi tôi à, Max?” cô cất lời, khi thấy nét mặt anh trở nên u ám trước những lời ca tụng (?) đó.

Anh không đáp ngay, vì sợ sự thiếu kiên nhẫn của mình đối với cô sẽ bộc lộ qua lời nói.

“Không, anh không tiếc,” cuối cùng anh nói; “nhưng anh sẽ thấy nhẹ nhõm hơn khi những người khác từ vùng hồ trở về. Vì em cứ nhất quyết không chịu tâm sự ngay cả với anh, em đã khiến anh trở nên vô dụng trong việc giúp đỡ em; và—ừm—anh không thể cảm thấy lấy làm hãnh diện khi em chẳng tin tưởng anh hơn những kẻ xa lạ ở đây là mấy.”

“Cháu biết chứ,” cô đồng tình với một tiếng thở dài nhẹ nhàng, “đó là điều khó khăn cho anh, và mọi chuyện sẽ còn khó khăn hơn nữa nếu câu chuyện này vô tình lọt ra khỏi chốn hoang vu này để đến với vùng đất quê hương anh—phải không nào?” và cô nhìn thẳng vào anh rất sắc sảo, nhận ra sắc đỏ bừng lên trên khuôn mặt anh nhanh chóng mặt, tựa như cô đã đọc thấu tâm can anh vậy. “Vâng—thế nên thật may mắn làm sao, Max, vì chúng ta đã không bàn với ai khác về lời hứa có điều kiện nhỏ bé kia, phải không? Nhờ thế mà việc quên đi sẽ dễ dàng hơn, và sẽ chẳng ai phải hay biết chuyện gì.”

“Ý em là em nghĩ anh là loại đàn ông sẽ hủy bỏ đính ước chỉ vì đám ngốc nghếch này lôi em dính líu vào thảm kịch này sao?” anh tức giận hỏi. “Em không có quyền nghĩ về anh như vậy; em cũng chẳng có quyền—vì công bằng cho anh cũng như cho chính em—để duy trì thái độ đầy ám chỉ này đối với mọi thứ liên quan đến vụ án mạng. Tại sao em không thể kể rõ ràng hơn thời gian tối qua em đã ở đâu? Tại sao em không chịu khai ra chiếc nhẫn đó từ đâu tới? Tại sao em cứ muốn nhìn thấy anh gần như phát điên lên vì toàn bộ câu chuyện khốn khổ này, trong khi anh chắc chắn rằng em hoàn toàn có thể dễ dàng thay đổi điều đó?”

“Ôi, Max, em không hề muốn làm anh phiền lòng—thật sự là không! Nhưng—” và cô cười nhạt, một nụ cười không có chút vui vẻ nào. “Em từng bảo với anh một lần rằng em là một kẻ mang ‘vận rủi’. Những ai yêu mến em luôn chắc chắn sẽ vướng phải rắc rối bủa vây lấy họ. Đó là lý do em bảo anh tốt hơn là nên từ bỏ em đi, Max; bởi vì chuyện này mới chỉ là khởi đầu thôi.”

“Đừng nói những điều nhảm nhí ấy nữa; thật là ngớ ngẩn,” anh cộc lởn nói. “‘Vận rủi’! Xàm xí! Khi Overton và những người khác quay về, họ sẽ tìm ra cách thay đổi suy nghĩ của đám người này, bất chấp sự kín miệng của em; và rồi biết đâu lão già Akkomi cũng sẽ chịu mở miệng nói năng. Hắn cứ ngồi lì ngoài cửa, vô cảm hệt như bức tượng đất sét mà em đã tặng và dùng bùa phép trói buộc anh vậy.”

Cô mỉm cười nhạt, nhớ về những ngày tháng đó—trông chúng mới xa xôi làm sao, thế mà tất cả vẫn diễn ra ngay trong mùa hè này.

“Em có cảm giác như mình đã sống qua một khoảng thời gian rất dài kể từ lúc chơi đùa với cục đất sét ấy,” cô đầy vẻ tha thiết nói; “quá nhiều thứ đã đổi thay đối với em rồi.”

Rồi cô đứng dậy, bồn chồn đi lại quanh căn phòng nhỏ, trong khi đôi mắt Harris chưa từng rời khỏi cô. Cô hoàn toàn không bước vào căn phòng bên kia, bởi vì nơi đó đang đặt thi thể của kẻ lạ mặt.

“Anh trông đợi chú mình và anh Haydon bao giờ trở lại?” cuối cùng cô cất tiếng hỏi, bởi sự im lặng là điều khó chịu đựng nhất đối với cô.

Thà rằng cô cười cợt, tranh cãi, hay chế nhạo—làm bất cứ điều gì còn hơn là phải ngồi im lặng với những ánh mắt dò xét dán chặt vào mình. Cô thậm chí còn đâm ra hoang tưởng rằng Harris hẳn phải đang buộc tội mình—ông ta cứ chăm chú theo dõi cô mãi!

“Bọn anh trông đợi họ lúc nào à? Chà, anh không dám tự phỏng đoán nữa. Anh chỉ hy vọng họ đã khởi hành quay về và sẽ gặp viên đại úy dọc đường. Còn về phần Dan—anh ấy đi trước không bao nhiêu, và lẽ ra họ phải bắt kịp anh ấy, bởi vì đi cùng có hai tay chèo thuyền da đỏ—hai kẻ giỏi nhất; và khi họ đua thuyền trên mặt nước vì một mục đích nào đó, chắc chắn họ phải đi nhanh hơn anh ấy. Anh chẳng thấy Dan có lý do gì thật sự cấp bách để phải đi cả.”

“Anh ấy không hay nói về lý do của mình cho lắm,” cô đáp.

“Đúng vậy, đó là sự thật,” anh đồng tình, “và dạo gần đây lại càng ít nói hơn so với hồi anh mới quen. Nhưng có lẽ khi trở về, anh ấy sẽ ép Akkomi phải mở miệng—và anh hy vọng cả em nữa.”

“Khi anh ấy trở về!”

Cô thầm nhủ trong đầu những từ ấy, chứ không thốt thành lời. Cô ngồi ngây ra đó lâu sau khi Max đã rời đi, và tự hỏi bao nhiêu tiếng đồng hồ nữa phải trôi qua người ta mới phát hiện ra rằng Dan đã không hề đi theo những người khác đến công trình ở hồ. Cô chắc chắn rằng anh đang ẩn mình ở đâu đó giữa chốn hoang vu này, tránh xa những con đường mòn quen thuộc, cô độc, và có lẽ đang căm ghét cô vì cho rằng cô chính là nguyên nhân dẫn đến tình cảnh cô lập này, bởi vì cô nhất quyết không chịu khai nhận gã đàn ông kia có quan hệ thế nào với mình, mà cứ để mặc anh mù quáng thực hiện lời đe dọa của mình, để rồi tước đoạt mạng sống của kẻ đó khi hắn bị bắt gặp ở trong phòng cô.

Chà! Tại sao lúc đó cô không tin tưởng giao phó toàn bộ sự thật cho anh cơ chứ? Cô tự hỏi mình câu hỏi ấy khi ngồi đó, nhưng chỉ ý nghĩ về điều đó thôi cũng đủ làm khuôn mặt cô nóng bừng lên và đôi hàm bặm chặt lại đầy vẻ bất tuân.

Cô không muốn—và không thể! Cô tự nhủ lòng mình như thế.

Thà rằng—thà chịu đựng việc bị nghi ngờ là kẻ sát nhân—sống cả quãng đời còn lại dưới cái tiếng ác đó vì anh—còn hơn là phải kể cho anh nghe về một quá khứ đã chết đối với cô lúc này, một quá khứ mà cô căm ghét, và từ đó cô đã quyết tâm tự phong kín bản thân chừng nào sự im lặng còn có thể dựng nên bức tường ấy. Và để thổ lộ với anh—với chính anh—cô tuyệt nhiên không thể làm được.

Nhưng ngay khi cô đang ngồi đó với gương mặt bỏng rát vùi trong hai bàn tay, những bước chân dồn dập, nặng nề tiến đến cửa, khựng lại, và khi ngước lên, cô nhận ra Dan đang đứng trước mặt mình.

“Ôi! Anh không nên đến đây,” cô hối hả thì thầm. “Tại sao anh lại quay về? Họ không hề nghi ngờ gì anh cả; họ tưởng chính tay em đã làm việc đó—và thế là—”

“Tất cả chuyện này có nghĩa là gì?—em đang nói cái gì vậy?” anh hỏi. “Em không thể nói năng cho rõ ràng hơn sao?”

Dường như cô chẳng thể thốt thêm được lời nào nữa, cô cứ trân trân nhìn anh với vẻ bất lực.

“Max, lại đây mau!” anh lớn tiếng gọi, để giục giã những bước chân vốn đang đến gần. “Lại đây, tất cả các người nữa; tôi chỉ có đúng một khoảnh khắc để nghe đại úy kể lại khi ông ấy đuổi kịp tôi. Nhưng ông ấy nói cô ấy đang bị nghi ngờ là phạm tội giết người—rằng chiếc nhẫn cô ấy đeo tối qua đã tiếp tay cho sự nghi ngờ đó. Tôi chẳng đợi nghe thêm gì nữa, bởi vì chính tôi đã tặng con bé chiếc nhẫn hình con rắn đó—tặng nó từ nhiều tuần trước rồi. Tôi mua nó từ một thợ mỏ, và hắn bảo mua lại được từ một người da đỏ gần Karlo. Bây giờ các người đã sẵn sàng để nghi ngờ cả tôi nữa chưa, chỉ vì tôi là kẻ sở hữu nó đầu tiên?”

“Chiếc nhẫn không phải là manh mối gián tiếp quan trọng nhất đâu, thưa anh Overton,” gã đàn ông tên Saunders đáp lời; “và tất cả chúng tôi đều vô cùng mừng rỡ khi anh đã có mặt ở đây. Chính trong phòng cô ấy là nơi xác chết được tìm thấy, và hung khí gây án lại là con dao cô ấy mượn từ anh; thế mà về chuyện cô ấy đã ở đâu vào đúng thời điểm xảy ra vụ việc, cô ấy nhất định chẳng chịu hé răng nửa lời.”

Khuôn mặt anh tái đi đôi chút khi nhìn cô và nghe bản tóm tắt ngắn gọn về vụ án.

“Con dao của tôi ư?” anh ngẩn người hỏi.

“Vâng, thưa anh. Khi có ai đó nói đó là con dao của anh, cô ấy liền lên tiếng xác nhận đúng là thế, nhưng bảo rằng anh đã không còn giữ nó từ giữa trưa, vì lúc đó cô ấy mượn nó để cắt một khúc cây; nhưng ngoài điều đó ra thì cô ấy chẳng khai thêm nửa chữ.”

“Kẻ đó là ai?”

“Tên phản bội—Lee Holly.”

“Lee Holly!” Anh quay phắt sang trừng mắt nhìn Harris với cái nhìn sắc bén, sực nhớ đến sự quan tâm sâu sắc mà ông từng dành cho gã Lee Holly đó và đồng bọn của hắn, “Monte”.

Harris đón nhận ánh mắt ấy mà không hề nao núng, chỉ gật đầu như để xác nhận.

Và đó chính là gã đàn ông được phát hiện đã chết trong phòng cô!

Khuôn mặt của những người xung quanh bỗng chốc trở nên mờ ảo trong tầm nhìn của anh; đoạn anh xốc lại tinh thần và quay sang nhìn cô.

“’Tana, em chưa từng làm chuyện đó,” anh trấn an; “hoặc nếu em có làm đi nữa, thì đó cũng là việc hoàn toàn chính đáng, và anh thừa biết điều đó. Nếu buộc phải hành động để tự vệ, em đừng sợ phải nói rõ mọi chuyện ra. Sẽ chẳng ai trách móc em đâu. Chỉ có màn sương mù bí ẩn này mới khiến họ muốn tìm ra sự thật mà thôi.”

Cô chỉ lẳng lặng nhìn anh. Có phải anh đang đóng kịch không? Phải chăng chính bản thân anh chẳng hề hay biết gì sất? Niềm hy vọng rằng mọi chuyện đúng là như thế—rằng cô đã tự huyễn hoặc bản thân—khiến cô run lẩy bẩy theo cách chưa từng có trước hiểm họa của chính mình. Cô đã đứng phắt dậy khi anh bước bước vào, nhưng rồi lảo đảo như sắp ngã, và anh vội vã đỡ lấy cô, hoàn toàn không biết rằng chính niềm hy vọng chứ không phải sự tuyệt vọng mới là thứ đã cướp đi sắc hồng trên khuôn mặt cô và khiến cô trở nên yếu đuối.

“Can đảm lên, ’Tana! Hãy kể cho chúng tôi nghe những gì em có thể. Anh đã rời khỏi em đúng lúc vầng trăng vừa ló dạng. Anh thấy em đi về phía lều của bà Huzzard. Nào, sau đó em đã đi đâu?”

“Cái gì?” Lyster suýt thét lên. “Anh ở cùng cô ấy khi trăng mọc ư. Anh có chắc không?”

“Chắc chứ? Đương nhiên là tôi chắc rồi. Sao thế?”

“Và trước đó bao lâu, thưa anh Overton?” Saunders hỏi; “bởi vì đó là một điểm cực kỳ quan trọng.”

“Khoảng nửa tiếng, tôi nghĩ thế—có lẽ nhỉnh hơn chút ít,” anh đáp, trân trân nhìn bọn họ. “Nào, điều quan trọng đó chứng minh được cái gì chứ?”

Một trong những người đàn ông hò reo vang dội; ba bốn người khác đã tiến lại gần cửa khi nhìn thấy Overton, và họ hào hứng hưởng ứng tiếng hò hét ấy. Bà Huzzard ba chân bốn cẳng định chạy trốn khỏi lều, nhưng quá hoảng hốt đến mức đành phải đứng chờ cho đến khi cô Slocum đến cứu viện.

“Rốt cuộc tất cả những chuyện này có ý nghĩa gì chứ?” bà thở hổn hển.

Saunders quay người lại với vẻ mặt chân thành phấn chấn.

“Nó có nghĩa là anh Overton đây đã mang tin tức đến để minh oan cho cô Rivers, rằng cô ấy không hề có mặt ở lều khi vụ án mạng xảy ra—ý nghĩa là thế đấy; và tất cả chúng tôi đều quá đỗi mừng rỡ vì chuyện đó nên không thể giữ im lặng được. Nhưng tại sao rốt cuộc cô lại không chịu nói cho chúng tôi biết điều đó cơ chứ, thưa cô?”

Nhưng cô chẳng thốt ra nổi một lời. Xung quanh Dan là vô số tiếng thán phục và những câu nói ngắt quãng, từ đó anh chẳng thể thu thập được bao nhiêu kiến thức thực tế, và anh bực dọc quay sang Lyster:

“Anh không thể nói cho tôi biết sao—hay bất cứ ai trong các anh có thể nói cho tôi biết, rốt cuộc tôi đã giải oan cho cô ấy điều gì vậy? Vụ giết người này được cho là xảy ra vào lúc nào?”

“Vào lúc hoặc ngay trước khi trăng mọc,” Max đáp, gương mặt rạng rỡ trở lại. “’Tana—em không biết anh ấy đã làm gì cho em sao? Anh ấy đã xóa sạch toàn bộ sự nghi ngờ sai lầm khủng khiếp mà em đã để mặc bủa vây lấy mình. Cô ấy đã ở đâu thế, Dan?”

“Tối qua ư? Ồ, ở mạn trên vách đá kia kìa—lên đó lúc bầu trời còn vương những ánh đỏ rực và ở lại tận lúc trăng mọc. Anh tình cờ gặp cô ấy ở trên đó, và khuyên cô ấy không nên lang thang một mình; thế nên khi đã thong thả xong xuôi, cô ấy quay trở xuống và đi về phía cái lều mà mọi người đang tụ tập. Sau đó anh rẽ ra hướng con lạch, quyết định đi một chuyến lên vùng hồ, rồi rời đi mà không gặp lại bất kỳ ai trong số các anh nữa. Và suốt từng ấy thời gian, ’Tana lại bị đặt dưới sự canh chừng. Chắc hẳn có kẻ trong số các anh đã phát điên rồi.”

“Chà, vậy thì tôi đoán mình chính là kẻ tâm thần nặng đô nhất trong cái đám này rồi,” Saunders thú nhận. “Nhưng nói thật nhé, thưa anh Overton, giờ thì tôi thấy có vẻ như chính cô ấy là người đã khích bác sự nghi ngờ—vâng, chính xác là thế đấy. ‘Dao của Overton,’ ai đó đã nói thế; nhưng nhanh như chớp, cô ấy liền lên tiếng bảo rằng chính cô ấy cầm nó, và cô ấy cũng chẳng bận tâm mình đã bỏ quên nó ở đâu. Còn về việc cô ấy ở đâu vào thời điểm đó, chà, cô ấy kiên quyết không chịu thỏa mãn sự tò mò của chúng tôi lấy một chút. Có quỷ mới tin nếu tôi không nghĩ rằng cô ấy muốn chúng tôi phải nghi ngờ chính mình.”

“Ồ!” anh thở ra một tiếng như thể đã vỡ lẽ, và những lời nói đầu tiên của cô lúc nãy bỗng ùa về trong tâm trí anh, câu nói đầy vẻ bấn loạn của cô—“Tại sao anh lại quay về? Họ nghi ngờ em!” Chắc chắn tiếng kêu ấy tựa như một lời khẩn cầu cho sự an toàn của chính anh; nó bộc lộ qua ánh mắt, giọng nói cũng như qua từng câu chữ. Một tia sáng của sự thật cuối cùng đã rọi vào tâm trí anh.

“Nào, ’Tana!” anh cất lời, và chìa bàn tay ra về phía cô. “Kẻ đó—gã Holly—đang ở đâu? Anh muốn vào trong đó. Em có muốn đi cùng không?”

Cô lẳng lặng đứng dậy, và chẳng một ai dám bén mảng bước theo họ.

Bà Huzzard trút ra một tiếng thở dài nhẹ nhõm vô tận.

“Ôi, cái con bé Montana ấy!” bà thốt lên. “Ta tuyên bố là nó chẳng giống bất cứ đứa con gái nào mà ta từng gặp! Sáng nay, khi bị coi là kẻ tình nghi phạm tội, nó nói năng lia lịa, thậm chí còn cười cợt, thế mà bây giờ khi đã được minh oan, nó lại chẳng thèm ngẩng đầu lên nhìn ai lấy một cái. Ta thật tự hỏi liệu cái thứ tính cách kỳ quặc đó có lây lan ở chốn rừng thiêng nước độc này không nữa. Ta thề là mình cảm thấy hoảng sợ đến mức chỉ muốn cuốn xéo cho rồi.”

Nhưng Lyster đã trấn an bà.

“Hãy nhớ lại xem cô ấy đã ốm nặng thế nào; và nghĩ xem toàn bộ vụ việc này đã là một cú sốc lớn ra sao đối với một hệ thần kinh vốn dĩ yếu ớt,” anh nói, bởi vì với những tiết lộ của Dan, anh lại tràn ngập niềm hạnh phúc mãn nguyện một lần nữa, “còn về cái gã nghe thấy những giọng nói trong lều của cô ấy—thật vớ vẩn! Cô ấy đã đọc to một bài thơ hay vở kịch nào đó thôi. Cô ấy vốn thích đọc sách kiểu đó, và làm việc ấy cực kỳ xuất sắc. Gã kia đã nghe thấy cô ấy ngâm nga trong đó để làm nền cho Harris, rồi tự tưởng tượng ra rằng cô ấy đang đe dọa ai đó. Tội nghiệp cô bé! Anh đã quyết định sẽ không để cô ấy ở lại đây thêm ngày nào nữa.”

“Thế cơ à?” bà Huzzard khô khan hỏi. “Chà, anh Max à, chừng nào ta còn biết về con bé, ta luôn nhận thấy ’Tana là người tự đưa ra quyết định cho chính mình—và cũng giữ vững những quyết định đó nữa.”

“Tôi rất vui vì được nhắc nhở về điều đó,” anh đáp trả, “bởi vì hôm qua cô ấy đã hứa sẽ lấy tôi vào một ngày nào đó.”

“Trời phù hộ tôi!”

“Nếu như em ấy không đổi ý,” anh cười lớn nói thêm.

“Lấy anh ư! Chà, chà, chà!” và bà nhìn anh chăm chú đến mức một thoáng bực bội lướt qua khuôn mặt anh.

“Sao lại không chứ?” anh hỏi. “Bộ cô không nghĩ một gã đàn ông bình thường, giản dị lại đủ tư cách sánh vai với đóa hoa rừng của những ngọn đồi Kootenai hay sao?”

“Ôi, anh chẳng có điểm nào là giản dị cả, thưa anh Max Lyster,” bà đáp lại, “và tôi dám cá là khối người phụ nữ thông minh hơn cả ’Tana lẫn tôi đã cho anh biết điều đó rồi! Vấn đề không nằm ở sự giản dị—mà là ở sự khác biệt. Và—chà, chà! anh biết là hai người đã cãi vã suốt từ khi mới gặp nhau cơ mà.”

“Nhưng tất cả chuyện đó đã qua rồi,” anh cam đoan; “và cô không có lời chúc phúc nào dành cho chúng tôi sao?”

“Quả thực là có chứ—nhiều lắm ấy chứ, nhưng anh đã làm tôi ngạc nhiên đấy. Tôi từng nghĩ mọi chuyện sẽ kết thúc theo hướng đó; rồi thì—ừm, sau đó lại có một ý nghĩ khác xuất hiện trong đầu tôi. Giờ mọi chuyện đã định đoạt, tôi thực sự hy vọng hai người sẽ hạnh phúc. Phước cho con bé! Tôi sẽ đến nói với nó điều này ngay lập tức.”

“Không,” anh nhanh chóng ngăn lại, “hãy để cô ấy và Dan có thời gian nói chuyện riêng đi—nếu cô ấy chịu nói chuyện với anh ấy. Cơn sốt đó đã để lại trong cô ấy những biểu hiện kỳ quặc ở một vài phương diện, và một trong số đó là việc cô ấy cứ né tránh Dan. Em ấy không còn cởi mở và thân thiện với anh ấy như trước kia nữa, và điều đó thật tệ; bởi vì anh ấy là một chàng trai quá đỗi tốt bụng, và sẵn sàng làm bất cứ điều gì vì cô ấy.”

“Đúng vậy, anh ấy sẽ làm thế,” bà Huzzard đồng tình.

“Và em ấy sẽ sớm lấy lại bản tính đầy nhiệt huyết của mình trong vài tuần tới—khi rời khỏi nơi này—và khỏe mạnh trở lại. Chẳng mấy chốc em ấy sẽ biết trân trọng Dan hơn, bởi vì hiếm có ai được như anh ấy. Và vì thế—vì em ấy sẽ đi xa sớm thôi, tôi hy vọng điều gì đó sẽ đưa họ trở lại mối quan hệ thân thiết như xưa. Biết đâu vụ án mạng này chính là điều đó.”

“Anh là một người bạn tốt, thưa anh Max,” người phụ nữ chậm rãi nói, “và anh xứng đáng là một kẻ si tình may mắn. Tôi chắc chắn và hy vọng là thế.”

Bên trong căn lều, hai con người mà họ vừa nhắc đến đang đứng cạnh tên ngoài vòng pháp luật đã chết, và những lời họ nói rất khẽ—khẽ đến mức người đàn ông bị liệt ở căn phòng bên dù cố gắng lắng nghe cũng vô ích.

“Và em đã tin điều đó về anh—về chính anh sao?” anh hỏi, và cô ngập ngừng đáp lại:

“Làm sao em biết được chứ? Anh đã nói—anh từng đe dọa—rằng anh sẽ giết hắn—bất cứ gã nào anh bắt gặp ở đây. Thế nên, khi hắn nằm đây và đã chết, em... em nào hay biết gì.”

“Và em nghĩ chính anh đã đâm con dao đó vào người hắn rồi bỏ đi?”

Cô gật đầu.

“Và em nghĩ,” anh tiếp lời, với giọng nói run rẩy đôi chút, “rằng em đang cho anh một cơ hội để trốn chạy chừng nào em còn để mặc họ nghi ngờ... chính em sao?”

Cô không đáp, mà quay mặt về phía cửa. Anh vươn tay ra chặn lối đi của cô.

“Chỉ một lát thôi!” anh van nài. “Sẽ không bao giờ có chuyện đó—rằng anh sẽ trở thành một điều gì đó đối với em, cô bé ạ—không bao giờ, không bao giờ đâu! Nhưng—chỉ một lần này thôi—hãy để anh nói cho em nghe một sự thật sẽ chẳng bao giờ làm tổn thương em, anh thề đấy! Anh yêu em! Chẳng có từ ngữ nào khác ngoài từ đó có thể diễn tả sự quý giá của em đối với anh. Anh... anh vốn dĩ sẽ chẳng bao giờ thốt ra điều đó đâu, nhưng... nhưng những gì em liều mình vì anh đã đánh gục anh rồi. Nó nói cho anh nhiều hơn những gì lời nói của em có thể bày tỏ, và anh... Ơi Chúa ơi! Chúa của con!”

Cô co người lại trước niềm đam mê bùng cháy trong từng lời nói và giọng điệu của anh, nhưng hành động đó chỉ khiến anh vội chộp lấy cánh tay cô và giữ chặt cô lại ở đó. Đươm đầy trong mắt anh là những giọt nước mắt khi nhìn cô, và đôi hàm anh bặm chặt kiên quyết.

“Em đang sợ anh—sợ chính anh sao?” anh hỏi. “Đừng sợ. Cuộc sống giờ đây sẽ đủ khắc nghiệt rồi mà không cần phải để lại cho anh ký ức đó đâu. Anh không đòi hỏi một lời hồi đáp nào từ em cả; anh không có quyền làm thế. Em sẽ hạnh phúc ở một nơi nào đó khác—và bên một người khác—và điều đó mới là đúng đắn.”

Anh vẫn giữ chặt cổ tay cô, và họ đứng lặng trong thấu kính thinh lặng. Cô không thể thốt lên bất kỳ từ nào; nhưng đôi môi run rẩy và cô cố nén lại tiếng nấc đang chực trào lên tận cổ họng.

Nhưng anh đã nghe thấy tiếng nấc ấy.

“Đừng!” anh nói, gần như chỉ là một tiếng thì thầm—“vì ơn Chúa, xin đừng khóc. Anh không thể chịu đựng nổi điều đó—không thể chịu nổi những giọt nước mắt của em đâu. Nào! Hãy dũng cảm lên! Ngước lên nhìn anh đi, chịu không nào? Nhìn kìa! Anh không đòi hỏi em một lời nào, một nụ hôn nào hay một vướng bận tâm tư nào khi em rời bỏ anh—chỉ cần cho anh nhìn thấy đôi mắt em thôi! Nhìn anh đi!”

Những gì anh đọc được qua đôi môi run rẩy cùng ánh mắt e ấp, đầy hổ thẹn của cô khiến anh phải hít một hơi thật sâu qua kẽ răng đang nghiến chặt.

“Cô bé dũng cảm của anh!” anh dịu dàng nói. “Rồi có ngày em sẽ nghĩ cay nghiệt về anh vì chuyện này—nếu như mai sau em biết được—biết được toàn bộ sự thật. Nhưng những gì em đã làm sáng nay đã biến anh thành một kẻ hèn nhát—chính điều đó cùng với niềm khao khát khôn nguôi của anh dành cho em. Hãy cố gắng tha thứ cho anh nhé. Hoặc không—tốt hơn là em đừng tha thứ. Và khi em đã là vợ của người ta—Ôi, chẳng ích gì đâu—anh vẫn chưa thể nghĩ hay nói về điều đó lúc này được. Vĩnh biệt cô bé—vĩnh biệt em!”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.