Việc bàn luận về những trường hợp bất thường của sự tồn tại sau khi chết – vốn đã được dành trọn cho chương trước – đã hé lộ cho chúng ta một thực tế rằng, trong mọi thời kỳ của Hy Lạp cổ đại, điều đáng sợ nhất đối với người chết là thể xác không bị phân hủy, và ân huệ khao khát nhất là sự tiêu rã chắc chắn và nhanh chóng. Trong hai phương pháp mà người sống có thể dùng để thúc đẩy quá trình phân rã của người chết, gồm hỏa táng và địa táng, chỉ có phương pháp trước được xem là tuyệt đối linh nghiệm. Phước lành nào trong thế giới bên kia từng được cho là sẽ đến với những người có thể xác đã tan rã đúng cách, và bị tus bỏ khỏi những hồn ma hiện về, là một câu hỏi có lẽ nên tạm gác lại một thời gian. Trước tiên, chúng ta phải kiểm chứng các kết quả rút ra từ việc nghiên cứu hiện tượng bất thường bằng cách xem xét những hiện tượng bình thường; chúng ta phải tìm hiểu xem phong tục tang lễ thông thường có phải chỉ nhằm mục đích duy nhất là làm tan rã thể xác vì lợi ích của người chết hay không, và có sự phân biệt nào, nếu có, được đặt ra giữa địa táng và hỏa táng như những phương tiện để đạt được mục đích đó hay không.
Giờ đây, các phương thức mai táng đa dạng, đặc biệt là trong một cộng đồng nguyên thủy, tự nhiên sẽ gợi mở những mục đích tôn giáo đa dạng đằng sau đó, những quan niệm khác nhau về kiếp sau của người chết, hoặc về chốn dung thân tương lai của họ, hoặc về mối quan hệ sau này giữa họ với người sống. Về phần mình, tôi không mảy may nghi ngờ rằng, nếu tầm mắt chúng ta có thể xuyên thấu màn đêm của một quá khứ xa xôi mà cả lịch sử lẫn khảo cổ học đều chưa từng chiếu rọi, chúng ta sẽ thấy rằng những dân tộc lần đầu tiên áp dụng cả hỏa táng lẫn địa táng song song ở Hy Lạp khi ấy đã được thúc đẩy bởi những tình cảm tôn giáo khác nhau. Nhưng tôi cũng cho rằng, trong bất kỳ thời kỳ nào mà chúng ta được biết đến, người Hy Lạp chưa từng coi địa táng và hỏa táng là những phương tiện dẫn đến các mục đích tôn giáo khác nhau. Ngược lại, dù sử dụng phương thức tang lễ nào đi chăng nữa, họ vẫn luôn hướng tới một mục đích trước mắt duy nhất và bất biến, đó là sự tiêu rã của thể xác, đồng thời luôn được thúc đẩy bởi cùng một động cơ duy nhất (ngoại trừ trong những hoàn cảnh vô cùng đặc biệt khi sự hoảng sợ trước loài vrykolakes tạm thời trỗi dậy) – đó là động cơ mang lại ân huệ cho người chết.
Tuy nhiên, dù mục đích hướng tới là duy nhất và cố định, việc tạo ra một sự phân biệt nhất định giữa hai phương pháp sẵn có cũng không có gì là mâu thuẫn. Ngược lại, nếu mục đích duy nhất là sự phân rã của thể xác, thì về mặt logic, phương pháp nào đạt được điều đó chắc chắn hơn và nhanh hơn đáng lẽ phải được ưu tiên. Do đó, hỏa táng hoàn toàn có thể được coi là một nghi thức vượt trội hơn địa táng; bởi ai cũng phải thừa nhận rằng quá trình phân rã của thể xác diễn ra nhanh chóng và chắc chắn hơn nhờ tác dụng của lửa so với nhờ sự tác động của đất đai.
Quả thực, tác dụng dung giải của đất đối với thi thể được chôn cất – ngay cả khi đã tính đến việc nhiều trường hợp không dùng quan tài – thường bị đại đa số người dân coi là nhanh hơn rất nhiều so với thực tế. Khoảng thời gian thường được dân gian tính làm giới hạn cần thiết cho quá trình phân rã hoàn toàn là bốn mươi ngày. Điều này được thể hiện rõ ràng qua một vài câu trong một bài ca than khóc được ghi nhận ở Zacynthos:
καὶ μέσ’ ’στὸ σαραντοήμερο ἀρμοὺς ἀρμοὺς χωρίζουν,
πέφτουνε τὰ ξανθὰ μαλλιὰ, βγαίνουν τὰ μαύρα μάτια,
καὶ χώρια πάει τὸ κορμὶ καὶ χώρια τὸ κεφάλι.
‘Và trong vòng bốn mươi ngày, họ (người chết) lìa từng khớp xương, mái tóc vàng rụng xuống, đôi mắt đen tuột ra, và thân mình với đầu lìa ra mỗi ngả.’
Nữ thần thơ ca Zacynthos thật vô cùng hiển ngôn và chi tiết; những lời ca của bà chẳng cần đến kẻ giải mã, mà tự bản thân chúng đã giải thích chính xác cho một số phong tục vốn phổ biến ở Hy Lạp hiện đại và dường như có từ thời tiền Cơ đốc giáo.
Ngày thứ tư mươi sau khi chết được tuân thủ gần như phổ biến ở Hy Lạp như một ngày mà họ hàng của người quá cố nên tổ chức một bữa tiệc tưởng niệm. Quả thực, có những ngày cố định khác dành cho việc tưởng niệm và “cầu siêu” tương tự cho người chết, nhưng tất cả những ngày này đều rơi vào khoảng thời gian là ba ngày, hoặc bội số của ba ngày, tuần, tháng, hoặc năm kể từ ngày qua đời. Theo tôi, những khoảng thời gian này được lựa chọn để tôn trọng sự linh thiêng huyền bí của con số ba, và rất có thể chúng bị nhân lên bởi sự nài nỉ của một tầng lớp giáo sĩ bủn xỉn, đối với những người mà dăm ba bữa ăn thịnh soạn trong năm dường như là một sự thù lao không hề tồi cho các dịch vụ của họ bên giường bệnh và trong đám tang. Nhưng ban đầu, ngày thứ tư mươi được dành cho mục đích này, theo suy luận hợp lý, là vì đó là cơ hội cuối cùng để dọn ra trước mặt những người láng giềก và quen biết của người quá cố những món ăn ngon lành mà tâm hồn họ ưa chuộng, để họ có thể cùng ăn và “giải thoát” người chết khỏi bất kỳ lời nguyền nào mà họ từng trói buộc người ấy khi còn sống; nếu sự phân rã không bị chậm lại, thì theo tính toán dân gian, ngày thứ tư mươi chính là cơ hội cuối cùng để được xá tội.
Từ điều này, có thể suy ra rằng bất kỳ bữa tiệc tưởng niệm nào diễn ra muộn hơn ngày thứ tư mươi đều là những sự sắp đặt thuần túy của giáo hội; và tính đúng đắn của suy luận này được chứng thực bởi một tập tục địa phương kỳ lạ, phân biệt rõ ràng giữa các bữa tiệc mang tính dân gian và mang tính giáo hội. Tại Sinasos ở Tiểu Á, người ta công nhận hai loại tưởng niệm. Loại thứ nhất được gọi là κανίσκια, nghĩa là “những chiếc giỏ nhỏ,” theo cách thức phân phát thức ăn cho người nghèo; nghi lễ này diễn ra vào ngày thứ tư mươi. Loại thứ hai đã chiếm đoạt tên gọi μνημόσυνα – vốn thường dùng cho tất cả các bữa tiệc tưởng niệm – được tổ chức vào ba ngày giỗ (vì sau năm thứ ba, việc cải táng thường diễn ra và không cần thêm bữa tiệc tưởng niệm nào nữa), và bao gồm việc dâng một đĩa lúa mì luộc trang trí đẹp mắt (κόλλυβα) tại nhà thờ cùng với nghi thức đọc kinh. Nói cách khác, ngày thứ tư mươi là ngày hội dân gian, còn các nghi lễ vào những ngày muộn hơn là do giáo hội quy định. Rõ ràng, nguyên nhân của sự phân biệt này nằm ở chỗ nhân dân tin rằng, như đoạn thơ từ Zacynthos đã cho thấy, quá trình phân rã thường diễn ra hoàn toàn vào ngày thứ tư mươi, trong khi Giáo hội một cách thận trọng đã ấn định thời điểm có thể tiến hành bốc mộ là vào cuối năm thứ ba. Do đó, có lẽ khoảng thời gian bốn mươi ngày vốn là thời kỳ ngoại giáo cổ xưa, mà Giáo hội đã cố gắng thay thế, với một mức độ thành công nhất định, bằng ba năm.
Một vài bằng chứng nhỏ khác cũng chỉ ra sự phổ biến rộng rãi của quan niệm dân gian này. Lại một lần nữa tại Sinasos và cả ở Patmos, các khoản phí trả cho linh mục trong các nghi lễ tưởng niệm đều bắt nguồn từ từ “bốn mươi” (σαράντα), tựa hồ như ngày thứ tư mươi là giới hạn cuối cùng; sau thời điểm đó, chừng như (dù các tài liệu của tôi không nói rõ chi tiết này), các linh mục chỉ nhận được thù lao là đĩa lúa mì luộc hoặc các lễ vật hiện vật khác. Ở Crete, nếu một người chết bị nghi ngờ biến thành vrykolakas ngay sau khi qua đời, người dân sẽ vô cùng sốt sắng giải quyết thi thể ấy trước khi bước sang chu kỳ bốn mươi ngày thứ hai; bởi vì khi đó, mọi hy vọng về sự phân rã tự nhiên đã vụt mất, và kẻ đó sẽ trở thành một tên ma cà rồng thực thụ. Ở Scyros, phong tục cổ xưa là hỏa táng những thây ma được tìm thấy vẫn còn nguyên vẹn khi bốc mộ vào cuối năm thứ ba (hoặc sớm hơn trong trường hợp xảy ra hoảng loạn), vốn bị nghi ngờ có khuynh hướng hóa thành ma cà rồng, nay đã được thay thế bằng biện pháp nhẹ nhàng hơn là đưa thi thể đi vòng quanh bốn mươi nhà thờ lần lượt rồi đem chôn lại. Dường như hy vọng đặt ra là mỗi vị trong số bốn mươi vị thánh – những người có điện thờ được tôn kính bằng một chuyến viếng thăm cùng một lượng nến nhất định – sẽ đáp lễ bằng cách gánh vác một phần tương ứng trong việc “giải thoát” cho linh hồn người cầu khẩn; hoặc có thể, theo một kỳ vọng mang tính toán học hơn, rằng công việc mà một nghi lễ tang lễ trong bốn mươi ngày có thể hoàn tất trong trường hợp địa táng thông thường, nay sẽ đạt được nhờ bốn mươi nghi lễ tang lễ trong một ngày. Dù dựa trên phương thức tính toán nào đi nữa, số lượng nhà thờ phải viếng thăm rõ ràng vẫn bị chi phối bởi số ngày cần thiết, theo quan niệm dân gian, cho một quá trình phân rã bình thường.
Tuy nhiên, dẫu cho đất mẹ có tiếng là nhanh chóng trong việc “giải thoát” những thi thể được giao phó cho mình đến đâu đi nữa, thì tác dụng của lửa vẫn nhanh hơn một cách không thể chối cãi. Quá trình tiêu rã trên giàn hỏa táng được tính bằng giờ, chứ không phải bằng ngày. Và bên cạnh sự nhanh chóng ấy, nó còn chắc chắn hơn rất nhiều. Không một thi thể nào đã bị hỏa táng có thể lang thang khắp mặt đất như một hồn ma hiện về, trong khi đối với những người được chôn cất, chẳng có sự đảm bảo hoàn hảo nào cho việc phân rã. Nào là lời nguyền, nào là tội ác, bạo lực của cái chết, hay sự thiếu sót trong nghi lễ tang lễ – bất kỳ và tất cả những điều này đều có thể giữ cho thể xác của họ bị “trói buộc” và không thể tan rã. Do đó, về mặt lý thuyết, hỏa táng chắc chắn là phương pháp ưu việt hơn để mang lại cho người chết ân huệ mà họ hằng khao khát nhất; và tôi cho rằng trong tập quán của người dân Hy Lạp có những dấu hiệu cho thấy sự ưu ái này đã từng hiện hữu.
Như vậy, có hai mệnh đề cần được xác lập thông qua việc tham chiếu các phương pháp tang lễ thực tế của người Hy Lạp Cổ đại và Hiện đại: thứ nhất, kể từ những thời kỳ cổ xưa nhất mà chúng ta biết đến, hỏa táng và địa táng hoàn toàn đồng nhất về mặt mục đích tôn giáo; thứ hai, người ta đã thể hiện sự ưu ái rõ rệt đối với hỏa táng khi được xem như một phương tiện để đạt được mục đích tôn giáo duy nhất đó.
Điều đầu tiên cần thiết trong cuộc khảo sát kép này là phải hiểu các thuật ngữ được sử dụng theo đúng nghĩa mà người Hy Lạp đã hiểu. Hỏa táng đối với chúng ta có nghĩa là thiêu rụi thi thể thành tro bụi bằng lửa; địa táng là đặt thi thể khuất tầm nhìn vào trong lòng đất; và trừ khi một trong hai hành động đó thực sự được thực hiện, chúng ta sẽ không cho rằng một tang lễ đã diễn ra. Nhưng người Hy Lạp đánh giá dựa trên ý định nhiều hơn là hành động. Trong một số trường hợp, khi việc đào một ngôi mộ thực sự là bất khả thi, phong tục cổ xưa quy định một nghi thức thay thế. Việc rắc một nắm bụi lên thi thể được coi là đã hoàn thành việc mai táng. Đó là tất cả những gì Antigone có thể làm để chôn cất Polynices; đó là mức tối thiểu của việc mai táng do Luật Attic quy định đối với bất kỳ ai vô tình bắt gặp một thi thể nằm phơi lộ thiên không được chôn cất; đó là, theo Aelian, “sự thực hiện một luật lệ đạo đức huyền bí do Tự nhiên áp đặt” không chỉ đối với con người mà thậm chí đối với cả một số loài động vật, đến mức con voi, nếu phát hiện ra đồng loại của mình chết, sẽ gom một ít đất bằng vòi của nó và rắc lên cái xác đang nằm bất động ấy. “Sự thực hiện một luật lệ đạo đức huyền bí” – cụm từ của Aelian đã tóm tắt chính xác quan điểm của người Hy Lạp về việc mai táng. Đối với chúng ta, đó là một phương pháp xử lý người chết cần thiết và trang nghiêm. Đối với người Hy Lạp, đó là một điều gì đó lớn lao hơn – một sự chuẩn bị cho phúc lợi vốn mờ ảo của họ; và ý định của người sống quan trọng hơn rất nhiều so với hành động thực tế, đến mức trong những trường hợp không thể chôn cất thực sự, một nghi thức mang tính biểu trưng gợi nhớ đến việc chôn cất cũng được coi là đủ sức đảm bảo cùng một kết cục.
Mặt khác, trong trường hợp một người chết đuối ngoài biển khơi hoặc gặp nạn theo bất kỳ cách nào khiến việc đưa thi thể về nhà chôn cất trở thành bất khả thi, người ta luôn tìm ra cách để thực hiện “luật lệ đạo đức huyền bí” ấy. Giống như thời cổ đại, huyệt mộ giả nay vẫn phục vụ cùng một mục đích như ngôi mộ thật. Một hình nhân, nếu có thể thì được mặc những bộ quần áo của người quá cố, sẽ nhận thay anh ta trọn vẹn nghi lễ mai táng; và nếu có ai đặt câu hỏi rằng nghi lễ trống rỗng này nhằm mục đích gì, câu trả lời sẽ vang lên không chút chậm trễ: γιὰ νὰ λυωθῇ ὁ πεθαμένος, nghĩa là “để người chết được tan rã”; và tôi không mảy may nghi ngờ rằng nghi thức hình thức tương tự thời cổ đại cũng phục vụ cùng một mục đích ấy.
Và xin đừng có nhà phê bình thực tế nào lại chen vào đây với sự phản bác rằng một thi thể nằm lộ thiên không được chôn cất, phơi mình dưới nắng mưa, hẳn phải phân hủy nhanh ít nhất là bằng một thi thể đã được chôn; bản thân tôi đã từng thử nghiệm hiệu quả của lời phê bình đó đối với những người nông dân Hy Lạp và thu được những kết quả rất đáng sáng tỏ. Có lần, gợi ý của tôi vấp phải sự phủ nhận thẳng thừng và dứt khoát – câu trả lời đơn giản và cuối cùng nhất, bởi xin hãy ghi nhớ rằng, chúng ta đang đối phó với niềm tin chân thực của người nông dân, chứ không phải với các sự thật vật lý. Lần khác, có một khoảng lặng, và rồi câu trả lời có suy tính mới được cất lên: βρωμάει τὸ κορμὶ, δὲν λυώνεται, nghĩa là “thi thể thối rữa, nhưng không được ‘giải thoát’.” Trong tâm trí người nông dân có sự phân biệt rõ ràng giữa sự phân hủy tự nhiên và quá trình tiêu rã do một nghi lễ tôn giáo tạo ra. Nhưng thường thì người ta chỉ ra cho tôi thấy rằng gợi ý tưởng chừng hợp lý của tôi thực chất là phi thực tế: một thi thể bị bỏ lại không chôn cất sẽ chẳng bao giờ trải qua quá trình mục nát tự nhiên, mà sẽ trở thành mồi ngon cho dã thú nơi đồng hoang và chim chóc trên trời; những con kền kền đang lượn lờ trên cao kia chính là tang chứng vạch trần sự phi lý của tôi. Và câu trả lời ấy không tài nào không gợi nhớ đến những lời đe dọa của Achilles đối với Hector, hay những nỗi sợ hãi của Antigone dành cho Polynices, rằng chó sói và loài chim ăn thịt thây ma sẽ tha hồ xé xác họ. Vì vậy, có lẽ niềm tin mà người Hy Lạp vẫn luôn gìn giữ không chỉ chân thành mà còn hợp logic, rằng sự tiêu rã của thể xác chỉ có được nhờ một trong hai nghi lễ và không có phương thức thứ ba nào khác.
Giờ đây, một trong hai nghi lễ đó là địa táng, có đôi khi có thể được giản lược thành một sự tuân thủ thuần túy mang tính nghi thức, chẳng hạn như việc rắc một nắm bụi lên thi thể, hoặc chôn cất một hình nhân thay thế. Vậy còn nghi lễ kia, hỏa táng, có bao giờ bị giản lược như thế không? Liệu tiếng gầm réo và lách tách của giàn hoả táng bốc cháy có thể được thay thế về mặt nghi thức bằng một ngọn lửa nhỏ được thắp lên ở gần thi thể hay không? Liệu việc nhóm lên một ngọn lửa, dù bất lực trong việc thiêu rụi thi thể, có cấu thành nên nghi thức hỏa táng theo cùng một nghĩa mà một nắm đất, bất lực trong việc che phủ thi thể, cấu thành nên nghi thức địa táng hay không? Thoạt nhìn, giả thiết này chẳng có gì là hoang đường cả; nó hoàn toàn phù hợp với quan niệm của người Hy Lạp về nghi lễ tang lễ, vốn coi trọng ý định hơn là hành động; thực tế đã được chứng minh về nghi thức địa táng mang tính biểu trưng chính là bảo đảm cho tính khả thi của nghi thức hỏa táng mang tính biểu trưng. Do đó, tôi xem đây là một giả thiết làm việc, và đặt nền móng cho khẳng định sau này của nó về việc được thừa nhận như một sự thật dựa trên khả năng giải thích một cách nhất quán một chuỗi dài các hiện tượng trong phong tục tang lễ của người Hy Lạp.
Mệnh đề đầu tiên của tôi – rằng từ những thời kỳ cổ xưa nhất mà chúng ta biết đến, hỏa táng và địa táng đã phục vụ cùng một mục đích tôn giáo – lẽ ra đã phải vượt qua một trở ngại ban đầu nếu không có công trình nghiên cứu của Giáo sư Ridgeway về nhân chủng học thời kỳ đầu của Hy Lạp. Thoạt nhìn, như tôi đã nói, các phương thức mai táng đa dạng sẽ gợi mở những quan niệm khác nhau về sự tồn tại sau khi chết. Nhưng Giáo sư Ridgeway đã chứng minh một cách thuyết phục, theo quan điểm của tôi, rằng địa táng là nghi lễ của cư dân PelasGia bản địa ở Hy Lạp, và hỏa táng được du nhập bởi những người di cư Achaea. Đương nhiên, thật khó lòng tin rằng hai dân tộc này, khi mới tiếp xúc với nhau, lại có chung những quan điểm tương đồng về thế giới bên kia. Nhưng theo mọi bằng chứng, sự thâm nhập của yếu tố Achaea là một quá trình ngấm ngầm kéo dài hơn là một cuộc xâm lược đột ngột. Khởi nguồn của nó được phỏng đoán là lùi sâu về thiên niên kỷ thứ ba trước Công nguyên. Do đó, đã có đủ thời gian, thậm chí ngay cả trước thời kỳ Mycenaea muộn hay thời kỳ Homer, để những khác biệt về tình cảm tôn giáo giữa hai chủng tộc phai nhạt hoặc biến mất, trong khi hai nghi lễ hỏa táng và địa táng, với tính chất thâm căn cố đế của mọi phong tục, vẫn tồn tại.
Như vậy, không có trở ngại ban đầu nào đối với quan điểm cho rằng trong bất kỳ thời kỳ nào được biết đến của chúng ta, những người thực hiện hỏa táng và những người thực hiện địa táng đều được truyền cảm hứng bởi cùng những ý tưởng tôn giáo. Đồng thời, tôi cũng được giải tỏa khỏi sự cần thiết phải chống lại cả lý thuyết cũ cho rằng hỏa táng được người Hy Lạp áp dụng như một sự thay thế thuận tiện cho địa táng trong một giai đoạn di cư hoặc đời sống du mục nào đó, lẫn lý thuyết gần đây hơn của Rohde cho rằng nỗi sợ hãi trước các linh hồn người chết – vốn được tin là vảng vất quanh những ngôi mộ nơi thể xác họ được chôn cất – đã khiến con người áp dụng hỏa táng như một phương tiện để tiêu hủy thể xác và qua đó rứt bỏ được linh hồn phiền toái. Cả hai lý thuyết đó đều thất bại, ngoài một số khiếm khuyết nội tại, bởi vì chúng là những nỗ lực nhằm giải thích một sự việc chưa bao giờ xảy ra – sự thay thế giả định của hỏa táng cho địa táng giữa thời kỳ Mycenaea và thời kỳ Homer. Giáo sư Ridgeway đã chỉ ra rằng nghi lễ thời Mycenaea là nghi lễ của người Pelasgia; còn nghi lễ thời Homer là của người Achaea. Chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên khi thông tin sớm nhất của chúng ta về hai nghi lễ này lại được rút ra từ các thời kỳ lịch sử khác nhau; sự khác biệt thực sự giữa hai bên là sự khác biệt về chủng tộc. Từ thời đại người Achaea lần đầu đặt chân đến Hy Lạp cho đến kỷ nguyên Cơ đốc giáo, cả hỏa táng và địa táng đều được thực hiện liên tục.
Bằng chứng xác thực cho quan điểm của tôi – rằng hai nghi lễ này chẳng qua chỉ là những di sản chủng tộc, vốn đã không còn sự khác biệt về ý nghĩa tôn giáo kể từ những thời kỳ cổ xưa nhất mà chúng ta biết – không chỉ được tìm thấy ở thực tế rằng trong thời kỳ lịch sử hoặc thậm chí sớm hơn, cả hai nghi lễ đã được sử dụng song song bởi người dân của cùng một thành phố trong cùng một nghĩa trang, mà còn ở một xu hướng từ thời kỳ đầu nhằm dung hợp hai nghi lễ thành một và trao cho cùng một thi thể sự xử lý kép bao gồm cả hỏa táng và địa táng kết hợp. Bởi vì rõ ràng là điều kiện duy nhất để hai nghi lễ như vậy có thể được hợp nhất chính là việc sự xung đột về ý nghĩa tôn giáo giữa chúng đã không còn tồn tại.
Thật khó để xác định sự dung hợp này bắt đầu từ khi nào; nhưng ít nhất cũng đáng để lưu ý đến một điểm có lẽ dễ bị bỏ qua, đó là nghi lễ tang lễ thời Homer đã bao gồm cả địa táng. Hỏa táng chắc chắn là phần chính của nghi lễ, là phương tiện thực tế dùng để tiêu rã thi thể; nhưng tang lễ vẫn chưa hoàn tất cho đến khi tro cốt được thu gom lại và đem đi chôn cất. Đây là một hành động địa táng mang tính nghi thức chẳng khác nào việc chôn cất một hình nhân mặc quần áo của người chết.
Hơn thế nữa, hoàn toàn có khả năng là nghi lễ tang lễ thời Mycenaea đôi khi cũng bao gồm cả hành động hỏa táng mang tính nghi thức. Việc điểm lại các bằng chứng khảo cổ về một số việc sử dụng lửa trong các ngôi mộ Mycenaea ở đây là không cần thiết; sẽ là đủ nếu trích dẫn từ bản tóm tắt do Rohde đưa ra làm cơ sở cho lý thuyết của ông – một lý thuyết mà tôi hoàn toàn không đồng tình – rằng một “sự sùng bái linh hồn” mạnh mẽ, bao gồm cả các lễ vật xoa dịu người chết, là một đặc điểm tôn giáo của thời đại đó. “Những dấu vết của khói, tàn tích của tro và than hồng, chỉ ra một thực tế là các thi thể được đặt ngay tại nơi người ta đốt những lễ vật cúng tế cho người chết vốn đã được thực hiện trước đó trong lăng mộ... Trên mặt đất, hoặc đôi khi trên một lớp nền bằng đá lửa được chuẩn bị đặc biệt, các lễ vật được đem đốt, và rồi, khi lửa đã tắt, các thi thể được đặt lên trên rồi phủ cát, vôi và đá lên trên cùng.”
Ngày nay, thực tế là trong các ngôi mộ Mycenaea, các lễ vật thực sự đã bị lửa thiêu rụi trong khi thi thể vẫn được để mặc cho quá trình phân hủy tự nhiên là điều không thể chối cãi; nhưng nếu ngọn lửa được sử dụng không có mục đích nào khác, thì tập quán của thời đại Mycenaea sẽ trở thành một ngoại lệ độc nhất vô nhị. Phong tục của tất cả các thời kỳ sau đó là đối xử với thi thể và lễ vật một cách giống nhau, thiêu rụi cả hai hoặc chôn cất cả hai. Điều này được ngụ ý trong văn học cổ đại và được xác nhận bởi các cuộc khai quật hiện đại; vì các bình đựng tro cốt hiếm khi chứa bất kỳ tàn tích nào của lễ vật, có nghĩa là lễ vật đã được thiêu trên giàn hỏa cùng với thi thể, nhưng chỉ có xương là được thu gom và cất giữ trong bình; trong khi ở các ngôi mộ, lễ vật lại luôn được tìm thấy chôn cùng thi thể và vẫn còn nguyên vẹn. Hơn nữa, phong tục thiêu cả thi thể lẫn lễ vật chính là phong tục cổ xưa của người Achaea, như được Homer mô tả trong đám tang của Patroclus; và có vẻ hợp lý khi cho rằng phong tục chôn cất cả thi thể lẫn lễ vật còn nguyên vẹn vốn là phong tục gốc của người Pelasgia. Vậy việc sử dụng lửa trong những ngôi mộ Mycenaea này có phải là bước đầu tiên trong quá trình dung hợp các nghi lễ của người Achaea và người Pelasgia hay không?
Thêm vào đó, người ta quan sát thấy thi thể nằm ngay trên những lễ vật đã bị đốt cháy. Ý nghĩa của sự chồng chất này là gì? Theo Rohde, ngọn lửa thiêu rụi lễ vật đã được để cho tự tắt, và sau đó các thi thể được đặt lên lớp tro lạnh ngắt ấy. Nhưng hiển nhiên điều này không thể chứng minh được. Tất cả những gì chúng ta biết là ngọn lửa đã không thiêu rụi thi thể. Không ai có thể khẳng định rằng chúng hoàn toàn không bị chạm đến bởi ngọn lửa hay than hồng và mùi của lửa không hề vương vấn qua chúng. Vậy hành động đặt thi thể lên trên các lễ vật đã hoặc đang cháy có phải là một hành động hỏa táng mang tính nghi thức không?
Tôi không thể trả lời những câu hỏi này; nhưng có một điều rõ ràng. Hoặc là sự dung hợp giữa các nghi lễ của người Achaea và người Pelasgia đã bắt đầu, hoặc là ngay trong hình thái nguyên thủy của chúng, cả hai đều bao gồm những tập quán giúp cho việc dung hợp sau đó trở nên vô cùng dễ dàng.
Khi chúng ta bước sang thời kỳ Dipylon, mọi nghi ngờ không còn nữa. Hỏa táng và địa táng được thực hiện cả riêng lẻ song song lẫn kết hợp với nhau như một nghi lễ duy nhất. Bằng chứng mà tôi chủ yếu dựa vào được rút ra từ hai chuỗi khai quật, đó là các cuộc khai quật của Philios tại Eleusis và của Brückner cùng với Pernice tại nghĩa trang Dipylon ở Athens.
Dân số bản địa của xứ Attica dĩ nhiên vẫn phần lớn gắn bó với nghi lễ địa táng Pelasgia cũ. Thế nhưng tại Eleusis, ngay cả theo lời Philios – người một cách kỳ lạ lại đánh giá thấp tầm quan trọng của những phát hiện do chính mình thực hiện – cũng có một trường hợp hỏa táng chắc chắn; và trong nghĩa trang Dipylon, người ta cũng tìm thấy một chiếc bình đựng tro cốt có thể xác định niên đại với độ chắc chắn tương đương. Một hoặc hai trường hợp có khả năng xảy ra khác cũng đã được những người khác ghi nhận. Rõ ràng là ngay từ thế kỷ thứ tám trước Công nguyên, hỏa táng đôi khi đã được sử dụng, song song với địa táng, như một phương tiện hiệu quả để tiêu rã thi thể.
Và có những bằng chứng chắc chắn không kém cho thấy hai nghi lễ này cũng được sử dụng kết hợp với nhau, theo nghĩa là một hành động địa táng mang tính nghi thức đi sau hoạt động hỏa táng thực tế, hoặc một hành động hỏa táng mang tính nghi thức đi kèm với địa táng thực tế. Một ví dụ nổi bật về trường hợp đầu tiên là trường hợp hỏa táng thực tế duy nhất được ghi nhận bởi Brückner và Pernice. Một chiếc bình bằng đồng chứa xương đã nung thành vôi của một cậu bé hoặc cô bé đã được đặt không phải vào một cái hố đơn thuần được đào vừa vặn cho nó, mà nằm trong một ngôi mộ được chuẩn bị đầy đủ như thể để đón nhận một thây ma. Kích thước của ngôi mộ đạt mức bình thường; trong đó, cùng với chiếc bình, người ta còn đặt các lễ vật có tính chất thông thường – một vò hai quai (amphora), hai chiếc hộp, một cái bát và một cái bình rót; và phía trên ngôi mộ, trong một không gian được chuẩn bị sẵn rộng hơn đáng kể so với ngôi mộ thực tế, là sự hiện diện của một trong những chiếc bình Dipylon lớn. Về mọi mặt, việc mai táng đã được tiến hành như thể đó là việc chôn cất một thi thể chưa bị thiêu. Người ta đã nỗ lực kết hợp hai nghi lễ hỏa táng và địa táng sao cho không nghi lễ nào tỏ ra kém quan trọng hơn nghi lễ kia.
Các trường hợp thuộc loại thứ hai, trong đó hỏa táng mang tính nghi thức đi kèm với địa táng thực tế, được cung cấp bởi các cuộc khai quật của Philios tại Eleusis. Khi nói về những chiếc vò đất sét lớn thường đóng vai trò là quan tài cho trẻ em, ông cho biết: “Trong khi xương cốt chứa bên trong những chiếc bình này không bị thiêu, thì ở khắp xung quanh những chiếc bình trong lòng đất, dấu vết của lửa cháy xuất hiện vô cùng phong phú và đa dạng.” Giờ đây, những dấu vết của lửa này không thể bắt nguồn từ việc đốt các lễ vật được mang đến sau khi mai táng; bởi vì phong tục đó hiển nhiên sẽ tạo ra một tầng đất bị cháy nằm phía trên ngôi mộ. Nhưng ở đây, các dấu vết lại nằm “ở khắp xung quanh các chiếc bình, nằm trong lòng đất.” Dường như ở đây chúng ta có một tập quán song song với thời đại Mycenaea. Thi thể được chôn cất và đạt được sự phân rã thực tế thông qua quá trình mục nát tự nhiên; nhưng trước khi chôn cất, một ngọn lửa đã được nhóm lên trong huyệt mộ, và giữa những ngọn lửa hoặc trên những tàn than hồng, thi thể nằm trong vò quan tài ấy đã được đặt xuống rồi phủ đất lên trên. Liệu tại Eleusis, cũng giống như tại Mycenae, các lễ vật tang lễ có bị thiêu rụi trong ngọn lửa đó hay không, chúng ta không thể biết chắc chắn; nhưng vì việc tìm thấy bất kỳ lễ vật nào đi cùng với thi thể trẻ em trong những chiếc vò này vốn là một điều cực kỳ hiếm hoi, nên thật hợp lý khi cho rằng một vài lễ vật ít ỏi đó – ít ỏi bởi vì mọi hoàn cảnh của những đám tang này có vẻ đều vô cùng khiêm tốn – đã bị thiêu rụi hệt như những lễ vật hoành tráng hơn ở Mycenae. Dù thế nào đi nữa, những trường hợp này cũng hé lộ một ý định gắn kết lửa với thi thể được chôn cất, bổ sung vào nghi lễ mai táng một hành động hỏa táng mang tính nghi thức.
Xu hướng dung hợp hai nghi lễ tang lễ giờ đây đã được lần theo qua thời kỳ tiền sử; và chính trong thời kỳ lịch sử, sự dung hợp này tỏ ra phổ biến nhất và hoàn thiện nhất. Tôi sẽ lấy làm ví dụ điển hình một số ngôi mộ, có niên đại từ thế kỷ thứ sáu đến thế kỷ thứ tư, được khai lộ bởi hai nhà khảo cổ học người Đức – những người có tường thuật đã được tôi dựa vào phần lớn đối với thời kỳ Dipylon. Những ngôi mộ này có số lượng hơi dưới hai trăm. Trong phần phân loại của chúng xuất hiện một chi tiết quan trọng – bốn mươi lăm ngôi mộ mà trong đó thi thể đã thực sự bị thiêu cháy. Nói cách khác, xấp xỉ một phần tư số trường hợp được quan sát, các nghi lễ hỏa táng và địa táng đã được kết hợp với nhau, và điều đó được thực hiện theo cách mà cả hai yếu tố, lửa và đất, đều có vẻ cùng nhau chia sẻ công việc phân rã. Không phương pháp nào ở đây được tôn lên thành có hiệu lực duy nhất, cũng chẳng có phương pháp nào bị hạ thấp xuống thành một nghi thức thuần túy. Sự cân bằng về tầm quan trọng đã được điều chỉnh, và hai hành động tạo nên nghi lễ tang lễ phức hợp được công nhận là ngang bằng nhau. Thậm chí, không còn sự tồn tại của hai hành động riêng biệt nào nữa; chúng đã hòa quyện làm một; thời điểm và hành động đặt thi thể xuống lòng đất đồng thời cũng là thời điểm và hành động đặt thi thể lên giàn hỏa táng.
Sau khi đã lần theo lịch sử của phong tục tang lễ Hy Lạp đến điểm này, giờ đây tôi hoàn toàn có thể tự tin khẳng định rằng: thứ nhất, giả thiết làm việc của tôi – việc thực hiện hỏa táng mang tính nghi thức như một đối trọng của địa táng mang tính nghi thức – là hoàn toàn có cơ sở nhờ vào lời giải thích đơn lẻ và nhất quán mà nó mang lại cho các hiện tượng mà tôi đã lưu ý (và tôi có thể bổ sung thêm rằng tôi sẽ có dịp giải thích các hiện tượng khác ở nửa sau của chương này theo cùng một cách như vậy); thứ hai, nếu lời giải thích đó được chấp nhận, tôi có thể khẳng định rằng điều kiện duy nhất để hai nghi lễ có thể được sử dụng vừa riêng lẻ như những lựa chọn thay thế vừa kết hợp cùng nhau như một nghi lễ phức hợp chính là việc mục đích tôn giáo nằm bên dưới cả hai hoàn toàn là một và giống nhau. Và mục đích này, nếu những câu chuyện về Patroclus, Elpenor, Polynices, và Polydorus có bất kỳ ý nghĩa nào, thì đó chính là trao cho người chết thứ mà họ khao khát nhất: một sự tiêu rã nhanh chóng.
Bằng chứng cho sự đồng nhất về mục đích này, tôi hy vọng, đã đủ rồi; nhưng sự củng cố thêm có thể được tìm thấy, nếu cần thiết, trong các chi tiết nhỏ hơn của tập quán tang lễ. Tôi tin rằng có một nguyên tắc được thừa nhận trong phê bình văn bản rằng, khi đánh giá mối quan hệ giữa hai bản thảo của một tác giả nào đó, sự trùng khớp trong các chi tiết nhỏ mới là tiêu chuẩn thực xác thực cho nguồn gốc chung hoặc mối quan hệ họ hàng gần gũi của chúng, và chứng cứ đó không thể bị lấn át bởi một vài sự khác biệt nổi bật. Cũng vậy, theo tôi, khi đánh giá mối quan hệ tương hỗ giữa hai nghi lễ, sự trùng khớp của tất cả các hoàn cảnh phụ liên quan đến chúng mang ý nghĩa lớn lao hơn một sự tương phản lớn lao và hiển hiện giữa chúng. Hãy thừa nhận rằng một sự tương phản như vậy thực sự tồn tại giữa hỏa táng và địa táng khi được sử dụng riêng biệt. Tuy nhiên, theo tôi, đó sẽ là một phán xét vội vã và sai lầm nếu ngay lập tức suy ra từ đó rằng hai nghi lễ được định hình bởi những ý tưởng tôn giáo khác nhau. Những sự trùng khớp đến từng chi tiết nhỏ mới là điều đòi hỏi phải được xem xét. Nếu mọi thứ diễn ra trước, đi kèm và theo sau việc xử lý thực sự thi thể, dù là bằng cách thiêu hay bằng cách chôn, đều thể hiện sự đồng nhất về sơ đồ và phạm vi; nếu việc tắm rửa và xức dầu, việc mặc áo và đội vòng hoa được thực hiện với cùng một sự chăm sóc ân cần cho dù thi thể được định sẵn cho lòng đất lạnh lẽo, chậm chạp hay cho ngọn lửa bùng cháy dữ dội; nếu từ căn phòng tang lễ, nơi thi thể nằm quàn và thân nhân – quây quần theo thứ tự thân thiết xung quanh nó – lần lượt trả xong món nợ thương khóc, cùng một đám rước tang buồn bã hộ tống người chết tiến về giàn hỏa hay nấm mồ; nếu cùng những lễ vật – sự chuẩn bị giống hệt nhau dường như cho sự thoải mái của thể xác – được hòa lẫn dưới dạng tro cốt vào tro cốt của người chết hoặc được gửi gắm nguyên vẹn cùng thi thể vẫn còn nguyên vẹn cho ý muốn và sự gìn giữ của đất mẹ; thì bất kể thân nhân đã chọn phương tiện nào để thực hiện quá trình tiêu rã thực sự đối với phần thể xác còn lại, thái độ tôn giáo của họ đối với cái chết và quan niệm của họ về thế giới bên kia chắc chắn vẫn là một và bất biến.
Không gian hạn hẹp không cho phép tôi đi sâu vào bằng chứng về sự đồng nhất của tất cả những chi tiết này trong mọi thời kỳ của đời sống Hy Lạp. Tôi sẽ tự giới hạn mình trong hai minh họa. Minh họa đầu tiên là nghi thức quàn thi thể (prothesis) cùng với tiếng khóc than tang thương của người thân, chủ yếu là phụ nữ, quây quần xung quanh. Nơi khác tôi đã mô tả cảnh tượng này; ở đây tôi chỉ cần minh họa tính phổ biến của nó như một khúc dạo đầu cho cả hỏa táng lẫn địa táng, ở cả Hy Lạp cổ đại lẫn hiện đại, trong cả bầu không khí ngoại giáo lẫn Cơ đốc giáo. Trong thời kỳ Mycenaea, các thi thể người chết được trang hoàng lộng lẫy – có lẽ nhằm mục đích quàn xác; không thể khẳng định điều gì hơn thế về kỷ nguyên sớm nhất này. Nhưng vào thời kỳ Homer, như trong đám tang của Hector, phong tục này đã được nhìn thấy phát triển hoàn chỉnh. Đến thời kỳ Dipylon, cảnh tượng được Homer mô tả lại xuất hiện được khắc họa trên những chiếc bình lớn đóng vai trò là đài tưởng niệm trên các ngôi mộ. Muộn hơn một chút, hệ thống luật pháp của Solon lại nhắm vào những hành vi quá mức dẫn tới từ nghi thức khóc than tang thương. Kế tiếp, một nhà hùng biện ở Athens lên tiếng đả kích những bất công mà ông phải gánh chịu từ ba mươi bạo chúa – những kẻ, không thấy thỏa mãn với việc hành quyết anh trai ông, đã từ chối cho phép sử dụng bất kỳ ngôi nhà nào trong số ba ngôi nhà thuộc quyền sở hữu của gia đình và buộc họ phải quàn thi thể trong một cái chòi thuê mướn. Lại một lần nữa, chúng ta bắt gặp sự chế giễu của Lucian nhắm vào khung cảnh bất hòa của nỗi đau khổ vô ích. Sánh bước một cách kỳ lạ cùng ông là Thánh Chrysostom, người đang quở trách các Kitô hữu vì sự đau buồn quá mức của họ và đe dọa rút phép thông công nếu họ tiếp tục thuê phụ nữ ngoại giáo đóng vai những người khóc mướn chuyên nghiệp. Thế kỷ trôi qua mà không làm suy giảm phong tục ấy, và người Venice trong thời gian chiếm đóng quần đảo Ionian đã ban hành các bộ luật mang tinh thần của những điều luật do Solon soạn thảo hơn hai nghìn năm trước đó. Về phong tục này, người ta hoàn toàn có thể nói rằng, “et vetabitur semper et retinebitur,” bởi vì nó vẫn duy trì sức hút và sức sống lâu đời của mình, đồng thời là khúc dạo đầu tất yếu trong đám tang của mọi người nông dân ngày nay.
Minh họa thứ hai của tôi là một tình tiết tầm thường hơn rất nhiều, nhưng không vì thế mà kém phần ý nghĩa – việc sử dụng tán lá ô-liu làm giường cho người chết, dù là trên chiếc cáng đưa anh ta đến nơi an nghỉ cuối cùng hay trên giàn hỏa táng. Lý do lựa chọn lá ô-liu không liên quan đến chúng ta; có thể đã có, như Rohde gợi ý, một ý tưởng về sự thanh tẩy gắn liền với nó; nhưng tôi chỉ cần minh họa sự phổ biến rộng rãi của nó. Giữa tro cốt của những giàn hỏa táng nhỏ, nơi người chết được đặt nằm trong các lăng mộ Mycenaea, người ta đã nhận ra những chiếc lá ô-liu bị cháy thành than. Lycurgus khi cắt giảm các nghi thức tang lễ của Sparta đã ra lệnh cho đồng bào mình quấn thi thể người chết bằng chiếc áo choàng quân đội màu đỏ (vốn phù hợp với một giống nòi chiến binh) và trong những chiếc lá ô-liu. Những người theo trường phái Pythagoras – những người phản đối hỏa táng – đã đặt người chết nằm nghỉ trên một chiếc giường kết bằng lá hái từ cây sim, cây dương và cây ô-liu. Một bộ luật Attic cấm chặt hạ một số cây ô-liu nhất định với hình phạt tiền là một trăm drachmae cho mỗi cây, nhưng lại có một điều khoản miễn trừ trong những trường hợp gỗ ô-liu cần thiết cho các đám tang. Sự cho phép này chỉ ra một việc sử dụng đặc biệt gỗ ô-liu làm nhiên liệu cho giàn hỏa táng, bởi vì nếu chỉ cần một vài cành hoặc nhánh nhỏ để trang hoàng cáng tang, thì sẽ chẳng có vấn đề gì phải chặt hạ cả những cây lớn. Do đó, có lẽ Sophocles cũng nghĩ đến phong tục này khi vị sứ giả – người mang tin tức về đám tang muộn màng của Polynices – được ông mô tả là đã chỉ định “những chồi ô-liu mới hái” làm vật liệu cho giàn hỏa táng. Hơn nữa, trong một loạt các cỗ quan tài đá (sarcophagi) được Fauvel tìm thấy bên ngoài cổng Athens trên con đường dẫn tới Acharnae, người ta quan sát thấy bộ xương nằm “trên một lớp lá ô-liu dày.” Vào thế kỷ thứ hai Công nguyên, phong tục đặt cành ô-liu lên cáng tang vẫn tiếp tục thịnh hành; và ngày nay, cây ô-liu vẫn thường nổi bật trong các đám tang của người nông dân, hoặc là trong vòng hoa quấn quanh đầu người chết hoặc trong việc trang hoàng cáng tang.
Như vậy, sự đồng nhất về chi tiết trong các đám tang, cho dù nghi lễ chính là hỏa táng hay địa táng, cũng như xu hướng dung hợp hai nghi thức này thành một nghi lễ duy nhất, đã chứng minh rằng kể từ những thời kỳ cổ xưa nhất được chúng ta biết đến, mục đích tôn giáo của chúng hoàn toàn đồng nhất – đó là mang lại cho người chết quá trình tiêu rã thể xác nhanh chóng mà họ hằng mong ước.
Nhưng bất chấp sự thống nhất về mục đích này, nghi lễ này hay nghi lễ kia chắc chắn vẫn tiếp tục chiếm ưu thế trong các khu vực cụ thể do sức mạnh của tập quán. Tại Attica, có lẽ mãi cho đến thế kỷ thứ sáu hoặc thậm chí thế kỷ thứ năm, nghi lễ Pelasgia mới hoàn toàn mất đi sự hậu thuẫn từ truyền thống của tổ tiên. Nhưng từ thời điểm đó trở đi, hai phương pháp dường như được đánh giá đơn thuần như những phương pháp, và sự đánh giá về ưu nhược điểm tương ứng của chúng ít bị ảnh hưởng bởi những khác biệt chủng tộc cũ. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là các phương pháp được đánh giá hoàn toàn dựa trên giá trị tôn giáo của chúng – tức là khả năng thích ứng với mục đích tôn giáo duy nhất đó. Chi phí và sự tiện lợi nhất thiết là các yếu tố quyết định sự lựa chọn giữa chúng. Do đó, vấn đề chi phí hẳn đã thường xuyên quyết định các tầng lớp nghèo hơn chọn địa táng; và tại phần nghĩa trang Dipylon mà tôi đã đề cập trước đó, người ta thực sự phát hiện ra rằng, trong số những ngôi mộ không tìm thấy bằng chứng hỏa táng nào, có hơn một trăm ngôi mộ thuộc loại nghèo nàn, chỉ là những cái hố đơn thuần trong lòng đất, hoặc tốt nhất là được xây tường gạch thô ở các mặt, trong khi chỉ có mười ba ngôi mộ mang phong cách tốn kém – những lăng mộ được xây bằng các phiến đá, hoặc quan tài đá đúng nghĩa. Tương tự như vậy, các cân nhắc thực tế khác hẳn cũng thường làm nghiêng cán cân về phía nghi lễ này hay nghi lễ kia. Những người lính ngã xuống tại Marathon đơn giản là được chôn cất, có lẽ bởi vì việc đào một chiến hào và đắp một gò mộ ngay giữa đồng bằng là một nhiệm vụ khả thi hơn nhiều so với việc thu gom hàng đống củi từ các sườn đồi xung quanh; nhưng các nạn nhân của dịch bệnh tại Athens lại được hỏa táng vì những lý do hoàn toàn xác đáng.
Tuy nhiên, ở những nơi không có các nguyên nhân ngoại cảnh này tác động, vẫn có những dấu hiệu cho thấy hỏa táng được đánh giá có phần cao hơn địa táng. Truyện kể rằng thi thể của Solon đã được đem đi hỏa táng, dường như như một hình thức tôn vinh, và tro cốt của ông được rải khắp hòn đảo mà ông từng giành lại cho Athens. Và chúng ta cũng nghe nói về việc hỏa táng được dành cho, rõ ràng lại như một nghi lễ vinh danh hơn, các nhân vật vĩ đại khác như Dionysius, bạo chúa nổi tiếng của Syracuse, và Timoleon, người giải phóng thành phố đó. Nhưng thuyết phục hơn cả là bằng chứng từ văn học, nơi không chỉ hành động bản thân nó được gọi tên, mà một chỉ dấu rõ ràng về cảm xúc của những người thực hiện cũng được hé lộ. Theo Aeschylus, thi thể của Agamemnon, dẫu là một vị vua đi chăng nữa, cũng chỉ bị vợ hắn ta – kẻ vướng tội mưu sát chồng – đem giấu nhẹm vào lòng đất; ngay cả trong cái chết, bà ta cũng chẳng tỏ chút thương xót, chẳng dành chút tôn vinh nào cho ông. Nhưng trong tác phẩm của Sophocles, Heracles đang lúc hấp hối lại được đặt lên một giàn hỏa táng, và Polynices đã khuất – kẻ mà Antigone buộc phải ngậm ngùi chôn cất theo hình thức sơ sài nhất – cuối cùng lại nhận được từ Creon, khi ông ta hối hận đã quá muộn, trọn vẹn nghi lễ hỏa táng. Giọng điệu mà Herodotus từng dùng khi nói về hai nghi lễ cũng mang ý nghĩa sâu sắc: “nghi lễ tang lễ của những người Thracian khá giả,” ông nói, “diễn ra như sau: thi thể được quàn trong ba ngày và họ sát sinh đủ mọi loại tế vật rồi cùng nhau yến tiệc linh đình, một khi nghi thức khóc than mở đầu đã hoàn tất; và rồi họ xử lý thi thể bằng cách hỏa táng hoặc đơn giản là chôn vùi” – ἔπειτα δὲ θάπτουσι κατακαύσαντες, ἢ ἄλλως γῇ κρύψαντες. Từ “đơn giản là” đã vạch trần rõ ràng cảm xúc chính của Herodotus rằng những người khá giả hẳn phải được kỳ vọng là sẽ có được lợi thế của hỏa táng.
Trong các thế kỷ tiếp theo, sự ưu ái dành cho hỏa táng dường như càng trở nên rõ rệt hơn; bởi vì mặc dù cả hai nghi lễ vẫn tiếp tục được sử dụng, cả riêng lẻ lẫn kết hợp, Lucian vẫn có thể gọi hỏa táng là nghi lễ mang đậm bản sắc Hellen. Nhưng nổi bật hơn cả là cảm xúc ủng hộ hỏa táng ở những người bảo vệ tôn giáo Hy Lạp cổ đại khi họ lần đầu tiên phải đối mặt với cuộc xâm lược của Cơ đốc giáo. “Những kẻ ngoại đạo phần lớn,” Bingham cho biết, “thiêu thể xác của người chết trên giàn hỏa táng, rồi gom nhung xương và tro cốt đặt vào một chiếc bình ở trên mặt đất; nhưng các Kitô hữu căm ghét cách chôn cất này; và do đó không bao giờ sử dụng nó, mà đưa toàn bộ thi thể xuống lòng đất.” Cuộc xung đột về vấn đề này diễn ra vô cùng gay gắt. Những kẻ ngoại đạo chế nhạo các Kitô hữu vì sợ rằng nếu thể xác của họ bị thiêu thành tro bụi bằng hỏa táng, họ sẽ bị tước đi khả năng sống lại như họ vẫn luôn khoác lác, và như một đòn thù cuối cùng giáng vào các thánh tử đạo Cơ đốc, đôi khi họ thiêu hủy thi thể rồi rải tro cốt bay theo gió. Để trả đũa, các Kitô hữu lên án nghi lễ hỏa táng như một hành động tàn nhẫn đối với thể xác người chết, đồng thời chế nhạo những kẻ ngoại đạo vì tội vừa “thiêu rụi người chết của họ theo cách dã man nhất lại vừa yến tiệc mừng họ theo cách phàm ăn nhất, lợi dụng ngọn lửa vừa để phục vụ vừa để hãm hại họ” – phục vụ họ ở chỗ nấu một bữa ăn tang lễ, hãm hại họ ở chỗ thiêu rụi họ thành tro bụi. Hai nghi lễ lúc này đang xung đột tiếp tục được duy trì cho đến cuối thế kỷ thứ tư Công nguyên; bởi vì người ta vẫn viện dẫn đến chúng trong các bộ luật của Theodosius. Nhưng hỏa táng hẳn đã phải trên đà suy giảm; vì vào đầu thế kỷ thứ năm, Macrobius cho biết vào thời đại của ông, tập quán đó đã rơi vào tình trạng hoàn toàn mai một, và tất cả những gì ông biết về nó đều là qua sách vở. “Rất có thể,” Bingham nói, “tập quán ngoại đạo đã thay đổi dần dần kể từ thời hoàng đế Commodus; vì chính bản thân Commodus và nhiều bạn bè của ông đã được chôn cất bằng địa táng chứ không phải bằng hỏa táng... và kể từ thời điểm đó, tập quán hỏa táng có lẽ đã suy giảm cho đến cuối cùng dưới thời các hoàng đế Cơ đốc giáo, dù không có bộ luật nào cấm đoán nó, tập quán trái ngược đã hoàn toàn chiếm ưu thế, và điều này lụi tàn dần vào quên lãng.” Nếu quan điểm này là chính xác, điều đó có nghĩa là sự ưu ái cũ đối với hỏa táng được thể hiện bởi những tín đồ ngoại đạo chỉ bị kích động lên đến mức độ mãnh liệt tạm thời bởi tinh thần đối kháng chống lại Cơ đốc giáo, và họ đã nhanh chóng quay trở lại với lối suy nghĩ cũ, công nhận địa táng là một phương pháp thay thế, dù có phần kém ưu việt hơn một chút so với hỏa táng. Khi sự cay đắng của cuộc chiến tranh tôn giáo qua đi, và những kẻ ngoại đạo cùng các Kitô hữu chung sống hòa bình hơn với nhau, nhóm người trước có lẽ đã dễ dàng nối lại tập quán chôn cất – thứ xét cho cùng vốn là di sản của chính họ từ những thời kỳ mịt mờ xa xôi trước bình minh của Cơ đốc giáo.
Nhưng mặc dù Macrobius vào thế kỷ thứ năm nói rằng hỏa táng khi ấy đã không còn được sử dụng, ký ức về nó chắc chắn không thể phai nhạt nhanh chóng đến thế. Chỉ ít thế hệ sau đó, làn sóng dân số Slav thâm nhập vào Hy Lạp. Trong số những mê tín mà những kẻ xâm nhập này truyền bá có một điều liên quan đến những người chết hồi sinh. Như chúng ta đã thấy, bản thân người Hy Lạp cũng ôm ấp một niềm tin dị đoan mà những tưởng tượng hãi hùng của người Slav nhanh chóng bám rễ vào đó; dân gian bị ám ảnh bởi nỗi sợ hãi về loài vrykolakes. Vậy họ đã đối phó như thế nào với thi thể của những người chết bị tình nghi đó? Không phải bằng cách áp dụng tập quán xiên cọc qua người của người Slav, mà bằng sự hồi sinh của hỏa táng. Lợi thế mà nghi lễ đó sở hữu so với việc chôn cất đã được nhớ lại; nhờ sự trợ giúp của nó, quá trình tiêu rã của người chết có thể được thực hiện nhanh chóng và chắc chắn. Do đó, hỏa táng lại một lần nữa được đưa vào sử dụng như một phương tiện hướng tới cùng một mục đích như thời cổ đại – sự tiêu rã nhanh chóng của thể xác; nhưng động cơ thúc đẩy quá trình tiêu rã đó, dưới những điều kiện đã thay đổi, nay cũng thay đổi theo. Thay vì tình yêu thương, đó là sự sợ hãi; thay vì sự quan tâm đến phúc lợi của người chết, đó là sự lo lắng cho sự bảo vệ của người sống.
Tuy nhiên, dẫu là thế đi nữa, hành động thiêu hủy loài vrykolakes vẫn thuần túy là một biện pháp phòng thủ, chứ không phải tấn công. Đó không phải là một hành động thù hằn hay trả đũa, mà chỉ đơn thuần là một hành động tự vệ cần thiết, không gây ra tổn thương nào cho hồn ma hiện về mà chỉ đơn giản đặt vào giữa người sống và người chết một rào cản không thể vượt qua. Động cơ là sự sợ hãi; hoàn toàn không có hoặc có rất ít lòng căm thù hòa quyện trong đó. Điều này được làm sáng tỏ bởi thực tế rằng hỏa táng thậm chí đã từng được sử dụng ngay cả trong thời gian gần đây đối với một trường hợp hoàn toàn không dính líu gì đến niềm tin vào loài vrykolakes, và nơi động cơ duy nhất chính là mong muốn cổ xưa phục vụ lợi ích của người chết.
Sự kiện đó là cuộc sơ tán Parga vào năm 1819. Cư dân của thị trấn đó đã từng thách thức người Thổ Nhĩ Kỳ trong một thời gian dài, nhưng hồi kết đã cận kề, và chỉ nhờ sự can thiệp của người Anh, họ mới thoát khỏi những bàn tay tàn nhẫn của Ali Pasha. Người Anh đề nghị dành cho họ chốn dung thân tại Quần đảo Ionian và thay mặt họ giành được từ triều đình Porte một khoản tiền bồi thường đầy đủ cho những ngôi nhà và mảnh đất mà họ phải bỏ lại. Nhưng bất chấp các điều kiện đạt được, những người di cư chưa bao giờ tha thứ cho người Anh vì đã phản bội bán rẻ cho người Thổ Nhĩ Kỳ, theo lời họ nói, mái ấm mà họ đã bảo vệ một cách kiên cường và lâu dài. Cuộc sơ tán Parga này trở thành chủ đề của một số bài thơ ca được lưu giữ lại. Một trong số đó vang lên như sau:
‘Hỡi chú chim mang tin tức đen tối, ngươi từ vùng bờ biển đối diện kia bay đến,
Hãy nói cho ta biết ý nghĩa của những tiếng nức nở bi thương ấy, những lời than khóc ảo não,
Đang dâng lên vang dội từ những bức tường của Parga và làm rung chuyển cả núi đồi.
Phải chăng người Thổ Nhĩ Kỳ đã đè bẹp nơi này, phải chăng lửa và gươm đang tàn phá nó?’
‘Người Thổ Nhĩ Kỳ chưa hề đè bẹp nơi này, lửa và gươm cũng chẳng tàn phá nó;
Những con người của Parga đã bị bán đi, hệt như cách các ngươi bán dê và bò,
Và tất cả phải vội vã rời khỏi đó để sống cuộc đời lưu vong khốn khổ.
Họ phải bỏ lại tất cả, những mái nhà họ yêu dấu, lăng mộ của chính tổ tiên họ,
Điện thờ nơi họ từng cúi đầu quỳ gối, để cho những kẻ ngoại đạo giày xéo.
Phụ nữ đau đớn bứt tóc và đấm vào bộ ngực trần trắng ngần,
Những cụ già cất cao giọng run rẩy trong tiếng khóc than sầu thảm,
Các linh mục giữa dòng lệ tuôn rơi đang lột trần những ngôi nhà thờ nơi họ từng tôn sùng.
Ngươi có thấy ánh lóa của ngọn lửa đằng kia không? Tấm màn khói lơ lửng phía trên nó?
Ở đó người ta đang thiêu đốt những khúc xương người chết, xương cốt của những chiến binh dũng cảm,
Những kẻ từng khiến đại quân Thổ Nhĩ Kỳ khiếp sợ và thiêu rụi dinh thự của thủ lĩnh chúng.
Đằng kia, ta bảo ngươi, biết bao người con đang thiêu đốt xương của cha mình,
Kẻo dòng họ Liápid phát hiện ra chúng, kẻo người Thổ Nhĩ Kỳ giày xéo lên chúng.
Ngươi có nghe thấy tiếng ai oán muôn hình vạn trạng vang vọng khắp chốn rừng sâu không?
Ngươi có nghe thấy tiếng đấm ngực, tiếng khóc than sầu thảm đó không?
Ấy là vì giờ phút chia ly đã đến, chia cắt họ khỏi đất nước quê hương;
Họ hôn lên từng hòn đá của đất mẹ, họ ôm lấy bụi đất trong nỗi nựng nịu thiết tha.’
Sự kiện trong bài thơ ca này mà chúng ta quan tâm chính là việc bốc mộ và hỏa táng hài cốt của những chiến binh dũng cảm từng kiên cường bảo vệ sự tự do cho quê hương của họ; và gần như không còn nghi ngờ gì nữa khi sự kiện này thực sự mang tính lịch sử, bởi câu chuyện đã được xác nhận bởi một bài thơ ca thứ hai trong cùng một tuyển tập; nhưng dù sao đi nữa, tất cả những gì liên quan đến chúng ta ở đây chính là thực tế rằng động cơ cho một hành động như vậy đã được hiểu và đánh giá cao bởi các tác giả của hai bài thơ ca đó.
Giờ đây, để hiểu được động cơ này, cần phải ghi nhớ rằng phong tục chung của Giáo hội ở Hy Lạp là bốc mộ hài cốt của người chết sau khi thời hạn ba năm kể từ lúc chôn cất kết thúc, khi mà quá trình phân rã được kỳ vọng là đã hoàn tất. Do đó, những thân nhân mà người dân Parga quan tâm chính là những người vừa mới được chôn cất và chưa thể đạt được sự phân rã hoàn toàn. Họ sợ rằng người Thổ Nhĩ Kỳ sẽ quấy rối và báng bổ các ngôi mộ, qua đó cản trở tiến trình thông thường của sự mục nát tự nhiên; và do đó họ quyết định áp dụng phương pháp tiêu rã thay thế, dùng hỏa táng để hoàn thành một cách nhanh chóng và chắc chắn mục đích mà – nếu không có bạn bè tề tựu bên cạnh để bảo vệ các ngôi mộ khỏi sự nhiễu nhương của kẻ thù và ngoại đạo – sẽ không thể đảm bảo được nếu cứ để mặc người chết cho sự tác động chậm chạp của đất mẹ. Quyết định này qua đó hé lộ sự thừa nhận rõ ràng về tính ưu việt của hỏa táng so với địa táng như một phương tiện để hoàn tất sự tiêu rã cuối cùng của người chết; và rõ ràng không kém chính là động cơ đằng sau việc theo đuổi mục đích đó: đó không phải là nỗi sợ cho chính bản thân họ – thực tế người dân Parga đã chứng minh rằng họ xa lạ với cảm giác đó – mà đơn thuần là tình yêu thương và lòng kính trọng đối với những con người dũng cảm từng chiến đấu, và có lẽ đã ngã xuống, trong công cuộc bảo vệ tự do.
Vì thế, từ khi việc bốc mộ và hỏa táng người chết cấu thành trong trường hợp này một hành động yêu thương hướng về họ, thì hành động tương tự trong trường hợp những kẻ bị nghi ngờ là vrykolakes chắc chắn không bao giờ là một hành động thù địch. Thay vào đó, đó là một biện pháp mang lại lợi ích cho cả người sống lẫn người chết. Đối với người sống, nó mang lại sự miễn nhiễm trước các cuộc tấn công của loài vrykolakes, và điều này không còn nghi ngờ gì nữa chính là suy nghĩ thường trực nhất hoặc thậm chí duy nhất trong tâm trí những ai phải nhờ cậy đến nó; nhưng đối với người chết, nó cũng mang lại sự bình yên. Và quả thực tôi không thể không cho rằng đây chính là lý do tại sao người Hy Lạp, khi lần đầu tiên đối mặt với sự kinh hoàng của loài vrykolakes, lại chọn thiêu rụi chúng thay vì tuân theo tập quán xiên cọc của người Slav. Việc xiên cọc có thể mang lại sự an toàn cho người sống, nhưng nó lại hiện lên như một hành động tàn nhẫn và thù địch chống lại người chết. Hỏa táng, bằng cách tạo ra sự tiêu rã ngay lập tức và sự cắt đứt hệ quả giữa người chết với thế giới này, chắc chắn sẽ mang lại sự an toàn tương đương cho người sống, đồng thời lại là một hành động khoan dung và tử tế đối với người chết. Xét cho cùng, động cơ mới về sự kinh hoàng đi kèm với ảnh hưởng của người Slav chưa bao giờ loại trừ động cơ cũ về tình yêu thương – thứ đã truyền cảm hứng cho những người con của các chiến binh tại Parga cũng như vị thủ lĩnh của những chiến binh Homer tại đám tang của người đồng đội, và có lẽ sẽ, nếu cơ hội phát sinh, chứng minh rằng nó vẫn chưa hề tuyệt chủng. Hỏa táng, mặc dù thường được sử dụng trong thời gian gần đây chủ yếu như một biện pháp bảo vệ cho người sống, nhưng xuyên suốt vẫn luôn được cảm nhận như mang lại một ân huệ cho người chết, một ân huệ thậm chí còn chắc chắn và nhanh chóng hơn những gì địa táng có thể đảm bảo.
Lúc này, nếu cảm giác này thực sự tồn tại, và nếu từ thời cổ đại cũng tồn tại, như tôi đã chỉ ra là có khả năng xảy ra, một hệ thống kết hợp hỏa táng mang tính nghi thức với địa táng thực tế, thì người ta hoàn toàn có thể kỳ vọng một cách hợp lý rằng nhiều người dù nhận ra giá trị vượt trội của hỏa táng nhưng lại không có đủ phương tiện để thực hiện một nghi lễ tốn kém như vậy một cách trọn vẹn, sẽ tận dụng thực hành mang tính nghi thức ít tốn kém này. Tôi tin rằng đây chính là điều đã xảy ra, và trong điều này tôi sẽ tìm kiếm lời giải thích cho một phong tục – giống như tập quán hỏa táng thực sự – đã được truyền lại từ Hy Lạp Cổ đại sang Hy Lạp Hiện đại.
Trong các đám tang của Hy Lạp Cổ đại, đoàn rước đưa thi thể từ căn phòng nơi người chết nằm quàn đến giàn hỏa táng hoặc nấm mồ thường cầm theo những ngọn đuốc. Nơi nào hỏa táng được sử dụng, những ngọn đuốc này chắc chắn được dùng để châm lửa cho giàn hỏa; ngọn lửa được mang từ mái nhà của người chết ở thế giới này được sử dụng để thúc đẩy hành trình của anh ta sang thế giới kế tiếp. Nhưng khi địa táng được thực thi, điều gì đã xảy ra với những ngọn đuốc này? Phải chăng ngọn lửa được mang từ mái nhà của người chết không phục vụ mục đích nào cả? Hay những ngọn đuốc được ném thẳng xuống mồ cùng với anh ta? Chúng ta không thể biết được điều đó, bởi vì những ngọn đuốc rất mau chóng mục nát. Nhưng có một vật dụng thường được tìm thấy trong các ngôi mộ gợi ý đến sự gắn kết của lửa với thi thể được chôn cất. Vật dụng phổ biến đó chính là một chiếc đèn dầu. Lại một lần nữa, ở đây chúng ta không thể biết được liệu chiếc đèn dầu đó có được thắp sáng khi nó được đặt vào trong mộ hay không. Một số chiếc được khai quật chắc chắn đã qua sử dụng, bởi vì chúng mang những dấu vết của ngọn lửa; nhưng tất nhiên chúng hoàn toàn có thể đã được sử dụng trong sinh hoạt hằng ngày trước khi được dâng hiến cho sự phục vụ người chết. Tuy nhiên, một vài sự thật được biết đến ít nhất cũng sẽ phù hợp với giả thiết cho rằng đoàn rước tiễn đưa người chết cũng mang theo ngọn lửa từ nhà anh ta đến mộ, và hoặc là bản thân những ngọn đuốc hoặc một chiếc đèn được thắp sáng từ chúng đã được đặt vào trong mộ bên cạnh thi thể. Nếu quan điểm đó là chính xác, thì một điều đáng chú ý nữa là hầu hết các loại đèn được tìm thấy đều có giá trị nội tại không cao và có niên đại muộn. Giờ đây, thực tế là chúng hầu hết đều vô giá trị ngụ ý rằng chúng thường được dâng hiến bởi những người nghèo, hoặc, nếu các vật dụng khác trong mộ có giá trị, thì chiếc đèn không được mang đến như một lễ vật vì giá trị hay vẻ đẹp nội tại của nó, mà vì một mục đích thiết thực nào đó; trong khi thực tế rằng chúng chủ yếu có niên đại muộn lại có nghĩa là tập quán đặt chúng vào trong ngôi mộ đã gia tăng tần suất trong khoảng thời gian bắt đầu từ thế kỷ thứ V trước Công nguyên – tức là trong khoảng thời gian mà chúng ta đã lưu ý về sự gia tăng ưu ái dành cho hỏa táng. Hơn nữa, sự gia tăng về tần suất của những chiếc đèn dầu khiến cho việc xem chúng là một phần không thể thiếu trong vật dụng thông thường của một ngôi mộ trở nên khó xảy ra; bởi vì những chiếc bình lekythi và các loại bình lọ khác vốn là những lễ vật thông thường dành cho người chết từ thế kỷ thứ V đã mang một tính chất quy ước. Do đó, bất kỳ sự khởi đầu mới nào sau thế kỷ đó, hoặc bất kỳ sự gia tăng nào về tần suất của một vật dụng cụ thể nào đó trong số các hiện vật trong mộ, ắt hẳn phải là dấu hiệu của một cảm nhận mới mẻ hoặc mạnh mẽ hơn đối với người chết. Giờ đây, tất cả những sự thật và suy luận này đều có thể hiểu được dựa trên một giả thiết duy nhất; và giả thiết đó là những chiếc đèn dầu tìm thấy trong các ngôi mộ đã được đặt ở đó trong trạng thái được thắp sáng và cháy rực, như mức tối thiểu mang tính nghi thức của nghi lễ hỏa táng – thứ mà sự ưu ái ngày càng gia tăng đối với nó thể hiện rõ ràng trong khoảng bốn thế kỷ trước kỷ nguyên Cơ đốc giáo.
Khi chúng ta bước sang những ngày đầu của Cơ đốc giáo, một chuỗi các sự thật tương tự đập vào mắt chúng ta. Giáo hội chính thức bác bỏ và lên án tập quán hỏa táng. Do đó, những người cải đạo buộc phải sử dụng địa táng; và nghĩa vụ này có lẽ ít gây ra sự phản kháng hơn, bởi vì việc chôn cất vốn chẳng phải điều gì mới mẻ đối với họ, mà từ lâu vẫn luôn là phương án thay thế, dù có phần kém ưu việt hơn một chút so với hỏa táng. Nhưng trong khi vẫn tuân thủ một cách vui vẻ luật lệ của Giáo hội đến mức độ đó, họ vẫn bám lấy nhiều chi tiết trong phong tục tang lễ cũ của mình – một số trong đó được Giáo hội cho phép, số khác bị cấm đoán. Tập quán quàn người chết trong những bộ xiêm y lộng lẫy và thượng hạng tiếp tục duy trì và hứng chịu những lời quở trách nghiêm khắc từ Thánh Jerome; sự khóc than quá mức và việc thuê mướn những người khóc mướn trong nghi thức quàn xác đã khiêu khích Thánh Chrysostom đưa ra những lời đe dọa rút phép thông công; thế nhưng cả hai tập quán này vẫn tiếp tục tồn tại. Dẫu vậy, tập quán cầm theo những ngọn đuốc trong đoàn rước tang vẫn được duy trì mà thậm chí không vấp phải một sự phản đối nào từ phía Giáo hội. Có lẽ người ta cảm thấy đó là một sự nhượng bộ vô hại đối với tập quán cổ xưa; có lẽ khi đó cũng như bây giờ, thịếu thẩm mỹ của giáo hội thậm chí còn ủng hộ việc tiêu thụ nhiều cây nến trong các nghi lễ tôn giáo. Dù thế nào đi nữa, thực tế vẫn rõ ràng rằng tập quán ngoại đạo là cầm ngọn đuốc trong đoàn rước cũng giữ một vị trí trong nghi lễ Cơ đốc giáo. Lý do khiến dân gian vẫn bám lấy tập quán cũ của họ là gì? Những ngọn đuốc không còn cần thiết để châm lửa cho giàn hỏa nữa; bởi vì hỏa táng thực tế đã bị Giáo hội bãi bỏ. Chúng cũng chẳng cần thiết để soi đường cho đoàn rước; bởi vì các đám tang theo đạo Cơ đốc, ngoại trừ trong những thời kỳ bách hại, đều diễn ra vào ban ngày. Lý do, tôi tin rằng, là nhờ vào những ngọn đuốc này mà ngọn lửa được mang đi cùng người chết từ nhà của anh ta đến nấm mồ, và ở đó, một hành động mang tính nghi thức, một dáng vẻ của hỏa táng, đã được kết hợp với nghi lễ địa táng. Và có một số chỉ dấu cho thấy ngọn lửa được mang đến bên nấm mồ thực sự được gắn kết theo một cách nào đó với thi thể người chết. Trong một luận bàn “về những kẻ đang ngủ,” từng được coi là tác phẩm của Thánh Athanasius, có một khuyến nghị là nên đốt một hỗn hợp dầu và sáp tại ngôi mộ của người chết; và mặc dù tập quán được tiêm nhiễm này được ngụy trang dưới cái vỏ “một lễ vật hy sinh thiêu đốt dâng lên Thiên Chúa,” người ta hoàn전히 có thể quy cho nó một động cơ ít mang tính Do Thái hơn và mang tính Hy Lạp nhiều hơn – một mong muốn duy trì tập quán hỏa táng cũ, dẫu cho nó chỉ tồn tại dưới một hình thức mang tính nghi thức đi nữa. Lại một lần nữa, chúng ta có bằng chứng cho thấy tập quán đốt đèn tại các ngôi mộ của người chết vẫn thường xuyên được tuân theo vì một mục đích phi Cơ đốc giáo nào đó; vì Hội đồng Eliberis đã thấy phù hợp khi ban lệnh cấm đoán nó dưới hình thức đe dọa rút phép thông công. Mục đích phi Cơ đốc giáo này sẽ tự giải thích dưới ánh sáng của một số tập quán hiện đại.
Có một tập quán rất nổi tiếng ở Hy Lạp Hiện đại bao gồm việc duy trì thứ gọi là “chiếc đèn không bao giờ tắt” (τὸ ἀκοίμητο καντῆλι). Một hình dung chung khá rõ về nó có thể được đưa ra bằng cách nói rằng sau một đám tang, một ngọn đèn được giữ cho cháy liên tục hoặc trong căn phòng nơi cái chết đã diễn ra hoặc tại nấm mồ trong khoảng thời gian bốn mươi ngày hoặc ba năm. Sự biến đổi về thời gian và địa điểm này đòi hỏi phải được xem xét. Trong các tập quán cũng như trong những thứ khác, có cách đúng và cách sai; sự đa dạng trong việc tuân thủ không phải là nguyên bản; luôn có một thời điểm thích hợp và một địa điểm thích hợp.
Đầu tiên, đâu mới là địa điểm thích hợp cho tập quán cụ thể này, căn phòng tang lễ hay bên nấm mồ?
Những địa phương mà dạng thức của tập quán này – thứ mà tôi sẽ chứng minh là chính xác trong chi tiết cụ thể này – xuất hiện nổi bật nhất dưới sự quan sát của chính tôi, bao gồm Aráchova, một ngôi làng gần Delphi; Leonídi trên bờ biển phía đông Laconia; một nghĩa trang ở vùng đồng bằng Thriasian thuộc về, theo tôi nhớ, ngôi làng Kalývia; và hòn đảo Aegina. Ở nơi cuối cùng được nhắc đến, người ta sử dụng một chiếc đèn lồng bình thường; nó được đặt ở phần đầu của ngôi mộ, và trong suốt bốn mươi ngày sau đám tang, nó được chăm sóc và trau chuốt cẩn thận đến mức ngọn lửa không hề bị tắt dù chỉ một lần. Tại Aráchova và ở vùng đồng bằng Thriasian, mỗi ngôi mộ đều được trang bị một kiến trúc có khả năng che chở cho một ngọn lửa trần. Một số kiến trúc trông giống như những ngôi nhà búp bê với cửa ra vào và cửa sổ hoàn chỉnh; những cái khác chỉ đơn giản là những chiếc hộp; một số khác nữa chẳng qua chỉ là vài viên ngói hoặc phiến đá phẳng được dựng đứng để tạo thành một hình vuông và được lợp mái bằng cùng một vật liệu đó. Tại Aráchova, những chiếc đèn được chứa trong các kiến trúc này được chăm sóc cả vào buổi chiều lẫn buổi sáng, và nghĩa vụ giữ cho chúng cháy liên tục không đứt quãng trong suốt ba năm, cho đến khi bốc mộ, được cảm nhận sâu sắc và thực hiện một cách cực kỳ chu đáo. Ở vùng đồng bằng Thriasian, ngọn lửa cũng được giữ cho cháy với sự cẩn trọng tương đương, nhưng tôi không chắc chắn về khoảng thời gian. Tại Leonídi, một số nhà che chở cùng loại với những cái đã được mô tả đang được sử dụng; nhưng cũng có những ngôi mộ tinh xảo hơn mà ở phần đầu của chúng, người ta xây một hốc nhỏ nằm bên dưới mực nước của mặt đất hoặc chí ít là bên dưới phiến đá hoặc đá cẩm thạch phủ lên ngôi mộ, và trong chiếc hốc này – được đóng kín bằng một cánh cửa nhỏ cho phép không khí lọt qua các khe hở của nó – người ta đặt “chiếc đèn không bao giờ tắt.” Ở đây một lần nữa, ngọn lửa được giữ cho cháy cho đến khi lễ bốc mộ diễn ra, và các ngọn đèn được châm dầu và trau chuốt vào mỗi buổi chiều tối. Tại Gytheion, một cơ chế không mấy khác biệt, dẫu thô sơ hơn, từng được sử dụng trước đây; trong số một vài ngôi mộ cũ, nay đã bị bỏ hoang, từ đó có vẻ như xương cốt của người chết chưa từng được bốc lên, tôi nhận thấy có vài ngôi mộ được trát bằng một lớp bê tông thô mà trong đó người ta nhúng chìm ở phần đầu ngôi mộ một chiếc bình bằng sắt, giống như một chiếc chảo nước sốt bị cụt tay cầm; chiếc bình này phỏng đoán đã từng phục vụ mục đích che chở cho ngọn lửa.
Đó chính là khía cạnh chính của tập quán này; nhưng các chi tiết sơ khởi cũng đòi hỏi phải được lưu ý. Ngọn lửa dùng để thắp sáng “chiếc đèn không bao giờ tắt” không được phép châm lên tại chỗ bên cạnh ngôi mộ, mà được vận chuyển từ ngôi nhà của người quá cố. Ở đó, nhìn chung, ngay thời điểm cái chết diễn ra hoặc chí ít là ngay khi thi thể được quàn xác, nến hoặc đèn sẽ được thắp sáng và đặt ở phần đầu và phần chân của chiếc cáng nơi thi thể đang nằm nghỉ. Những ngọn đèn này được giữ cho cháy cho đến khi đoàn rước tang sẵn sàng khởi hành, và đi cùng với đoàn rước, hoặc là chính những ngọn đèn đó hoặc những cây nến và đèn cầy khác được thắp sáng từ chúng sẽ được mang đến nấm mồ; và tại đây, chính ngọn lửa từng cháy trong ngôi nhà của người chết sẽ được truyền sang “chiếc đèn không bao giờ tắt” tại nấm mồ.
Tôi tin rằng đây là hình thái chính xác của tập quán, nhưng tôi phải lưu ý đến các biến thể khác và đưa ra lý do tại sao tôi coi chúng kém chuẩn xác hơn. Người ta khẳng định trong một chuyên luận đáng tin cậy về hòn đảo Chios rằng ở đó, người ta giữ cho một ngọn đèn cháy suốt bốn mươi đêm trong căn phòng nơi cái chết đã diễn ra, với suy nghĩ rằng linh hồn lang thang trong bốn mươi đêm trước khi nó đi xuống âm phủ. Cách giải thích được đưa ra rõ ràng ngụ ý rằng chiếc đèn nhằm mục đích soi đường cho linh hồn người chết nếu trong chuỗi những cuộc lang thang ban đêm của nó, nó đến thăm ngôi nhà trước kia của mình.
Bây giờ, chừng nào mà dạng thức Chios của tập quán này được quan tâm, một ý nghĩa tương tự như vậy hoàn toàn có thể được gán cho nó. Nhưng còn dạng thức phổ biến hơn của tập quán – nơi chiếc đèn được giữ cho cháy suốt cả ngày lẫn đêm – thì sao? Một linh hồn không còn thể xác, nếu nó giống như một con người bình thường, có lẽ hoàn toàn có thể cần đến một ngọn nến để nhìn đường vào ban đêm, nhưng chắc chắn nó chẳng cần chút ánh sáng nào vào ban ngày; thế nhưng chỉ có tập quán đốt ngọn lửa suốt cả ngày lẫn đêm cũng như vào ban đêm mới có thể mang lại cho nó danh xưng “chiếc đèn không bao giờ tắt,” chiếc đèn không bao giờ bị dập tắt. Ở đây xuất hiện một khiếm khuyết hữu hình trong cách thức tuân thủ tập quán của người Chios và tương tự là trong cách thức giải thích nó của họ; và một tập quán bị khiếm khuyết và giải thích sai lệch trong một chi tiết quan trọng rất dễ vướng phải sự nghi ngờ ở các chi tiết khác. Do đó, chừng nào mà Chios còn được quan tâm, sẽ chẳng có tầm quan trọng lớn lao nào gắn liền với thực tế rằng căn phòng tang lễ ở đó mới chính là nơi các tàn tích của tập quán được tuân thủ.
Nhưng có những vùng khác của Hy Lạp nơi căn phòng tang lễ là địa điểm dành cho “chiếc đèn không bao giờ tắt,” và nơi chiếc đèn vẫn xứng đáng với danh xưng đó ở chỗ nó được giữ cho cháy cả ngày lẫn đêm cho đến tận ngày thứ tư mươi sau đám tang, chứ không phải được thắp sáng lại vào mỗi đêm như ở Chios. Tại những khu vực như vậy, tôi tin rằng tập quán này từ lâu đã không còn mang bất kỳ ý nghĩa nào nữa, và khi đang trên đà mai một, vì sự tiện lợi nên nó đã trải qua một sự thay đổi. Người ta vẫn cảm thấy có nghĩa vụ phải giữ cho ngọn lửa được thắp lên ngay khi cái chết xảy ra tiếp tục cháy không ngừng nghỉ trong suốt bốn mươi ngày, nhưng công việc chăm sóc nó được nhận thấy là thực hiện ở nhà sẽ thuận tiện hơn là ở nghĩa trang. Sự cần thiết phải truyền ngọn lửa đến nấm mồ, phải giữ nó liên tục ở khoảng cách gần gũi với người chết, không còn được cảm nhận nữa. Dạng thức tập quán này do đó có thể được giải thích như một sự nới lỏng so với dạng thức mà tôi đã đưa ra như dạng thức cổ xưa và chính xác; trong khi mặt khác, nếu căn phòng nơi cái chết xảy ra vốn dĩ từ nguyên thủy là địa điểm thích hợp để duy trì “chiếc đèn không bao giờ tắt,” sẽ là bất khả thi để giải thích cho việc di dời tập quán đến bên nấm mồ – nơi các mái che hoặc vật chứa đặc biệt phải được chế tạo để bảo vệ ngọn lửa và nơi cần nhiều công sức hơn để châm dầu và chăm sóc đèn ngày qua ngày. Aráchova và Leonídi – nơi người ta bỏ ra nhiều công sức nhất trong việc tuân thủ tập quán – và điều đó không chỉ trong bốn mươi ngày mà trong suốt ba năm – có tuyên bố xứng đáng nhất để được coi là những đại diện chân thực cho tập quán cổ xưa. Địa điểm thích hợp nhất cho “chiếc đèn không bao giờ tắt” chính là bên cạnh nấm mồ.
Nhưng như tôi đã nói, cũng có một sự biến đổi về khoảng thời gian mà tập quán này được duy trì ở các địa phương khác nhau. Ở một số nơi đó là khoảng thời gian bốn mươi ngày, ở những nơi khác là khoảng thời gian ba năm; và về mặt này, có một sự phân kỳ giữa các tập quán ngay cả của những nơi mà qua các chi tiết khác đã được chứng minh là tuân thủ trung thành tập quán cổ xưa; bởi vì tại Aráchova và Leonídi, khoảng thời gian dài hơn là tập quán phổ biến, còn ở Aegina là khoảng thời gian ngắn hơn. Chính trong sự biến đổi này, chúng ta tìm thấy một manh mối dẫn đến ý nghĩa và mục đích của tập quán. Ở phần đầu của chương này, tôi đã chứng minh, thông qua việc trích dẫn một bài điếu tang dân gian và thông qua việc xem xét các tập quán khác nhau liên quan đến cái chết, rằng theo niềm tin của dân gian, sự phân rã của một thi thể được hoàn tất vào ngày thứ tư mươi sau khi chôn cất. Mặt khác, Giáo hội một cách thận trọng hơn đã ấn định ba năm là thời gian cần thiết cho sự phân rã, khoảng thời gian bắt buộc phải trôi qua trước khi thi thể có thể được bốc lên. Như vậy, có hai khoảng thời gian được ấn định tương ứng bởi quan điểm dân gian và bởi thẩm quyền của giáo hội, giữa chúng có một sự lựa chọn; vox populi (tiếng nói của nhân dân) và vox Dei (tiếng nói của Thiên Chúa) ở đây không có sự đồng thuận; và tùy thuộc vào việc ưu đãi địa phương dành cho mệnh lệnh này hay mệnh lệnh kia, khoảng thời gian bốn mươi ngày hay ba năm sẽ được tin tưởng ở địa phương đó là khoảng thời gian cần thiết cho sự phân rã của thi thể. Nhưng hai khoảng thời gian này cũng chính là những mốc thời gian diễn ra sự biến đổi cục bộ trong tập quán duy trì “chiếc đèn không bao giờ tắt.” Do đó, có thể suy luận một cách hợp lý rằng “chiếc đèn không bao giờ tắt” có mối liên hệ mật thiết nào đó với quá trình phân rã của thi thể.
Hơn nữa, sự kết nối này thực tế đã được chính những người dân gian công nhận, làm chứng cho điều đó là hai cặp câu thơ sau đây trích từ một khúc điếu tang. Những lời ca được đặt, như thường thấy trong các khúc điếu tang, vào miệng của người chết, kẻ trong trường hợp này được cho là còn trẻ tuổi và đang ngỏ lời với người thiếu phụ tình nhân vô cùng thương khóc của mình.
‘Và khi các linh mục với khúc ca trang nghiêm tiến về nấm mồ cùng với ta,
Em hãy lẻn ra từ bên cạnh mẹ và thắp cho ta ba ngọn đuốc;
Và khi các linh mục dập tắt lại những ngọn đèn ấy cho ta – ồ khi ấy,
Thì, tựa như hơi thở ngọt ngào của những đóa hồng, em lướt qua khỏi tầm mắt ta.’
Những dòng thơ này dựa trên một niềm tin khá phổ biến trong lòng những người nông dân Hy Lạp rằng ý thức về, và sự quan tâm đến, những sự vật của thế giới này không hề bị cắt đứt hoàn toàn tại thời điểm cái chết, mà vẫn tiếp tục ở một mức độ nào đó cho đến khi thể xác của người chết hoàn toàn phân rã. Ở đây, những ký ức về tình yêu được nói đến là kéo dài cho đến khi các linh mục dập tắt những ngọn đèn đang cháy – thứ mà trong văn cảnh này không thể là gì khác ngoài “chiếc đèn không bao giờ tắt” – bởi vì con số ba được đề cập chỉ là một con số có sự linh thiêng kỳ lạ và không mang một sức mạnh đặc biệt nào. Từ đó suy ra rằng hành động dập tắt ngọn đèn được hiểu trong đoạn thơ tượng trưng cho sự hoàn thành của quá trình phân rã ấy – mặc dù nó có nghĩa là sự chấm dứt của mọi sự giao tiếp với thế giới thượng giới này, nhưng vẫn là điều được khao khát tha thiết. Thực tế, đây là những lời văn rõ ràng của thơ ca dân gian công nhận mối liên hệ của “chiếc đèn không bao giờ tắt” với sự phân rã của thể xác, và biến hành động dập tắt ngọn đèn thành biểu tượng cho sự hoàn tất của quá trình kia. Sẽ chỉ là một bước tiến nhỏ nếu cho rằng sự hiện diện của ngọn lửa chiếc đèn tại nấm mồ ban đầu nhằm mục đích thúc đẩy quá trình phân rã – hay nói cách khác, việc duy trì “chiếc đèn không bao giờ tắt” tại nấm mồ cho đến khi thi thể cuối cùng hoàn toàn phân rã chính là một hành động hỏa táng mang tính nghi thức.
Giả thiết này càng trở nên có xác suất cao hơn khi chúng ta so sánh với tập quán của “chiếc đèn không bao giờ tắt” một tập quán khác không kém phần tương tự đang hiện hành ở Zacynthos. Ở đó, cũng như ở những nơi khác, nến hoặc đèn được thắp sáng xung quanh thi thể trong lúc quàn xác và ngọn lửa từ chúng được mang đến nấm mồ. Nhưng khi đến nơi, thay vì thắp sáng “chiếc đèn không bao giờ tắt,” những người khiêng nến lại thả chúng trực tiếp xuống ngôi mộ bên cạnh thi thể. Trong điều này, chúng ta có một sự tương đồng sát sườn với tập quán cổ xưa là đặt một chiếc đèn dầu – hoàn toàn có khả năng là một chiếc đèn được thắp sáng, như tôi đã gợi ý – vào trong ngôi mộ; và đồng thời nó không thể không gắn kết mật thiết với tập quán của “chiếc đèn không bao giờ tắt,” vốn có mục đích mà giờ đây chúng ta biết là liên quan đến sự phân rã của thể xác người chết. Do đó, tôi khẳng định rằng chuỗi các tập quán mà chúng ta vừa điểm qua, thể hiện rõ ràng ý định kết hợp lửa theo một cách thức chặt chẽ nào đó với thi thể được chôn cất và, như trong dạng thức hiện đại của tập quán, kết hợp nó với thi thể đó cho đến khi quá trình phân rã hoàn tất, đều tìm thấy một lời giải thích chung trong sự tiếp nối của một thực tiễn từng được minh họa ở những thời kỳ trước đó: thực tiễn hỏa táng mang tính nghi thức đi kèm với nghi lễ chôn cất trọn vẹn.
Cũng không thể công kích lời giải thích này dựa trên cơ sở rằng một chiếc đèn dầu đơn thuần được thắp sáng gần thi thể lại mang vẻ bề ngoài ít giống với hỏa táng thực sự đến thế. Đối với người quan sát bên ngoài, hành động mang tính nghi thức có thể có vẻ chỉ là một sự nhại lại thuần túy đối với thứ mà nó thay thế; nhưng đối với những người trong cuộc, sự hiện diện của ngọn lửa, dù ở thể tích nhỏ đến đâu đi nữa, có lẽ vẫn có vẻ đủ; bởi vì trong mọi nghi lễ, thứ có giá trị không phải là hành động, mà là ý định. Tôi đã từng chỉ ra việc chôn cất đôi khi bị giản lược đến một mức độ tối thiểu không kém phần kém hiệu quả như thế nào; nhưng tôi có lẽ có thể viện dẫn một sự tương đồng thậm chí còn sát sườn hơn – một trường hợp khác trong đó một chiếc đèn được cho là đã làm thay công việc của một ngọn lửa thực sự. Thời cổ đại từng có một tập quán, được nhắc đến bởi một số nhà văn cổ đại, là giữ cho một ngọn đèn cháy cả ngày lẫn đêm tại Prytaneum hoặc trong ngôi đền chính của một thành phố Hy Lạp; và cả Athens lẫn Tarentum đều được cho là đã có những chiếc đèn được chế tạo sao cho chúng có thể chứa một lượng dầu đủ để cháy suốt cả một năm. Những chiếc đèn như vậy, đã có người gợi ý, đại diện cho ngọn lửa trên lò sưởi của thành phố vốn không được phép để tắt. Mục đích của chiếc đèn rõ ràng không phải để cung cấp ánh sáng – bởi vì khi đó nó chẳng cần phải được giữ cho cháy vào ban ngày cũng như ban đêm – mà nó là một thiết bị tiết kiệm sức lao động nhằm giữ cho ngọn lửa thiêng luôn cháy mãi. Ngọn lửa nhỏ thực chất là một ngọn lửa mang tính nguyên thủy. Do đó, tất cả những gì tôi đang giả thiết là một chiếc đèn hoàn toàn có thể đại diện cho một ngọn lửa thực sự tại lăng mộ cũng giống như tại Prytaneum.
Lúc này, nếu lời giải thích của tôi về tập quán hiện đại là chính xác, thì thực tế rằng người dân gian, mặc dù trong nhiều thế kỷ đã sử dụng địa táng như một nghi lễ Cơ đốc giáo thông thường, vẫn bám lấy một hình thức hỏa táng mang tính nghi thức mà họ vẫn liên kết theo một cách nào đó với quá trình phân rã của thi thể được chôn cất, chính là bằng chứng bổ sung cho sự ưu ái mà phương pháp nhanh hơn và chắc chắn hơn từng nhận được trong quá khứ, và có lẽ ở đâu đó vẫn còn được đối xử như vậy.
Vì thế, việc nghiên cứu phong tục tang lễ thông thường đã củng cố thêm các kết luận được rút ra trong các chương trước từ việc nghiên cứu một trạng thái bất thường nhất định của sự tồn tại sau khi chết. Giống như việc thể xác không phân hủy là tai họa lớn nhất đối với người chết, sự tiêu rã chính là ân huệ vĩ đại nhất mà người sống có thể ban cho họ. Sự tiêu rã này sẽ được thực hiện bằng một trong hai phương pháp, hỏa táng và địa táng, vốn trên lý thuyết là các lựa chọn thay thế nhưng trong thực tế thường xuyên được kết hợp với nhau. Sự kết hợp của chúng thoạt đầu là do việc dung hợp hai chủng tộc mà chúng vốn thuộc về; nhưng trong các thời kỳ sau đó, sự khác biệt chủng tộc giữa hai nghi lễ đã bị xóa nhòa, và chúng được đánh giá dựa trên những giá trị tự thân của chính mình, với kết quả là sự ưu ái dành cho hỏa táng đã tự biểu hiện trong phong tục tang lễ. Sự ưu ái này bắt nguồn từ sự thừa nhận rằng hỏa táng là một phương pháp tiêu rã nhanh chóng và chắc chắn hơn, đồng thời tự bản thân nó là một minh chứng mạnh mẽ cho mong muốn thực hiện sự tiêu rã. Mục đích mà cả hai nghi lễ hướng tới đều giống nhau, nhưng vì phương pháp này dẫn đến mục đích đó nhanh hơn và chắc chắn hơn phương pháp kia, nên nó đã được ưu ái một cách đúng đắn.
Hơn thế nữa, động cơ thúc đẩy người sống thực hiện quá trình tiêu rã người chết nhìn chung không hề mang tính ích kỷ; bởi vì sự tiêu rã, như chúng ta đã thấy, là một ân huệ đối với người chết. Sự cắt đứt hoàn toàn khỏi thế giới này, đi kèm với sự tiêu rã của thể xác, theo một cách nào đó mang lại lợi ích cho người chết. Patroclus đã tìm kiếm điều đó, và Achilles đã chấp thuận thỉnh cầu của ông vì tình yêu thương; và khoảng ba nghìn năm sau, những người dân Parga lại tiến hành sự tiêu rã nhanh chóng đối với thân nhân của họ với cùng một động cơ như vậy. Chỉ trong một tập hợp các hoàn cảnh duy nhất, động cơ ích kỷ của nỗi sợ hãi mới hoạt động, cụ thể là nơi những người chết hồi sinh, dưới ảnh hưởng của sự mê tín Slav, được khoác lên mình đặc tính của những con quái vật khát máu độc ác – những kẻ mà việc tự vệ chống lại chúng là điều cấp bách, và việc cắt đứt hoàn toàn của chúng khỏi thế giới này là điều đáng mong ước như một biện pháp bảo vệ cho người sống. Nhưng những hoàn cảnh như vậy chỉ là ngoại lệ. Quy luật là cả hỏa táng và địa táng đều là phương tiện hướng tới sự tiêu rã của người chết và sự cắt đứt hoàn toàn của họ khỏi thế giới này, và động cơ thúc đẩy những con người đang sống tìm kiếm mục đích đó chính là tình yêu thương dành cho người chết – những người theo một cách nào đó sẽ nhận được ân huệ từ điều đó.