“Có thư gửi ông Roseleaf,” anh nghe bà chủ nhà nói với cô hầu phòng. Và anh hoàn toàn sẵn sàng để nghe cô bé đáp lại với vẻ ngạc nhiên:
“Gửi ông Roseleaf ư! Đây là bức thư đầu tiên ông ấy nhận được từ khi đến đây.”
Chàng trai được nhắc tới đang đứng ngay sát cửa phòng, hồi hộp chờ đợi người ta mang thư đến cho mình. Anh khoảng hai mươi tuổi, vóc người trung bình, nước da ngăm ngăm, mái tóc xoăn cùng đôi mắt biểu cảm, và mang một vẻ thanh tao tự nhiên khiến thoạt nhìn anh trông gần như nữ tính.
Anh vô cùng quan tâm đến bức thư mà người đưa thư vừa đem tới, nhưng lại quá lịch sự để làm phiền bà chủ nhà hay cô hầu phòng, những người vẫn chưa buông tha cho phong bì.
“Cậu có thể thấy nó xuất phát từ một nhà xuất bản,” bà Ranning nhận xét, tỉ mỉ quan sát chiếc phong bì. “Đó là từ hãng Cutt & Slashem, nơi xuất bản nhiều tiểu thuyết hơn bất kỳ hãng nào khác trong thành phố. Tôi đã bảo cậu là cậu ta làm nghề viết lách gì đó mà. Có lẽ họ chuẩn bị xuất bản sách cho cậu ta đấy! Nếu vậy, cậu ta sẽ rời bỏ chúng ta để đến những khu nhà sang trọng hơn. Tôi nghe nói viết tiểu thuyết kiếm được đống tiền. Chúng ta phải làm hết sức để giữ chân cậu ta càng lâu càng tốt. Hãy thật lịch sự với cậu ấy, Nellie. Cậu ta có vẻ là một thanh niên xuất sắc.”
Sự số sắng muốn cầm lấy bức thư của Shirley Roseleaf không hề thuyên giảm sau cuộc trò chuyện này. Dường như toàn bộ tương lai của anh đều đặt vào nội dung của chiếc phong bì đang nằm lâu lắc trong tay Nellie. Nhà xuất bản lớn Cutt & Slashem đã giữ bản thảo của anh trong gần hai tuần lễ. Khi họ chính thức nhận lời, con đường của anh sẽ hoàn toàn rộng mở. Còn nếu họ từ chối—nhưng anh chưa tính đến chuyện đó.
Bản thảo là một câu chuyện tình lãng mạn—một thiên tình sử! Tác giả của nó đã dành rất nhiều thời gian cho nó. Anh đã cẩn thận viết lại, và cuối cùng tạo ra một bản sao sạch sẽ mà anh vô cùng tự hào. Sau đó, anh đã đắn đo rất lâu về vấn đề chọn nhà xuất bản. Cutt & Slashem đứng đầu trong ngành của họ, và cuối cùng họ đã được ưu tiên chọn lựa. Gửi kèm bản thảo, Roseleaf còn viết một lá thư nhỏ xinh xắn, trong đó gửi gắm lời khen ngợi tinh tế về những thành công của họ. Bản thảo và bức thư được xếp đặt trang nhã trong một gói giấy trắng tinh, buộc bằng dải ruy băng hồng.
Sau tất cả những sự chuẩn bị kỹ lưỡng đó, chẳng có gì lạ khi nhà tiểu thuyết trẻ cảm thấy ngạc nhiên lúc mấy ngày trôi qua mà chẳng có lời hồi đáp nào gửi đến anh. Nhưng chưa lúc nào anh nản lòng. Anh tự luận rằng, nếu họ định từ chối cuốn tiểu thuyết, họ đã có thể làm điều đó trong ba ngày cũng dễ dàng như mười ngày.
Anh tưởng tượng cảnh các thành viên trong ban giám đốc đang tự đắc vì vận may của mình, truyền tay nhau bản thảo, ai nấy đều háo hức muốn nếm thử hương vị của một tác phẩm tuyệt vời đến thế. Anh không cho rằng mình tự cao khi tin rằng họ không phải ngày nào cũng vớ được những câu chuyện như vậy.
Suy nghĩ của anh bay bổng khi Nellie chậm rãi bước lên cầu thang. Giờ đây anh sẽ nổi tiếng, sẽ được săn đón, sẽ bị ghen tị! Anh cũng sẽ vô cùng, vô cùng giàu có, dẫu điều đó không quá quan trọng.
Khi Nellie trao thư, anh đáp lại nụ cười niềm nở của cô bằng nụ cười của chính mình, thậm chí còn nhét vào tay cô một đồng xu hai mươi lăm xu. Rồi anh khép cửa lại, vội vã chốt lại để được ở một mình. Buổi sáng sương mù bao phủ, anh thả mình xuống chiếc ghế bành cạnh cửa sổ, nơi duy nhất trong phòng có đủ ánh sáng để đọc sách rõ ràng.
Chiếc phong bì có sức hấp dẫn kỳ lạ. Nó có màu vàng nhạt, in địa chỉ của hãng Cutt & Slashem bằng những chữ cái lớn ở một mặt phía trước, bên cạnh tên của một số tác giả nổi tiếng nhất mà hãng vinh hạnh làm nhà xuất bản.
“Shirley Roseleaf!” Trông nó sẽ không đến nỗi nào khi được in thành sách.
Chìm đắm trong những bức tranh tươi đẹp mà những ý tưởng này gợi lên, anh mất vài phút mới xé toạc phong bì ra. Rồi đôi mắt kinh ngạc của anh dừng lại trên những dòng này:
“Hãng Cutt & Slashem rất tiếc phải từ chối kèm theo lời cảm ơn đối với bản thảo của ông M. Shirley Roseleaf, và xin được thông báo lại xem ông muốn xử lý tác phẩm này ra sao.”
Roseleaf đọc trong cơn hoa mắt. Trong khoảnh khắc, anh không tài nào hiểu nổi câu đó có nghĩa là gì. “Buộc phải từ chối” thì quá rõ ràng rồi; nhưng bộ óc bối rối của anh lại tìm thấy chút niềm an ủi trong yêu cầu của hãng muốn biết anh muốn xử lý thế nào với bản thảo của mình. Anh tự nhủ, chắc chắn họ phải coi trọng nó, nếu không họ đã chẳng phản hồi bằng một giọng điệu lịch sự nhường ấy. Thế mà, anh vẫn không sao hiểu nổi sao họ lại có thể ngu ngốc đến mức “từ chối” nó cơ chứ.
Họ không muốn thêm một ngôi sao vào dải ngân hà của mình sao?
Lẽ nào họ thực sự đã đọc câu chuyện đó rồi ư?
Hơn nữa, lại là một hãng có uy tín như vậy!
Khi Roseleaf bừng tỉnh khỏi cơn choáng váng tạm thời, anh rơi vào trạng thái vô cùng phẫn nộ. Chà, những kẻ đó thật ngốc nghếch! Anh thầm mong mình chưa từng bén mảng đến gặp họ. Sẽ có ngày họ phải khóc ròng mà hối hận vì thiếu phán đoán. Việc đầu tiên anh làm là đến thẳng văn phòng của họ để bày tỏ suy nghĩ về sự đần độn đó, rồi anh sẽ mang bản thảo của mình sang một nhà xuất bản đối thủ. Và không bao giờ, không bao giờ trên đời này—sau khi anh đã trở thành người nổi tiếng, và khi mọi nhà xuất bản ở cả hai bờ Đại Tây Dương đang vây quanh anh—không bao giờ, anh tự nhủ, những kẻ vô ơn này có được dẫu chỉ một mẩu chữ viết của anh, kể cả khi họ đổi nó bằng vàng ròng!
Anh quá phấn khích không thể chần chừ, đội ngay mũ lên và nhanh chân đến văn phòng của Cutt & Slashem bằng tất cả tốc độ. Ngay lúc đó, anh đặt niềm tin vào cuốn tiểu thuyết của mình hơn bao giờ hết. Khi sải bước thật nhanh, anh đem nó ra so sánh với một số câu chuyện được phát hành bởi chính hãng đã từ chối anh, và kết quả là những cuốn kia kém xa một trời một vực.
“Tôi muốn gặp ông Cutt hoặc ông Slashem,” anh kiêu hãnh nói khi bước vào phòng kế toán.
“Cả hai ông ấy đều có mặt,” cậu nhân viên văn phòng điềm nhiên đáp. “Ông muốn gặp ai?”
“Tôi muốn gặp cả hai người cùng lúc.”
Dù họ có là hổ dữ vừa mới sổng khỏi rừng già Ấn Độ đi chăng nữa, anh cũng chẳng hề sợ hãi.
Cậu bé đòi danh thiếp, biến mất một lát rồi quay lại và ra hiệu cho anh đi theo. Họ đi qua một tầng cầu thang, rồi rẽ trái, rẽ phải, rồi băng qua một hành lang nhỏ. Một cánh cửa mang tên hãng kèm theo dòng chữ “Riêng tư” hiện ra trước mắt.
“Mời vào!” tiếng đáp vọng lại sau tiếng gõ cửa của cậu nhân viên.
Roseleaf bước vào, chậm hơn đạn đại bác một chút, nhưng lại nhanh hơn ốc sên đáng kể. Hai vị lãnh đạo chủ chốt của hãng đang ngồi cạnh nhau, miệng ngậm xì gà đang cháy dở, xem xét một đống mẫu giấy trải trên bàn. Ban đầu họ chỉ ngước lên gật đầu, vì chưa giải quyết xong công việc đang dang dở.
“Nó có khá hơn lần trước không?” ông Slashem hỏi, chỉ vào mẫu giấy mà đối tác của ông đang xem xét.
“Ít ra thì nó cũng tốt ngang ngẻo,” câu trả lời là vậy. “Và rẻ hơn một phần tám xu một pa-ao. Tôi nghĩ chúng ta nên đặt năm trăm rem.”
“Năm trăm rem,” người kia lặp lại chậm rãi, ghi chép vào một cuốn sổ tay nhỏ mang theo. “Còn lô hàng kia thì chúng ta đợi đã nhỉ? Giá giấy không ổn định lắm. Nó đã sụt một phần mười sáu kể từ hôm thứ Năm rồi.”
Cuộc trò chuyện này chỉ càng khiến vị khách đang đứng chờ để trút giận thêm phần tức điên lên. Phải chăng những kẻ này đang lãng phí thời gian vào từng xu lẻ của giá nguyên liệu, ngay sau khi họ vừa từ chối một trong những cuốn tiểu thuyết lãng mạn vĩ đại nhất thời đại hiện đại!
Với sự chính xác của một cỗ máy kép, cuối cùng cả hai đối tác cũng ngước lên khỏi bàn nhìn chàng trai trẻ.
“Ông Shirley Roseleaf?” ông Slashem hỏi với giọng dò hỏi, liếc nhìn tấm danh thiếp mà cậu nhân viên văn phòng vừa mang tới.
“Vâng, thưa ông!” câu trả lời đanh thép và đầy khinh miệt vang lên.
“Chúng tôi không có nhu cầu về mặt hàng của anh,” ông Cutt cắt lời. “Tôi cho là ông Trimm đã tiến hành khá suôn sẻ đơn hàng khác của chúng ta rồi chứ?”
Vẻ mặt phản đối đầy phẫn nộ xuất hiện trên khuôn mặt Roseleaf khiến ông Slashem phải lên tiếng.
“Đây không phải là ông Roseberg,” ông giải thích. “Đối tác của tôi tưởng nhầm anh là đại diện bên đóng sách của chúng ta,” ông nói thêm.
Nhà tiểu thuyết cảm thấy da mặt mình như muốn nứt ra.
“Tôi lấy làm vinh hạnh lắm,” anh lạnh lùng nói. “Xin phép được tự giới thiệu. Tôi là tác giả của 'Niềm tin của Evelyn'.”
Hai người nhìn nhau bàn bạc.
“Sự trùng hợp về tên tuổi đã làm tôi nhầm lẫn,” ông Cutt nói. “Sách của anh có phải là cuốn đã được gửi cho chúng tôi xuất bản không?”
Lạy Chúa tôi!
“Đó chính là cuốn đã được gửi tới cho các ông để xuất bản,” Roseleaf đáp lại với vẻ đầy bức xúc, “và đã bị trả lại vào sáng nay—với lời từ chối!”
“À!” ông Cutt thốt lên.
“Chúng tôi không dính dáng gì đến bộ phận đó,” ông Slashem lên tiếng giải vây. “Anh nên gặp ông Gouger, ở tầng hai phía trên; mặc dù nếu ông ấy đã từ chối câu chuyện của anh thì việc đến gặp cũng chẳng ích gì. Ông ấy không bao giờ đưa ra quyết định mà không có lý do xác đáng.”
“Ồ, dĩ nhiên rồi!” ông Cutt phụ họa, lại cúi xuống sờ mó những mẫu giấy.
Shirley Roseleaf lắng nghe với vẻ hoài nghi tột độ.
“Ý các ông muốn nói là,” anh nói, “các ông, những người đứng đầu hãng Cutt & Slashem, đã từ chối câu chuyện của tôi mà thậm chí còn chẳng thèm đọc lấy một chữ ư?”
Hai đối tác lại liếc nhìn nhau.
“Chúng tôi không bao giờ đọc sách,” ông Cutt đáp.
“Không bao giờ,” ông Slashem ân cần nói thêm. “Chúng tôi còn nhiều việc quan trọng hơn phải lo. Chúng tôi trả lương cao cho ông Gouger cơ mà. Này bạn trẻ, có lẽ mỗi tuần văn phòng chúng tôi nhận được cả tá bản thảo. Nếu chúng tôi mà thử đọc hết chúng, theo anh ai sẽ là người lo những điểm cốt lõi trong công việc kinh doanh của chúng tôi đây?”
Sự khinh bỉ của Roseleaf dành cho hãng này đang tăng lên với tốc độ ánh sáng. Anh chẳng buồn uốn lưỡi nữa, vì bây giờ mọi chuyện đã chẳng còn khác biệt gì.
“Tôi cứ tưởng việc lựa chọn những cuốn sách mà các ông sắp in ít ra cũng quan trọng bằng số giấy mà các ông sắp dùng chứ,” anh châm chọc.
Ông Cutt nhìn anh với vẻ vô cùng ngạc nhiên.
“Anh lầm to rồi,” ông ta nói.
“Hoàn toàn nhầm lẫn,” ông Slashem xác nhận.
Tác giả chẳng có hứng thú ở lại thêm nữa, bởi rõ ràng là anh đang nổi nóng vô ích. Nếu chính ông Gouger là kẻ đã từ chối tác phẩm của mình, thì ông Gouger mới là người anh phải gặp mặt.
Cúi chào đầy vẻ mỉa mai trước những kẻ chuyên săm soi giấy in, anh từ giã họ và leo lên căn phòng gác mái của người mà anh được bảo là kẻ phán quyết số phận mình. Một cô gái tay bẩn thỉu chỉ đường cho anh, bởi chẳng có tấm biển nào ghi chú trên cánh cửa gỗ sám xịt; và chẳng mấy chốc Roseleaf đã đứng trước mặt kẻ mà lúc đó anh tin là kẻ thù lớn nhất đời mình.
Trong phòng có hai người đàn ông. Một người ra hiệu tay ý bảo người kia mới là nhân vật đang cần tìm, và ra hiệu thứ hai mời vị khách ngồi xuống. Ông Gouger đang khuất một nửa đằng sau chiếc bàn giấy, bận rộn lật giở một đống bản thảo, và qua thái độ của người bạn đồng hành, có thể thấy ông ta không muốn bị quấy rầy.
Hạ bớt phần nào cơn giận trước tình cảnh này, chàng tiểu thuyết gia ngồi xuống chiếc ghế được chỉ định và chờ đợi suốt mấy phút.
“Mấy thứ ngớ ngẩn quái quỷ gì mà người ta cứ gửi đến cho tôi dạo này thế không biết!” Cuối cùng ông Gouger thốt lên, nhét vội những tờ giấy vừa xem lướt qua trở lại chiếc phong bì ban đầu mà chẳng thèm ngẩng đầu nhìn lên khỏi bàn làm việc. “Trong số một trăm câu chuyện tôi đọc, chẳng có nổi ba cuốn đủ tiêu chuẩn để nhóm lò! Cái thứ này do một đứa con gái viết, loại lẽ ra phải học lại bậc tiểu học. Nó chẳng có chút khái niệm gì về cú pháp giống như một con chó cảnh vậy. Bố nó viết thư bảo rằng sẵn sàng trả một khoản tiền kha khá để cho ra mắt tác phẩm. Chà, Cutt & Slashem có cho năm mươi nghìn đô-la cũng đời nào dám gắn thương hiệu của mình lên cái thứ rác rưởi này!”
Ông ta nói xong xuôi mới nhận ra trong phòng có người thứ ba. Vừa phát hiện ra điều đó, ông liền hạ thấp giọng, như thể đang hối hận vì đã tỏ ra quá gay gắt trước mặt một người lạ. Chàng tiểu thuyết gia đứng dậy đưa danh thiếp, và khi ông Gouger liếc nhìn cái tên, một tia nhận ra bừng sáng trên khuôn mặt ông.
“Rất vui được gặp anh, ông Roseleaf,” ông nói. “Tôi suýt nữa đã định mời anh ghé qua, khi buộc phải gửi cho anh bức thư đó vào ngày hôm qua. Có vài điều tôi muốn trao đổi với anh. Archie, có lẽ anh cho chúng tôi mượn phòng trong vài phút nhé.”
Câu nói cuối được hướng sự thân mật tới người đàn ông đang ngồi ở chiếc ghế thứ ba, kẻ trông có vẻ chán nản trước viễn cảnh phải đứng dậy khỏi đó đến mức Roseleaf vội vã bày tỏ hy vọng ông ta đừng vì mình mà làm vậy.
“Thôi được,” ông Gouger cụt ngủn nói. “Anh đã nghe thấy những gì tôi nói về bản thảo vừa đọc rồi đấy, dù tôi không có ý định để anh nghe thấy. Tôi cứ ngỡ mình chỉ đang nói chuyện với ông Weil, người không theo nghề này và cũng chẳng có ý định theo đuổi nó. Giờ thì, tôi xin nói thẳng luôn thế này, ông Roseleaf, đóng góp của anh không hề vướng phải bất kỳ khuyết điểm nào mà tôi vừa kể trên. Rõ ràng anh đã được giáo dục bài bản. Tiếng Anh của anh trong sáng và có sức nặng. Đọc những trang viết của anh thực sự là một niềm thích thú thuần túy. Từng dòng từng chữ đều cho thấy sự chăm chút tối đa trong cấu trúc. Tôi đã làm một việc với câu chuyện của anh mà lâu lắm rồi tôi chưa làm với cuốn nào khác—tôi đã đọc ngấu nghiến từ đầu đến chí cuối. Vậy thì tại sao tôi lại từ chối nó?”
Câu hỏi quá tầm với đối với người trong cuộc để có thể trả lời, nhưng trong luồng ánh sáng dễ chịu mà lời khen ngợi mang lại, anh tạm thời quên đi cảm giác cay đắng.
“Có lẽ,” anh ngập ngừng gợi ý, “Cutt & Slashem đang cầm trong tay nhiều tiểu thuyết hơn mức họ muốn xuất bản lúc này chăng.”
“Không,” ông Gouger đáp gọn lỏn, dập tắt ngay giả thuyết đó trong một nhịp thở. “Một nhà xuất bản như chúng tôi sẽ không bao giờ từ chối một bản thảo thực sự đáng giá. Nếu anh ngẫm lại xem chỉ có khoảng một hoặc hai tác phẩm loại này xuất xưởng mỗi năm, anh sẽ càng dễ dàng hiểu được tôi hơn. Câu chuyện của anh mắc một lỗi chí mạng mà không sự xuất sắc nào về văn phong hay gọt giũa có thể khỏa lấp được. Tôi có nên nói cho anh biết đó là lỗi gì không, và nói trước mặt vị quý ông này nhé?”
Ông ra hiệu về phía ông Weil khi nói. Trái tim Roseleaf thắt lại. Lần đầu tiên anh cảm thấy một nỗi sợ hãi chết người.
“Xin ông cứ nói cho,” anh yếu ớt đáp.
Khuôn mặt ông Gouger lúc đó mang biểu cảm dịu dàng nhất. Ông đang tốn những khoảng thời gian quý báu, khoảng thời gian thuộc về chủ nhân của mình, để nói ra những điều chắc chắn sẽ gây thất vọng tạm thời, dẫu cho cuối cùng nó có thể mang lại lợi ích cho người nghe.
“Tôi xin nhắc lại,” ông nói, “tác phẩm của anh được viết rất khá, và tôi đã đọc nó với sự hứng thú cao độ. Điểm yếu của nó—một điểm yếu không thể khắc phục nổi—đó là nó thiếu đi sự chân thực với tự nhiên. Ông Roseleaf ạ, tôi nghĩ mình có thể phỏng đoán cuộc sống trước đây của anh với độ chính xác tương đối chỉ từ những gì bản thảo đó bộc lộ.”
Nhà tiểu thuyết lắc đầu. Không có một dòng tự truyện nào trong những trang giấy đó cả, và anh đã nói thẳng với nhà phê bình như vậy.
“Ồ, tôi hiểu chứ,” ông Gouger đáp. “Nhưng điều này tôi đã rút ra được: Cuộc đời anh nhạt nhẽo một cách kỳ lạ. Thế mà, bất chấp điều đó, anh vẫn cả gan viết về những thứ mình hoàn toàn không biết, và theo tôi có thể bổ sung thêm rằng, anh đã phỏng đoán vô cùng tồi tệ.”
Ông Weil, ngả người ra sau ghế, bắt đầu tỏ ra vô cùng hứng thú. Ông Roseleaf, ngồi thẳng người trong tư thế chú ý căng thẳng, gặng hỏi xem ý ông Gouger là gì.
“Chẳng hạn như thế này,” nhà phê bình đáp: “Anh cố gắng mô tả cảm xúc của tình yêu, dẫu cho anh chưa từng trải qua một mối tình nồng cháy nào. Bộ anh tưởng mình có thể biết cảm giác ôm một thiếu nữ xinh đẹp trong vòng tay ra sao trong khi chưa bao giờ có ai ở đó à? Anh thốt ra những lời cám dỗ qua miệng kẻ phản diện mà đến một tên lưu manh thực thụ cũng chẳng thèm nghĩ tới, bởi tác dụng duy nhất của chúng chỉ là làm cho nữ chính của anh hoảng sợ. Anh bàn về một vụ cưỡng bức đã được lên kế hoạch cứ như thể nó là một phần trong bản thánh ca vậy. Và anh nhào nặn nam chính của mình trong trắng, ngọt ngào đến mức chẳng người phụ nữ nào bằng xương bằng thịt có thể chịu đựng nổi hắn ta dù chỉ một tiếng đồng hồ.”
Máu dồn lên mặt Roseleaf. Anh cảm thấy lời chỉ trích này không phải không có cơ sở. Nhưng rồi anh xốc lại tinh thần, hỏi rằng liệu một người có bắt buộc phải trải nghiệm mọi cảm giác trước khi dám viết về chúng hay không.
“Bộ ông nghĩ,” anh tuyệt vọng hỏi, “Jules Verne từng đi sáu mươi nghìn dặm dưới đáy biển hay thực hiện một chuyến đi tới mặt trăng chắc?”
Ông Weil không khỏi bật cười khúc khích. Ông Gouger vỗ tay vào nhau rồi siết chặt lại.
“Không,” ông nói. “Nhưng ông ấy không thể viết được những câu chuyện tuyệt diệu đó nếu không có kiến thức về các ngành khoa học mà chúng đề cập đến.”
“Ông ấy đã đọc, và tôi cũng đã đọc,” Roseleaf đáp lại. “Khác biệt ở chỗ nào chứ?”
“Ông ấy đã nghiên cứu, còn anh thì không,” nhà phê bình sắc sảo đáp. “Đó là tất cả sự khác biệt trên đời này. Ông ấy có một ý niệm chính xác về cấu trúc của mặt trăng và những gì nên có trong các hang động chưa được khám phá của đại dương; trong khi anh, với sự dốt nát hoàn toàn, lại cả gan dấn thân vào một khoa học mà những thứ kia chỉ là chuyện vặt vãnh! Anh mù tịt về những thủy triều chi phối trái tim một thiếu nữ chẳng khác nào lịch sử cá nhân của cư dân trên sao Mộc vậy! Khả năng mô tả của anh rất tốt; nhưng khả năng sáng tạo thì quá yếu kém. Hoặc là tự mình lao vào một cuộc tình cho đến khi nắm rõ bản chất gốc rễ của nó, hoặc đừng bao giờ mơ tưởng đến chuyện miêu tả nó nữa.”
Ông Archie Weil mỉm cười gật đầu, như thể hoàn toàn đồng tình với người nói.
“Tôi mà có tài năng ấy thì viết được một cuốn tiểu thuyết hay biết mấy, anh bạn quý mến ạ!” ông thốt lên. “Tôi có đủ mọi trải nghiệm, nhưng bảo tôi viết chúng ra thì thà bắt tôi bay còn hơn.”
“Cũng rứa thôi,” câu trả lời là vậy, “phụ nữ trong sách của anh toàn là loại Messalina, mà văn học hiện tại đã có quá nhiều rồi.”
“Không phải tất cả đâu, Lawrence,” câu đáp lại nhanh nhạy và đầy ẩn ý.
*(Chú thích: Messalina là hoàng hậu La Mã nổi tiếng lẳng lơ, dâm đãng).*
“Nếu vậy thì,” Gouger nói, “tôi thực lòng ước gì anh có thể viết. Thế giới đang khao khát một câu chuyện tình yêu thực sự, dựa trên những chuẩn mực hiện đại, được cập nhật theo thời đại. Tôi nói cho anh hay, chẳng có gì thỏa mãn nổi kể từ thời của Goethe đến nay.”
Ông Weil gợi ý Balzac và Sand.
“Sao anh không gom cả George William Reynolds vào luôn đi?” Gouger mỉa mai hỏi. “Cả hai người đó đều chẳng thèm viết lách gì cho đến khi bị sự tiếp xúc với nhân gian làm cho đồi bại. Nếu chúng ta có thể tìm được một chàng trai trẻ có tài năng văn chương thực thụ để quan sát cuộc sống và viết về nó theo từng bước đi của mình, thì chúng ta còn mong gì hơn nữa? Nhưng tôi hết thời gian rồi, ông Roseleaf ạ. Tôi lấy làm tiếc vì buộc phải từ chối câu chuyện của anh. Một ngày nào đó, khi anh đã nhìn đời thêm chút ít, hãy bắt đầu lại theo những định hướng tôi vừa vạch ra, rồi mang thành phẩm đến đây.”
Hoàn toàn chán nản, giờ đây khi tấm ván cứu sinh cuối cùng đã tuột khỏi chân, nhà tiểu thuyết chậm rãi bước xuống cầu thang. Anh thậm chí chẳng thèm đòi lại bản thảo của mình. Sau những gì vừa nghe thấy, mang nó về phòng trọ cũng chẳng còn đáng giá nữa. Kế hoạch của anh đã tan thành mây khói. Thay vì danh vọng và tài lộc hằng mong ước, anh chỉ cảm thấy nỗi thất vọng cay đắng nhất. Mọi giấc mơ tươi đẹp đều đã tan biến.
Một bước chân phía sau gấp gáp hơn của mình báo hiệu có kẻ đang bám theo, và chẳng mấy chốc một tiếng gọi tên vang lên. Đó chính là ông Archie Weil, người đã phải gắng sức phi thường và mất vài giây lấy lại hơi thở trước khi có thể nói tiếp.
“Tôi muốn anh ghé qua khách sạn của tôi để trò chuyện một chút,” ông nói. “Gouger khiến tôi vô cùng hứng thú với anh. Tôi tin, như ông ấy nói, anh có tố chất để trở thành một tác giả xuất chúng, và tôi muốn dàn xếp một kế hoạch giúp anh thực hiện ý đồ của ông ấy.”
Ông Roseleaf ngờ vực nhìn người bạn đồng hành.
“Ý đồ nào cơ chứ?” anh cộc lốc hỏi.
“Chà, là việc truyền đạt cho anh thứ kiến thức về thế giới giúp anh vẽ nên những bức chân chất thực đấy. Anh có nghệ thuật, ông ấy bảo thế, có tài năng, có năng lực—gọi thế nào tùy anh. Thứ duy nhất anh thiếu là trải nghiệm. Có được điều đó rồi, anh sẽ tạo dựng được một danh tiếng chẳng thua kém ai. Còn gì hiển nhiên hơn việc anh nên chớp lấy thứ mình đang cần ngay lập tức cơ chứ?”
“Thứ tôi đang cần ư?” Roseleaf buồn rầu nhắc lại.
Ông Weil cười tươi một cách thú vị.
“Đúng thế!” ông giải thích. “Thứ anh cần trước hết là một người bạn đủ khả năng làm anh hứng thú. Xin lỗi nếu tôi tự thấy mình khớp với cụm từ đó. Hãy ghé khách sạn của tôi một lát rồi chúng ta cùng bàn bạc kỹ hơn.”
Đó không phải là một cơ hội để từ chối trong hoàn cảnh chán chường của Roseleaf, và hai người cùng bước đi về phía khách sạn Hoffman House, nơi ông Weil lúc bấy giờ đang trú ngụ.